Chương 9: Linh Cảm Của Người Lính

Mùi khói xăng khét lẹt xộc thẳng vào cánh mũi khiến Tuấn lập tức siết chặt quai chiếc xô tôn trên tay.

Hai chiếc xe máy Simson màu đỏ đun và xanh rêu rú ga điên cuồng, bánh sau trượt ngoằn ngoèo trên mặt đường nhựa loang lổ bùn đất rồi đột ngột phanh cháy vỉa hè ngay trước con ngõ. Động cơ hai thì nổ lạch tạch từng hồi chát chúa, phả ra những cuộn khói xanh mờ mịt bao trùm cả khoảng không gian ẩm ướt cữ sáng. Trên xe, bốn gã thanh niên choắt người nhưng ngổ ngáo, tóc tai để dài bờm xờm quá gáy, khoác những chiếc áo bạt lính dù bạc phếch hoặc áo khoác giả da đã nổ từng mảng.

Một tên ngồi sau nhảy phắt xuống đất, gót giày đế kếp nện huỳnh huỵch xuống nền gạch vỡ. Gã trạc ngoài hai mươi, mặt choắt như khỉ đột, khóe môi nhếch lên để lộ hàm răng ám khói thuốc lào đen sì. Ánh mắt gã lướt qua nồi nước dùng đang bốc khói nghi ngút, rồi dừng trừng trừng trên thân hình mảnh dẻ của Cúc.

“Chà chà, góc ngõ này nay có hoa khôi đứng bán hàng cơ đấy!” Gã cất giọng khàn đặc, ngả ngớn huýt sáo một tiếng dài. “Này em gái góa, phở có ngon ngọt được bằng người không? Bán cho các anh mấy bát bồi dưỡng xem nào, hay là chỉ giỏi đãi đằng mấy lão già khố rách áo ôm?”

Tên cầm lái rồ mạnh tay ga, chiếc bô xe nổ đoàng một tiếng như pháo cối làm bé Mây giật bắn mình, òa lên khóc nấc rồi rụt đầu rúc chặt vào vạt áo chần bông của mẹ. Cúc run bắn, sắc mặt thoắt cái trắng bệch không còn một giọt máu. Đôi bàn tay đang cầm chiếc muôi múc nước khẽ run rẩy, nhưng cô vẫn gượng đứng chắn phía trước chiếc thúng đựng bánh, ánh mắt vừa kinh hoảng vừa đầy vẻ che chở cho con gái.

Từ phía góc quán nước chè, bà Nhẫn vội buông thanh đóm hút thuốc, hai bầu má nhăn nheo giật giật vì giận dữ “Mấy cái thằng mất dạy kia! Ban ngày ban mặt đi trêu ghẹo đàn bà con gái, chúng mày không sợ quả báo xé họng à?”

“Bà già ngậm miệng lại!” Tên mặt choắt ngoảnh lại nhe nanh, giọng hằn học. “Đất này là đất chợ, chưa biết ai xé họng ai đâu!”

Vừa dứt lời, gã nghênh ngang tiến thêm hai bước, đưa bàn tay cáu bẩn toan với lấy chiếc quai thùng gỗ đựng bát đĩa.

Chưa kịp chạm vào thành gỗ, một bóng người cao lớn đã sừng sững chắn ngang trước mặt gã như bức tường thành bằng đá hộc.

Tuấn đặt chiếc xô tôn xuống cạnh chân với một tiếng cạch đanh gọn. Anh không nói một lời, hai vai mở rộng, lưng thẳng tắp, đôi mắt sâu hoắm ghim chặt vào đồng tử của tên du côn. Bàn tay phải của anh buông thõng bên hông nhưng những khớp xương thô ráp đã siết chặt lại thành một khối cứng như sắt nguội. Từng thớ cơ trên cánh tay ngăm đen cuộn lên dưới lớp áo trấn thủ sờn chỉ. Đó là tư thế nghênh chiến quen thuộc của một người lính từng bao năm đối mặt với cái chết nơi chiến hào, lặng lẽ mà toát ra luồng sát khí lạnh buốt xương tủy.

Tên mặt choắt khựng lại giữa chừng. Ở khoảng cách chỉ chừng hai gang tay, ánh nhìn sắc lạnh cùng tư thế sừng sững của Tuấn dường như đã dội một gáo nước lạnh vào vẻ hung hăng của tên du côn. Nụ cười cợt nhả trên mặt gã sượng lại, ánh mắt thoáng vẻ bối rối rồi vô thức lùi lại nửa bước.

“Mày... mày là thằng nào?” Gã cố gằn giọng để che giấu sự lúng túng, mắt đảo qua vết khập khiễng nơi chân phải của Tuấn. “Thằng thọt này ở đâu ra mà dám xía vào chuyện của bọn tao?”

Tuấn vẫn đứng im, giọng nói trầm thấp phát ra từ lồng ngực rắn rỏi, gằn từng tiếng rõ mồn một “Gánh hàng đang buôn bán lương thiện. Muốn ăn thì xếp hàng trả tiền, còn muốn gây sự thì bước qua chỗ này.”

Tiếng nói không hề gắt gỏng nhưng nặng tựa ngàn cân, khiến hai tên còn ngồi trên xe máy Simson cũng phải nheo mắt nhìn lại. Một tên cầm lái trạc tuổi Tuấn hơn, trên trán có vết sẹo dài lấp dưới vành mũ nồi, khẽ lắc đầu ra hiệu. Giữa ban ngày, người qua lại ngõ Hàng Khoai bắt đầu túm tụm đứng nhìn, xì xào chỉ trỏ.

Tên mặt choắt nuốt nước bọt ực một cái, cố vớt vát thể diện bằng cách nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh nước cạnh chân Tuấn, cười khẩy “Được, mày có gan đấy thằng lính kiểng! Cứ đợi đấy, rồi xem cái gánh phở này cắm dùi ở đây được mấy bữa!”

Nói đoạn, gã lùi lại nhảy tót lên đuôi xe. Hai chiếc Simson rú ga ầm ĩ, bánh xe quay tít bắn tung bùn nước bẩn thỉu lên góc tường gạch rêu phong rồi phóng vút ra lòng đường Hàng Khoai, lẩn nhanh vào dòng người xuôi ngược phía cổng chợ Đồng Xuân.

Mùi khói xăng ngột ngạt dần tan theo làn gió bấc buốt giá, trả lại không gian tĩnh lặng cho góc ngõ. Bé Mây vẫn chưa hết sợ, hai cánh tay nhỏ ôm ghì lấy cổ Cúc thút thít. Cúc ngồi sụp xuống mép thềm gạch, hơi thở đứt quãng, bờ môi mím chặt run run.

Tuấn quay người lại, nhìn sắc mặt nhợt nhạt của hai mẹ con, ngực anh chợt quặn thắt. Anh cúi xuống, nhặt chiếc khăn lau bàn bị gió thổi rơi dưới đất, vỗ nhẹ bụi bẩn rồi nói bằng giọng thật êm “Bọn chúng đi rồi, cô Cúc đừng sợ nữa. Cháu Mây ngoan nào, có chú Tuấn ở đây, không ai dám bắt nạt cháu đâu.”

Cúc ngước lên, đôi mắt bồ câu ầng ậng nước nhìn thẳng vào gương mặt vuông vức sạm đen vì sương gió của người lính. Trong đáy mắt cô vừa có sự bàng hoàng sau cơn kinh động, vừa dâng trào niềm cảm kích khôn nguôi “May... may mà có anh đứng ra. Nếu không thì nồi nước dùng của cha tôi...”

“Cô đừng nói thế,” Tuấn ngắt lời, ánh mắt đầy vẻ kiên quyết. “Đây là trách nhiệm của tôi. Tôi đã nhận lời đỡ đần cô thì dứt khoát không để kẻ xấu làm càn.”

Bà Nhẫn từ quán nước bước sang, tay cầm theo bát nước chè tươi còn bốc khói đưa cho Cúc “Uống ngụm nước ấm cho lại hồn đi con gái. Mẹ bố chúng nó, toàn một lũ ong ve ranh con! Nhưng mà Tuấn này...” Bà Nhẫn hạ giọng, mắt liếc ra phía đầu ngõ đầy vẻ e ngại: “Mấy thằng ranh vừa rồi không phải hạng đầu đường xó chợ tầm thường đâu. U nhìn cái thằng sẹo trán ngồi xe sau quen mắt lắm. Hình như là tay chân của thằng Hải ‘Búa’ dưới bến sông đấy.”

Tuấn khẽ gật đầu, ánh mắt anh trầm lại. Cái tên Hải “Búa” đã được nhắc đến từ hôm qua, nhưng phải đến tận mắt chứng kiến những hành vi khiêu khích trắng trợn vừa rồi, linh cảm của một người lính trinh sát trong anh mới thực sự bừng tỉnh.

Buổi bán hàng hôm đó vẫn tiếp diễn nhưng bầu không khí không còn rôm rả như mọi sớm. Khách ghé ăn vẫn đông, nhưng Tuấn không còn chỉ chăm chú vào việc tráng bát hay bưng bê. Từng giác quan của anh được kéo căng như dây cung. Mọi tiếng nẹt pô ngoài ngã tư, từng ánh mắt lạ lướt qua ngõ, bóng dáng kẻ đứng dừng xe ngó nghiêng bên kia đường đều bị anh thu trọn vào tầm mắt.

Đến hơn tám giờ sáng, khi lượng khách thưa dần, chỉ còn lại vài bác phu xe kéo và dân bốc vác ghé vào ăn bát phở chín nhiều bánh. Trong số đó có bác Thược – một người bốc vác có thâm niên ngoài năm mươi tuổi ở bến Long Biên, người từng được Cúc hào phóng múc thêm cho nửa muôi nước béo và đĩa đầu hành chần hôm nọ.

Tuấn lẳng lặng bưng bát phở nóng hổi đặt trước mặt bác Thược, nhân tiện ngồi xuống chiếc bục gỗ đối diện, khẽ cất lời bắt chuyện “Bác Thược xơi nóng cho ấm bụng. Dạo này ngoài bến tàu hàng hóa về nhiều không bác?”

Bác Thược cầm đôi đũa tre so đi so lại, húp một ngụm nước dùng đậm đà rồi xuýt xoa “Gần Tết rồi chú em ạ, hàng nông sản từ mạn ngược về nhiều, than củi dưới phà lên cũng lắm. Làm quần quật từ nửa đêm mà chẳng hết việc. Nhưng mà vừa rồi ngồi đằng quán nước nghe bà Nhẫn kể chuyện mấy chiếc Simson lượn lờ thị uy, tôi thấy lo cho mẹ con cô Cúc quá.”

Tuấn chớp lấy cơ hội, hạ thấp giọng hỏi dò “Bác lăn lộn ở khu bến bãi này lâu năm, chắc rành mặt đám đó. Có phải người của gã Hải ‘Búa’ không bác?”

Bác Thược nhìn dáo dác quanh ngõ một lượt rồi mới cúi sát đầu lại, thì thào “Đích thị là quân của thằng Hải sẹo! Thằng ấy trước kia đi tù về tội chém người, giờ tụ tập một lũ lâu la chiếm cứ mấy bãi hàng đầu cầu với mé chợ hoa quả. Ai muốn bốc vác, buôn thúng bán mẹt ở khu vực này đều phải nộp tiền xâu cho nó, từ năm trăm đến một nghìn đồng mỗi sáng, đứa nào dám cãi là nó cho ăn đòn no đòn nhừ.”

Tuấn nhíu mày “Thế còn tiệm phở Vạn Lộc bên kia ngã tư thì sao hả bác? Tôi thấy quán ấy mặt tiền to, khách khứa ra vào không ít, liệu có liên quan gì đến bọn chúng không?”

Bác Thược cười gằn một tiếng, giọng đầy khinh bỉ “Liên quan quá đi chứ! Lão Tài chủ quán Vạn Lộc ấy ngày xưa làm mậu dịch viên cửa hàng ăn uống quốc doanh, thói quen cửa quyền, hách dịch ngấm vào tận tủy rồi. Nay bung ra làm tư nhân, lão cậy có tiền nên bao bọc cho thằng Hải ‘Búa’. Thằng Hải gọi lão Tài là chú họ, hai bên cấu kết với nhau như đỉa đói với vũng máu. Lão Tài dùng tiền nuôi đám du côn, còn đám du côn thì đứng ra dằn mặt, chèn ép không cho bất cứ hàng quán nào được mở gần khu vực ngã tư này để lão độc quyền chém đẹp khách vãng lai. Mấy hôm nay gánh phở của cô Cúc nấu ngon, khách bên lão kéo sang đây nườm nượp, làm sao lão chịu để yên được!”

Từng lời nói của bác Thược như những mảnh ghép hoàn chỉnh khớp vào những suy đoán trước đó của Tuấn. Không phải là sự trêu ghẹo vô thưởng vô phạt, cũng chẳng phải chuyện va quẹt ngẫu nhiên. Đây là một mưu đồ có tổ chức, bắt đầu bằng việc dò la nguồn hàng không thành, nay chuyển sang dùng vũ lực để uy h**p tinh thần, ép mẹ con Cúc phải dẹp gánh tự rút lui.

“Cảm ơn bác đã nói thật cho tôi biết,” Tuấn nói, giọng bình thản nhưng ánh mắt sắc lại như dao cau.

Bác Thược ái ngại nhìn Tuấn, thở dài “Chú em là lính phục viên, trông vạm vỡ thế này nhưng thân cô thế cô, lại mang thương tật ở chân, làm sao chống lại cả một lũ lưu manh hung hãn có dao có búa? Liệu mà khuyên cô Cúc chuyển gánh đi nơi khác bán, kiếm chỗ nào khuất mắt chúng nó ra mà mưu sinh, tránh voi chẳng xấu mặt nào chú ạ.”

Tuấn khẽ mỉm cười, cảm ơn lòng tốt của người phu già nhưng không đáp lại lời khuyên ấy.

Tránh voi ư? Người lính một khi đã nhận lãnh nhiệm vụ bảo vệ cứ điểm thì phía sau lưng là đồng đội, là hậu phương, làm gì có con đường nào để thoái lui. Mẹ con Cúc đã phải trải qua bao nhiêu cay đắng tủi nhục, dốc hết những đồng vốn còm cõi cuối cùng để thắp lại ngọn lửa phở gia truyền của người cha đã khuất. Nếu bây giờ vì vài lời hăm dọa của lũ lưu manh mà phải cuốn gói bỏ chạy, thì chẳng những mất đi kế sinh nhai duy nhất, mà lòng tự trọng của một con người lương thiện cũng sẽ bị giẫm đạp tan nát.

Sau khi phụ Cúc dọn dẹp bát đĩa, gánh đôi thùng hàng không về gian buồng trọ tạm bợ gần bốt nước Hàng Đậu, Tuấn không về phòng mình nghỉ ngơi ngay như mọi bận.

Anh lặng lẽ quay trở lại khu vực phố Hàng Khoai.

Với bản năng tác chiến đã ăn sâu vào máu thịt suốt những năm tháng làm lính công binh và trinh sát ở chiến trường Vị Xuyên, Tuấn bước đi chầm chậm, quan sát từng ngóc ngách của địa hình. Anh đi từ góc hiên quán nước bà Nhẫn, đo đạc cẩn thận từng khoảng cách bằng mắt. Con ngõ này hẹp chừng hai mét rưỡi, hai bên là tường gạch đặc của những ngôi nhà cổ thời Pháp, rêu bám trơn trượt. Nếu xảy ra va chạm trực diện, góc hiên của bà Nhẫn chính là thế cờ hiểm: một bên bị chặn bởi gốc bàng già và bể nước mưa, chỉ có hai lối thoát duy nhất.Lối thứ nhất đâm thẳng ra mặt đường Hàng Khoai – nơi có thể bị đối phương chặn đầu bằng xe máy hoặc số đông.

Lối thứ hai ngoằn ngoèo rẽ vào ngách sâu, thông qua một dãy nhà tập thể cũ kỹ để thoát ra mạn phố Hàng Lược và dốc Hàng Đậu. Tuấn men theo lối ngách này, kiểm tra từng bậu cửa, từng đống gạch vỡ và những khoảng đất trống có thể tận dụng làm điểm ẩn nấp cho Cúc và bé Mây nếu tình huống xấu nhất ập đến. Anh ghi nhớ từng chi tiết nhỏ: chỗ nào rãnh cống bị sụt nắp, chỗ nào dây phơi quần áo giăng thấp ngang ngực người lớn, khúc ngoặt nào đủ hẹp để một người có thể chặn đứng ba bốn kẻ truy đuổi.

Chuẩn bị cho một trận đánh không bao giờ là thừa, dù đó chỉ là một trận chiến giữ lấy góc vỉa hè mưu sinh.

Buổi trưa, Tuấn trở về gian chái củi ẩm thấp của mình. Căn phòng rộng chưa đầy mười mét vuông sực mùi vôi mốc và tro than. Trên chiếc chõng tre ọp ẹp, anh lôi từ gầm giường ra một khúc tre đực già mà anh nhặt được từ đống gỗ phế liệu cạnh xưởng mộc bến sông mấy hôm trước.

Đó là một đoạn tre đực thân dày cộm, đặc ruột gần như không có ruột xốp, đốt ngắn và cứng tựa sắt nguội. Tuấn rút chiếc dao nhíp quân dụng đa năng sáng loáng – kỷ vật duy nhất còn nguyên vẹn sau ngày rời quân ngũ – cẩn thận ngồi gọt từng mấu tre sắc nhọn.

Anh không tạo ra một thứ vũ khí sát thương lộ liễu có thể khiến cơ quan chức năng nghi ngại. Tuấn chỉ tỉ mẩn đẽo gọt hai đầu sao cho vừa vặn để có thể dùng làm một chiếc đòn gánh phụ, hoặc một chiếc gậy chống khi cần thiết. Anh vót nhẵn bóng từng thớ cật tre, chuốt tròn các góc cạnh để khi cầm vào lòng bàn tay tạo độ bám chắc chắn, không bị trơn tuột kể cả khi ướt đẫm mồ hôi. Trọng lượng khúc tre đực đầm tay, độ đàn hồi cực tốt, khi vung lên xé gió nghe vun vút.

Một đòn gánh để chở che gánh phở. Một thanh tre để giữ trọn bình yên.

Cả buổi chiều, Tuấn dùng một mảnh giấy ráp mịn đánh bóng bề mặt thanh tre cho đến khi nó ánh lên màu vàng ngà óng ả. Xong xuôi, anh dựng chiếc đòn tre vào góc tường cạnh ba lô con cóc, khẽ thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.

Trời nhá nhem tối, gió mùa đông bắc lại bắt đầu thổi từng cơn rát mặt qua khe liếp cửa sổ. Cái rét ngọt cuối năm dường như luồn lách qua từng kẽ gạch, ngấm sâu vào khớp xương khiến bắp chân phải của Tuấn nhức buốt âm ỉ. Mảnh đạn cối năm xưa lại cựa mình nhắc nhở về sự hiện diện của chiến tranh.

Bỗng có tiếng gõ cửa khẽ khàng ngoài bậu liếp.

“Anh Tuấn ơi, anh có trong nhà không?”

Tiếng gọi dịu dàng, quen thuộc làm Tuấn giật mình. Anh vội vã đứng dậy, bước khập khiễng ra mở then cài.

Dưới ánh sáng mờ đục của buổi hoàng hôn nơi ngõ hẻm, Cúc đang đứng đó. Cô mặc chiếc áo khoác trần bông màu mận chín cũ kỹ nhưng sạch sẽ, mái tóc đen nhánh được vấn gọn ghẽ sau gáy, hai má ửng hồng vì gió lạnh. Trên tay cô ôm một bọc vải nhỏ bọc giấy báo cẩn thận.

“Cô Cúc? Sao giờ này cô còn qua đây? Gió rét thế này, sao không ở nhà ủ ấm cho cháu Mây?” Tuấn ngạc nhiên, giọng đầy vẻ lo lắng.

Cúc khẽ mỉm cười, đôi mắt rụt rè nhìn vào gian chái củi đơn sơ của anh “Bé Mây ăn cháo xong đã ngủ say rồi anh ạ. Tôi... tôi mang cái này sang biếu anh.”

Nói rồi, Cúc ngập ngừng mở lớp giấy báo, để lộ ra một chiếc khăn len đan tay màu ghi xám dày dặn, những đường đan hình vặn thừng đều tăm tắp và mềm mại.

“Mấy hôm nay trời trở rét đậm, tôi thấy anh đi sớm về muộn mà chỉ phong phanh manh áo trấn thủ, cổ lại để trống. Tôi... tôi dỡ mớ len cũ của chiếc áo len ngày trước, giặt sạch phơi khô rồi tranh thủ lúc đêm khuya đan cho anh chiếc khăn này. Len cũ thôi, màu cũng giản dị, không biết anh có chê không...”

Tuấn sững sờ nhìn chiếc khăn len nằm gọn ghẽ trong đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết nứt nẻ vì nước lạnh của người phụ nữ.

Trái tim người lính vốn chai sạn qua bom đạn bỗng chốc rung lên một nhịp đập thổn thức lạ kỳ. Từ ngày xuất ngũ, bơ vơ giữa thủ đô xa lạ, anh đã quen với sự ghẻ lạnh của người đời, quen với những cơn đau buốt đơn độc trong đêm tối. Chưa từng có ai để ý xem cổ anh có lạnh không, lưng anh có buốt không khi gió mùa tràn về.

Anh run run đưa hai bàn tay thô ráp đón lấy chiếc khăn. Mùi xà phòng thơm dịu nhẹ thoang thoảng bốc lên từ từng sợi len ấm áp.

“Cô Cúc... tôi... tôi cảm ơn cô nhiều lắm. Đẹp và ấm lắm, tôi làm sao mà chê được.” Tuấn lúng túng, giọng anh khàn đi vì xúc động.

Cúc nhìn vẻ bối rối mộc mạc của Tuấn, khóe mắt cong lên một nụ cười hiền hậu, ánh mắt đong đầy sự chân thành “Anh đừng khách sáo. So với những gì anh đã giúp mẹ con tôi suốt mấy ngày qua, chiếc khăn này chẳng đáng là bao. Sáng nay nếu không có anh đứng ra chắn cho, tôi thật không biết mẹ con tôi phải làm sao nữa... Thôi, trời buốt lắm, anh vào nhà đóng kín cửa kẻo trúng gió. Sáng mai ba giờ rưỡi anh hẵng sang nhé, không cần sang sớm quá đâu.”

“Vâng, cô về cẩn thận kẻo ngã,” Tuấn khẽ dặn dò.

Anh đứng tựa cửa, dõi mắt nhìn theo bóng dáng mảnh mai của Cúc thoăn thoắt đi về phía dãy nhà trọ cuối ngõ cho đến khi khuất hẳn sau rèm mưa bụi mờ ảo.

Khép cánh cửa gỗ lại, Tuấn cẩn thận quàng chiếc khăn len màu ghi xám lên cổ. Hơi ấm lập tức lan tỏa, mềm mại ôm lấy gáy và lồng ngực anh, xua đi toàn bộ cái buốt giá đang bủa vây gian phòng nhỏ. Anh ngồi xuống mép chõng tre, đưa tay chạm nhẹ vào từng mối đan tỉ mỉ, trong lòng dâng lên một cảm giác bình yên đến nghẹn ngào. Đã từ rất lâu rồi, anh mới lại cảm nhận được hơi ấm của sự quan tâm gia đình mộc mạc đến thế.

Đêm mùa đông Hà Nội buông xuống sâu thẳm và quánh đặc. Gió bấc rít từng hồi qua mái fibro xi măng kêu răng rắc.

Tuấn nằm co mình dưới tấm chăn chiên xám, nhưng giấc ngủ chẳng thể đến một cách dễ dàng. Tiếng gió gầm ngoài khe cửa dần biến đổi trong tiềm thức chập chờn của anh, biến thành tiếng rít xé gió của những quả đạn pháo cối từ bên kia biên giới dội xuống sườn đồi Yên Ngựa.

Mặt đất rung chuyển dữ dội. Bụi đất đỏ và khói thuốc súng khét lẹt trùm kín công sự.

“Tuấn ơi! Cứu tao với... Đau quá Tuấn ơi!”

Tiếng thét xé lòng của Kiên vang lên bên tai. Tuấn thấy mình đang điên cuồng bò qua chiến hào sụt lở, hai bàn tay đẫm máu ôm lấy thân thể dập nát của người đồng đội hai mươi tuổi. Đôi mắt Kiên trợn trừng, bàn tay run rẩy bấu chặt vào ngực áo Tuấn, trút hơi thở cuối cùng giữa làn mưa đạn mịt mù“Tuấn... tao thèm... thèm bát phở Hàng Khoai quá...”

“Kiên! Kiên ơi!”

Tuấn giật mình bật dậy, miệng hét lên thất thanh. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán và lưng áo. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi cuống họng.

Anh th* d*c, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào bóng tối mịt mùng của gian chái củi. Không có bom đạn, không có chiến hào đẫm máu. Chỉ có tiếng thằn lằn chép miệng trên vách nứa và tiếng đồng hồ tích tắc xa xăm. Cơn ác mộng ám ảnh suốt bao năm qua lại một lần nữa kéo anh về với nỗi đau xé ruột nơi chiến trường xưa.

Cơn đau thắt nơi bắp chân phải lại trồi lên, giật từng cơn theo nhịp mạch máu. Tuấn đưa tay ôm lấy bắp chân, đầu ngón tay vô tình chạm phải dải len mềm mại đang quấn quanh cổ mình.

Chiếc khăn len của Cúc.

Cảm giác ấm áp và êm dịu từ từng sợi len dường như có một sức mạnh kỳ diệu. Nó như dòng nước mát lành tưới lên vết thương đang rỉ máu trong tâm hồn người cựu binh, xoa dịu đi sự hoảng loạn tột cùng vừa quét qua. Hơi ấm ấy kéo anh trở về thực tại – nơi có một góc ngõ nhỏ rực ánh than hồng, có một người phụ nữ tần tảo với đôi mắt bồ câu đượm buồn, và một đứa trẻ thơ ngây đang ôm chú chim sẻ gỗ chìm trong giấc ngủ bình yên.

Tuấn khẽ v**t v* chiếc khăn len, rồi đưa mắt nhìn sang góc phòng.

Dưới ánh sáng nhờ nhờ hắt qua khe cửa, chiếc đòn tre đực già vừa vót nhẵn đứng sừng sững bên cạnh ba lô con cóc, vững chãi và kiên định.

Nỗi sợ hãi và mặc cảm tật nguyền trong anh tan biến, nhường chỗ cho một ý chí sắt đá đang cuồn cuộn dâng trào trong huyết quản. Ở Vị Xuyên, anh đã không thể giữ được mạng sống cho Kiên trước họng súng quân thù. Đó là nỗi day dứt cả đời anh phải mang theo. Nhưng ở mảnh đất Hà Nội thời bình này, bên cạnh gánh phở nhỏ bé chứa chan ước nguyện của người đã khuất, anh tuyệt đối sẽ không để bất kỳ kẻ hung tàn nào cướp đi sự sống và nụ cười của mẹ con Cúc.

Bằng bất cứ giá nào, kể cả phải đổ máu hay đánh đổi tính mạng, anh cũng sẽ che chở cho hai mẹ con đến cùng.

Ba giờ sáng.

Tiếng chuông từ tháp giáo đường phía xa ngân nga ba hồi trầm đục xuyên qua màn sương mù đặc quánh.

Tuấn trở dậy, gấp gọn tấm chăn chiên, quấn chặt chiếc khăn len màu ghi xám quanh cổ rồi khoác chiếc áo trấn thủ trần bông. Anh cầm lấy chiếc đòn tre đực già, bước những bước chân chắc nịch qua bực cửa, hòa mình vào màn đêm buốt giá để hướng về phía dãy nhà trọ của Cúc.

Công việc nhóm bếp, hầm xương và gánh hàng diễn ra trong sự khẩn trương và nhịp nhàng quen thuộc. Hơn một yến xương ống ninh từ đêm qua đã nhả trọn vị ngọt tủy đậm đà, nước dùng trong vắt ánh lên màu mỡ gà tự nhiên. Hương thơm ngào ngạt của quế chi, thảo quả nướng quyện cùng gừng già bốc lên nghi ngút làm ấm cả một góc ngõ khi đôi thùng hàng được đặt ngay ngắn xuống hiên quán bà Nhẫn.

Bé Mây được mẹ bế ngồi trên chiếc chõng tre của bà Nhẫn, tay vẫn nắm chặt chú chim sẻ gỗ, hai mắt lim dim nhìn ngọn lửa than đỏ rực dưới đáy nồi.

Trời bắt đầu chuyển dần từ đêm đen sang màu nhờ nhờ của cữ rạng đông. Phố Hàng Khoai vẫn còn chìm trong giấc ngủ chập chờn, chỉ thi thoảng có tiếng xe đạp lách cách của những người đi chợ sớm.

Đúng lúc trời vừa mờ sáng, nồi nước dùng vừa sôi lăn tăn thì tiếng quát tháo hung hãn cùng tiếng bước chân rầm rộ bỗng ập thẳng vào góc hàng của họ.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.