Chương 6: Bát Phở Nóng Nối Hai Cuộc Đời
Hơi nước mát lạnh từ chiếc khăn bông thấm đẫm nước lạnh dần làm dịu đi cảm giác đau nhức buốt nhói nơi mắt cá chân của Cúc. Cúi nhìn bàn tay to bè, thô ráp với những vết chai dày nơi kẽ ngón của người lính phục viên đang cẩn trọng giữ mép khăn trên làn da mình, lồng ngực Cúc khẽ thắt lại. Một cảm giác bối rối xen lẫn niềm biết ơn sâu sắc khiến gò má cô nóng bừng giữa cữ rét căm căm. Suốt hai năm trời đằng đẵng kể từ ngày chồng mất dưới đống giàn giáo đổ nát, cô đã quen oằn mình gánh chịu mọi nhọc nhằn, quen nuốt nước mắt vào trong mỗi bận trở trời đau ốm. Chưa từng có một ai, ngoài người cha quá cố, lại nâng niu đôi bàn chân chai sần vì lặn lội mưu sinh của cô bằng tất cả sự mực thước và trân trọng đến thế.
Dưới đáy nồi tôn gò, ngọn lửa than tổ ong sau khi được Tuấn khéo léo thông đáy, kê gạch tạo rãnh gió đối lưu đang bùng lên mạnh mẽ. Ánh lửa cam hồng rực rỡ xuyên qua từng lỗ thông hơi, hắt lên vách tường gạch rêu phong những vệt sáng nhảy múa, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo quánh đặc của màn đêm buông dầy nơi góc phố Hàng Khoai.
“Lửa đượm lắm rồi, cô Cúc yên tâm nhé,” Tuấn khẽ ngẩng lên, giọng trầm và ấm. Nhận thấy ánh mắt bối rối của cô, anh lịch thiệp thu tay lại, đứng thẳng người dậy rồi lùi ra mép hiên nửa bước để giữ khoảng cách chừng mực. “Chân cô trẹo khớp thế này, tuyệt đối không được gắng gượng đi lại hay gánh nặng. Nếu ráng sức, khớp sưng múp lên là nằm liệt giường cả tuần đấy.”
Cúc khẽ gật đầu, đưa vạt áo bông sờn chấm vội khóe mắt: “Dạ, tôi biết rồi… Đêm nay nếu không có anh kịp thời cứu đỡ, cả gánh hàng lẫn cái thân tôi chẳng biết đã ra nông nỗi nào. Ơn này của anh, mẹ con tôi chẳng biết lấy gì đền đáp.”
“Đều là dân ngụ cư xóm lao động với nhau, thấy hoạn nạn thì chìa tay ra đỡ, cô đừng bận lòng chuyện ơn huệ,” Tuấn lắc đầu, đưa ống tay áo trấn thủ bạc phếch quẹt vệt than đen dính trên má.
Đúng lúc ấy, cánh cửa gỗ lim của căn nhà cổ khẽ phát ra tiếng lách cách mở then cài. Bà Nhẫn trong chiếc áo cánh nâu chần bông, đầu vấn khăn nhung đen, tay cầm chiếc đèn dầu bước ra. Vừa nhìn thấy quang cảnh trước hiên—hai đầu quang gánh ướt sũng, chiếc nồi tôn đang réo sôi ùng ục và Cúc đang ngồi co ro bên bậu cửa ôm lấy cổ chân sưng tấy—bà lão giật nảy mình, vội vàng đặt ngọn đèn lên chõng tre rồi chạy lại.
“Ối giời đất ơi! Cúc đấy à con? Làm sao mà chân cẳng lại sưng vù như củ chuối thế kia? Rồi chú Tuấn nữa, sao người ngợm lem luốc tro than thế này?”
Cúc nghẹn ngào kể lại sự tình trượt ngã dưới dốc Hàng Đậu và việc lò than ngấm nước mưa suýt tắt lịm giữa đêm. Bà Nhẫn nghe xong mà mặt mày tái mét, vỗ đùi đánh thét “Phúc tổ bảy đời nhà mày đấy con ạ! Đôi thùng hàng nặng cả tạ, nước sôi sùng sục ngần ấy mà ụp vào người thì có mà mất mạng! Chú Tuấn tốt vía đỡ cho chứ không thì toi công toi buổi.” Bà vội quay vào nhà trong, lát sau mang ra một chai thủy tinh nhỏ nút lá chuối khô: “Đây, chai dầu tràm cất mối tận trong Huế gửi ra, chuyên trị trẹo khớp, bầm giập. Đưa chân đây u xoa cho, cắn răng chịu đau một tí nhé con.”
Bàn tay già nua thô ráp của bà Nhẫn thoa đều lớp dầu tràm thơm nồng lên mắt cá chân Cúc, miết nhẹ từng đường gân để đánh tan máu tụ. Cúc nhăn mặt cắn chặt môi nén cơn đau buốt ran, nhưng hơi nóng của dầu ngấm dần vào khớp xương khiến bàn chân cô dần nhẹ nhõm, bớt căng tức. Trong lúc đó, Tuấn lặng lẽ bước sang góc bể nước mưa, kéo gầu múc từng xô nước lạnh dội sạch lớp bùn đất bám quanh đế guốc gỗ và thành thùng gánh của Cúc, rồi cầm chiếc chổi đót quét sạch những mẩu xỉ than rơi vãi quanh hiên quán. Mọi động tác của người lính đều dứt khoát, gọn ghẽ, ngăn nắp đến lạ lùng.
Trời đất bắt đầu chuyển mình từ cữ tối sang cữ sáng. Màn sương muối giăng mờ ảo trên những ngọn xà cừ cổ thụ dần nhạt màu, nhường chỗ cho thứ ánh sáng bàng bạc của buổi sớm mùa đông năm 1989. Từ phía xa, tiếng còi tàu hỏa từ ga Long Biên rúc lên từng hồi dài trầm đục xé tan bầu không khí tĩnh mịch, hòa cùng tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc ngân nga điểm năm giờ sáng.
Gió đông bắc thổi tạt qua ngã tư, mang theo cái rét ngọt căm căm đặc trưng của đất kinh kỳ. Thế nhưng, ngay góc hiên quán nước chè đầu ngõ Hàng Khoai, một luồng sinh khí ấm áp đang cuộn trào mãnh liệt.
Nhờ bàn tay tài tình của Tuấn cứu vớt ngọn lửa kịp thời và giữ nhiệt đều đặn suốt hai tiếng đồng hồ qua, chiếc nồi tôn dày dặn giờ đây đạt tới độ sôi lý tưởng nhất. Cúc chống tay vào cột hiên, tập tễnh bước lại gần. Cô khẽ dùng chiếc giẻ sạch nhấc nắp vung tôn ra.
Một làn hơi nước trắng xóa bốc lên nghi ngút, kéo theo hương thơm nồng nàn ngào ngạt lan tỏa khắp một vùng không gian. Đó là thứ mùi hương kỳ diệu được chưng cất từ tủy xương ống bò ninh ròng rã suốt nửa ngày trời, quyện chặt với hương thơm ngọt ấm của quế chi, hoa hồi nướng xém cạnh, vị cay the nồng đượm của gừng già đập dập và vị ngọt thanh sâu thẳm nơi cuống họng của năm con sá sùng khô gia bảo.
Cúc cầm muôi đồng cẩn thận hớt nhẹ lớp váng bọt li ti nổi lên trên mặt. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu, làn nước dùng hiện ra trong vắt, lóng lánh ánh vàng mỡ mỏng tang tựa như cánh ve, không hề gợn một chút cặn đục. Cô múc một thìa nhỏ, khẽ thổi nguội rồi đưa lên nhấp thử nơi đầu lưỡi.
Vị ngọt lịm của tủy bò, vị mặn mòi tinh tế của muối hạt và hương thơm thảo mộc lập tức bùng nổ, thấm sâu vào từng gai vị giác, để lại dư vị ngọt hậu thanh tao không hề có chút lợ giọng hay nồng gắt của hóa chất. Đôi mắt Cúc ánh lên niềm hạnh phúc nghẹn ngào. Công thức phở gia truyền của người cha quá cố—cụ Cần—đã thực sự sống lại trọn vẹn trong nồi nước dùng này.
“Nước dùng đạt độ trong và thơm lắm rồi u ạ,” Cúc quay sang nói với bà Nhẫn, giọng run run vì xúc động.
Bà Nhẫn hít một hơi thật sâu, gật đầu tấm tắc: “Thơm lắm con ạ! Cái mùi quế hồi này chuẩn vị phở xưa của ông Cần rồi đấy, không lẫn đi đâu được. Mùi thơm này mà bay ra đầu phố thì đố ai đi qua mà không cồn cào ruột gan.”
Tuấn đứng bên cạnh, nhìn thấy nét mặt tươi tắn vừa hé nở trên khuôn mặt thanh tú của Cúc, khóe môi anh cũng khẽ cong lên một nụ cười hiếm hoi. Anh khập khiễng bước tới, nhanh nhẹn xếp lại năm chiếc ghế gỗ con sát chân tường gạch rêu phong, rồi lấy khăn sạch lau khô từng chiếc đĩa sứ hoa lam, chuẩn bị đón những vị khách đầu tiên.
Mùi thơm ngào ngạt của nồi phở quả thực tựa như một lời mời gọi vô hình.
Đầu tiên là hai cụ già mặc áo bông trần cài khuy chéo, cổ quàng khăn len sợi đỏ, tay chống gậy trúc đi bộ tập thể dục từ phía bốt nước Hàng Đậu quay về. Đi ngang qua đầu ngõ, một cụ dừng phắt lại, mũi khẽ hếch lên, mắt sáng rực nhìn về phía làn khói nghi ngút bốc lên từ góc hiên.
“Kìa ông giáo! Mùi phở ở đâu mà thơm thanh tao, thơm nức nở thế này nhỉ? Mùi quế chi với thảo quả nướng rõ mồn một, giống hệt mùi phở gánh cụ Cần hồi trước giải phóng!”
Cụ già đi cùng cũng gật gù vuốt chòm râu bạc: “Đúng đấy! Lâu lắm rồi tôi mới lại ngửi thấy mùi phở tinh tế nhường này. Dạo này phố xá toàn hàng phở dùng mì chính lợ cả họng. Nào, vào làm một bát cho ấm cái bụng đã!”
Hai cụ bước vào hiên, nhìn gánh hàng đơn sơ nhưng sạch tinh tươm thì tỏ ý rất bằng lòng. Cụ giáo cất giọng nhã nhặn “Cô hàng cho hai bát chín nhé. Nước dùng thật trong, cho nhiều đầu hành hoa chần tái.”
“Dạ, cháu mời hai cụ ngồi ạ! Có ngay đây thưa cụ!” Cúc đon đả đáp lời.
Dù mắt cá chân phải vẫn còn nhức nhối mỗi khi dồn trọng tâm, nhưng tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề khiến cô quên hết cả mỏi mệt. Ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu gỗ con trước đôi thùng hàng, đôi bàn tay mảnh mai của Cúc bắt đầu thoăn thoắt thi triển kỹ nghệ gia truyền.
Cô nhấc chiếc vợt tre, bốc một vốc bánh phở trắng ngần, sợi mỏng mềm mướt tráng thủ công thả vào nồi nước sôi sùng sục. Chiếc vợt đảo nhẹ hai đường cho sợi bánh tơi đều rồi nhấc bổng lên, lắc mạnh tay cho róc sạch nước chần trước khi trút gọn gàng vào lòng hai chiếc bát men sứ Hải Dương vẽ hoa lam tao nhã.
Tiếp đó, Cúc cầm con dao thép nhíp sáng loáng, bản mỏng tang—kỷ vật người cha để lại. Một tảng bắp hoa luộc chín tới, lớp gân trong suốt xen kẽ thớ thịt nâu sẫm được cô giữ chặt trên thớt gỗ nghiến. Lưỡi dao đưa đi thoăn thoắt, sắc lẹm, từng lát thịt mỏng như tờ giấy lướt ra, xếp đều tăm tắp phủ kín mặt bánh phở. Cô rắc thêm một nhúm hành hoa cọng dài xanh mướt chần tái, điểm xuyết vài nhánh mùi tàu thái chỉ và vài lát ớt chỉ thiên đỏ au.
Cuối cùng, Cúc mở nắp nồi nước dùng đang sôi réo lục bục. Chiếc muôi đồng múc một dòng nước trong vắt, vàng ánh mỡ gà lóng lánh, chan nhẹ nhàng men theo thành bát từ ngoài vào trong. Nước sôi làm chín tới lớp hành hoa, đánh thức trọn vẹn hương vị của thịt bắp hoa và gia vị thảo mộc, bốc lên làn khói thơm ngào ngạt khiến hai cụ già không nén nổi tiếng xuýt xoa.
Tuấn nhanh nhẹn bước lại, hai tay bưng cẩn thận từng bát phở nóng hổi đặt lên chiếc bàn con trước mặt hai cụ, kèm theo đĩa chanh cốm cắt miếng và âu giấm tỏi ớt ngâm hoa hồi “Cháu mời hai cụ xơi phở nóng ạ.”
Cụ giáo cầm đôi đũa tre so đều, múc một thìa nước dùng nếm thử. Vừa nuốt ngụm nước đầu tiên, mắt cụ bỗng mở to, khẽ gật gù vẻ mãn nguyện tột cùng “Chao ôi! Ngọt đậm, thanh tao mà sâu sắc vô cùng! Đúng là vị phở bò phố cổ ngày xưa rồi! Bánh dẻo không nát, thịt thơm giòn sần sật. Khéo lắm cô hàng ơi!”
Lời khen chân thành của bậc cao niên sành ăn phố cổ như một liều thuốc trợ lực diệu kỳ thổi bùng ngọn lửa tự tin trong lòng Cúc.
Chỉ ít phút sau, từ phía ngã tư dốc Hàng Đậu, tiếng bước chân thình thịch cùng tiếng cười nói rổn rảng vang lên. Bác phu xe cam hôm qua—người khách mở hàng đầu tiên—đang hăm hở dẫn theo bốn bác cửu vạn bốc vác đêm ở chợ hoa quả rẽ vào.
“Đấy! Tôi đã bảo các ông mà, cứ đi theo tôi! Mùi phở thơm nức cả góc phố thế này thì chỉ có phở cô Cúc thôi!” Bác phu xe hồ hởi vẫy tay: “Cô Cúc ơi! Nay tôi dẫn anh em đến ủng hộ đây! Bác nào cũng đói lả sau ca bốc cam đêm, cô làm cho năm bát tái nạm thật đầy đặn, chan nhiều nước béo nhé!”
“Dạ, cháu chào bác! Mời các bác ngồi vào bàn trong cho khuất gió ạ!” Cúc mừng rỡ đáp lời.
Góc hiên quán nhỏ của bà Nhẫn thoắt cái trở nên chật ních. Những chiếc ghế gỗ con kê sát mép tường không còn một chỗ trống. Tiếng kéo ghế lách cách, tiếng dao thép nhíp đập dập từng miếng thăn bò tươi rói trên thớt nghiến chan chát, tiếng nước sôi réo sùng sục và tiếng chan nước róc rách hòa quyện tạo nên một bản hòa tấu lao động rộn ràng giữa sớm mai.
Khách kéo đến mỗi lúc một đông. Sau cánh cửu vạn là những bà, những chị tiểu thương gánh cam sành, bưởi Diễn chuẩn bị chợ Tết ghé vào lót dạ; rồi cả những người đạp xe Thống Nhất đi làm sớm qua cầu Long Biên cũng bị mùi hương níu chân tạt vào.
Trước lượng khách đổ dồn tới bất ngờ, đôi bàn tay Cúc làm việc thoăn thoắt không ngơi nghỉ một giây. Nhưng nếu chỉ có một mình cô với chiếc cổ chân đau nhức, chắc chắn gánh phở sẽ rơi vào cảnh lúng túng, quá tải.
Chính lúc này, sự hiện diện của Tuấn trở thành chỗ dựa vững chắc vô cùng.
Dù bước chân còn khập khiễng do vết thương mảnh đạn cối nơi bắp chân phải, Tuấn lại vô cùng tháo vát và chuẩn xác. Mang tác phong kỷ luật thép của người lính công binh, anh phân loại công việc đâu ra đấy: bưng phở đến tận tay từng khách theo đúng thứ tự đến trước đến sau; nhẹ nhàng thu dọn bát đĩa đã ăn xong mang ra chậu tráng; dùng khăn ẩm lau sạch bóng mặt bàn gỗ; chốc chốc lại cúi xuống canh chừng ngọn lửa than, gạt bớt muội tro để nồi nước dùng luôn giữ được độ sôi tăm tắp cần thiết.
Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý giữa một người nấu nướng tinh tế và một người phụ việc tận tụy, ngăn nắp khiến gian hàng rong nhỏ bé vận hành trơn tru như một cỗ máy hoàn hảo.
Tiếng xì xụp ấm nóng vang lên khắp góc phố. Bát phở nào bưng ra cũng sạch trơn đến giọt nước dùng cuối cùng, để lại trên gương mặt những người lao động nghèo nụ cười sảng khoái và những giọt mồ hôi lấm tấm xua tan đi cái giá buốt mùa đông.
“Phở ngon quá cô em ơi! Nước ngọt lịm từ tủy bò chứ không nồng nặc mì chính như cái quán Vạn Lộc bên kia ngã tư. Ăn xong mà cổ họng cứ ngọt lịm, ấm sực cả người!” Một bác cửu vạn vừa quẹt mồ hôi vừa tấm tắc khen ngợi, đặt tờ một nghìn đồng phẳng phiu lên chiếc đĩa nhôm.Đến gần chín giờ sáng, khi nắng đông hanh hao bắt đầu dát một lớp vàng mỏng lên những mái ngói rêu phong của phố cổ, nồi nước dùng lớn bằng tôn gò chỉ còn trơ lại lớp xương ống đã ninh róc hết tủy dưới đáy. Cả rổ thịt bò bắp hoa, nạm gầu hơn năm cân cùng hai thúng bánh phở đã bán sạch bách không còn sót lại một sợi.
Những vị khách cuối cùng lưu luyến đứng dậy ra về. Cúc ngồi tựa lưng vào vách tường, thở phào một hơi nhẹ nhõm. Cổ chân cô tê dại vì phải ngồi một chỗ quá lâu, bả vai mỏi nhừ, nhưng niềm vui sướng thì ngập tràn trong đáy mắt. Cô mở chiếc túi vải nhỏ giắt bên hông tạp dề, vuốt thẳng từng tờ tiền giấy thấm đẫm mồ hôi: những tờ năm trăm đồng, một nghìn đồng, hai nghìn đồng in hình nhà máy, cánh rừng… Toàn bộ số vốn liếng còm cõi bỏ ra ban đầu không những đã thu hồi trọn vẹn mà còn dôi ra một khoản tiền lời đủ để hai mẹ con trang trải cơm áo và thuốc men cho những ngày sắp tới.
Bên cạnh bể nước, Tuấn đang cặm cụi dội sạch những chiếc bát sứ cuối cùng, úp cẩn thận vào rổ tre cho ráo nước. Anh dùng giẻ khô lau sạch chiếc đòn gánh tre đực hun khói, rồi xếp gọn đôi thùng hàng vào sát góc hiên quán bà Nhẫn theo đúng nếp nhà binh.
Xong xuôi mọi việc, Tuấn đứng thẳng người, khẽ đấm nhẹ vào thắt lưng mỏi nhừ. Anh đưa đôi bàn tay nứt nẻ, đỏ ửng vì ngâm nước lạnh xoa xoa vào nhau, ánh mắt nhìn quanh góc hiên sạch sẽ một lượt. Rồi như sực nhớ ra thân phận ngụ cư tha hương của mình, người cựu binh khẽ cụp mắt, với tay lấy chiếc ba lô con cóc sờn rách để trên chõng tre, ngập ngừng toan bước đi.
Nhìn dáng vẻ cô độc, chiếc áo trấn thủ bạc phếch lem luốc nhọ than và bước chân tập tễnh của anh hướng về phía dòng người ngược xuôi nơi phố chợ, tim Cúc bỗng thắt lại.
Anh định đi đâu giữa đất Hà Nội rộng lớn này? Về căn buồng trọ ẩm thấp chưa đầy mười mét vuông, hay lại ra bến Long Biên nhận những chuyến hàng cửu vạn nặng trĩu với cái chân đau nhức kia?
“Anh Tuấn!”
Cúc vội vàng cất tiếng gọi giật, giọng cô gấp gáp đến mức chính cô cũng phải giật mình.
Tuấn khựng lại, quay người nhìn cô vẻ ngạc nhiên: “Cô Cúc gọi tôi có việc gì thế?”
Cúc cố nén cơn đau nơi cổ chân, vịn tay vào mép thùng gỗ khẽ nhổm dậy: “Anh… anh khoan hãy đi đã! Anh vào đây ngồi xuống chiếc ghế này đã nào.”
Tuấn chần chừ một thoáng rồi cũng bước lại gần, ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện với Cúc.
Lúc này, Cúc mới với tay nhấc chiếc nắp xoong nhỏ mà cô đã cẩn thận đậy kín từ lúc nãy để trên góc bếp than hồng. Trong xoong là một bát phở đầy đặn được cô bí mật chuẩn bị từ trước: những miếng nạm gầu giòn thơm nhất, béo ngậy nhất được thái dày dặn, xếp phủ kín lớp bánh phở mềm mướt, bên trên rắc đầy hành hoa, mùi tàu và vài cánh ớt đỏ au, chan ngập thứ nước dùng ngọt lịm, sánh đậm nhất dưới đáy nồi.
Cúc trân trọng dùng hai tay nâng bát phở nóng hổi, nghi ngút khói đưa tới trước mặt Tuấn “Từ nửa đêm tới giờ, anh lăn xả cứu vớt gánh hàng, rồi lại quần quật bưng bê, rửa bát giúp mẹ con tôi mà chưa có hạt cơm miếng nước nào vào bụng. Tôi cố ý giữ lại chút nước dùng tinh túy nhất và phần nạm giòn này cho anh. Anh ăn bát phở này lót dạ đi đã!”
Nhìn bát phở đầy ắp thịt nạm gầu nghi ngút khói thơm, mùi thơm béo ngậy ngào ngạt phả vào mặt, Tuấn bàng hoàng, hai bàn tay thô ráp khẽ run lên. Anh lúng túng xua tay “Kìa cô Cúc… bát phở thế này bán cho khách cũng được hai nghìn đồng. Tôi chỉ tiện tay đỡ đần một chút, sao dám nhận bát phở đắt giá thế này của cô…”
“Anh đừng nói thế!” Ánh mắt Cúc nhìn thẳng vào anh, chân thành và tha thiết khôn cùng: “Nếu đêm qua không có anh đỡ đòn gánh, không có anh thông bếp nhen lại lửa, thì sáng nay mẹ con tôi đã trắng tay, thậm chí tôi còn tàn phế vì nước sôi đổ vào người. Một bát phở này sao sánh nổi với ân tình của anh đối với mẹ con tôi? Anh không ăn là chê phở tôi nấu đấy.”
Bà Nhẫn từ trong nhà bước ra, thấy thế liền cười xòa, vỗ mạnh vào vai Tuấn “Chú mày thật thà quá cơ! Cái Cúc nó đã có lòng thảo thơm dâng tận tay thế kia thì chú cứ cầm lấy mà ăn cho lại sức. Người chứ có phải sắt đá đâu mà nhịn đói gánh vác suốt từ nửa đêm đến giờ!”
Trước sự thúc giục chân tình của hai người phụ nữ, Tuấn không nỡ chối từ thêm. Anh xúc động đón lấy bát phở bằng cả hai tay: “Vâng… thế thì tôi xin phép cô Cúc và u Nhẫn.”
Tuấn cầm đôi đũa tre, gắp một miếng nạm gầu đưa vào miệng. Miếng thịt bò giòn sần sật, béo ngậy mà không ngấy, quyện chặt với sợi bánh mềm mướt và dòng nước dùng ngọt lịm từ tủy xương bò lan tỏa khắp khoang miệng. Hương quế, hoa hồi, thảo quả nồng nàn xộc lên sống mũi, làm sống dậy trong tâm trí anh những ký ức sâu thẳm nhất.
Từng giọt nước mắt nóng hổi bỗng ứa ra nơi khóe mắt người lính trận phong trần. Anh nhớ đến người đồng đội Kiên—cậu lính trẻ hai mươi tuổi quê phố Hàng Đào đã ngã xuống trên sườn đồi Yên Ngựa nơi chiến hào Vị Xuyên khốc liệt. Trước khi nhắm mắt, Kiên từng thì thầm ước nguyện cháy bỏng được một lần trở về Hà Nội, ngồi bên vỉa hè phố cổ húp trọn một bát phở bò nóng hổi thơm mùi quế hồi.
Hôm nay, giữa góc phố Hàng Khoai trong buổi sáng mùa đông thanh bình, anh đang ăn chính bát phở mà người đồng đội đã khuất từng khao khát khôn nguôi. Vị ngọt ngào, ấm nóng của bát phở như một dòng suối mát lành tưới tắm vào tâm hồn cằn cỗi, đầy vết thương chiến tranh của anh, xoa dịu đi nỗi đau đớn và cô độc bao ngày qua.
Tuấn cúi đầu ăn chầm chậm, trân trọng từng sợi bánh, từng giọt nước dùng, không để sót lại một mẩu hành vụn.
Ngồi đối diện, Cúc lặng lẽ quan sát từng biểu cảm trên gương mặt góc cạnh của người đàn ông. Cô nhìn thấy sự xúc động sâu sắc, nhìn thấy nét phong trần nhưng vô cùng lương thiện trong đôi mắt sâu thẳm ấy. Suốt cả buổi sáng, cách anh làm việc chăm chỉ, cẩn thận, không nề hà việc nặng bẩn thỉu, cùng sự mực thước, đứng đắn trong từng cử chỉ đã cho cô thấy đây là một con người đáng tin cậy đến nhường nào.
Cúc nhìn xuống cổ chân đang băng bó của mình. Vết trẹo khớp này ít nhất phải mất cả tuần mới có thể đi lại bình thường, và dù có khỏi, một người phụ nữ mảnh mai như cô cũng không thể nào ngày nào cũng oằn mình gánh hơn một tạ hàng đi qua những con dốc trơn trượt giữa đêm đông buốt giá. Nhưng quan trọng hơn cả, trong sâu thẳm tâm can, cô nhìn thấy ở Tuấn một nỗi niềm đồng cảm—cả hai đều là những mảnh đời chịu nhiều mất mát, đang chật vật tìm kiếm một chỗ đứng lương thiện giữa dòng đời xô bồ thời Đổi Mới.
Khi Tuấn buông đũa, uống cạn ngụm nước dùng cuối cùng rồi cẩn thận đặt chiếc bát men lam xuống bàn, Cúc hít một hơi thật sâu, giọng cô cất lên nhẹ nhàng nhưng vô cùng dứt khoát “Anh Tuấn này…”
Tuấn ngẩng lên nhìn cô: “Dạ, cô Cúc bảo gì tôi?”
“Tôi… tôi muốn bàn với anh một việc,” Cúc nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt đầy sự nghiêm túc và trân trọng: “Chân tôi bị trẹo thế này, chắc chắn nhiều ngày tới không thể tự mình gánh gồng, chẻ củi, múc nước nặng nhọc được. Mà dù chân có lành, một mình tôi vừa nấu nướng vừa bưng bê phục vụ khách thì thực sự quá sức. Sáng nay anh cũng thấy đấy, khách đông mà không có anh đỡ đần thì tôi xoay xở không xuể.”
Tuấn khẽ gật đầu vẻ đồng cảm, nhưng vẫn im lặng chờ đợi cô nói tiếp.
Cúc nói tiếp, lời lẽ rõ ràng, rành mạch: “Tôi biết anh là lính phục viên, sức dài vai rộng, lại đang cần tìm việc làm để ổn định cuộc sống ở thủ đô. Tôi muốn ngỏ lời mời anh về phụ việc cho gánh phở của tôi lâu dài. Hằng ngày từ ba giờ sáng, anh qua phụ tôi nhóm bếp, xách nước, gánh hàng ra đây rồi phụ tôi bưng bê, rửa bát dọn dẹp đến chín giờ sáng là xong buổi chợ. Tôi không để anh chịu thiệt thòi đâu. Mỗi ngày tôi xin gửi anh ba nghìn đồng tiền công sòng phẳng, lại bao anh một bát phở nạm gầu ăn sáng thật no. Tiền công tôi trả theo tuần hoặc theo tháng tùy anh chọn. Ý anh thấy thế nào?”
Lời đề nghị bất ngờ của Cúc khiến Tuấn sững sờ. Ba nghìn đồng một buổi sáng năm 1989 là một số tiền không hề nhỏ đối với người lao động tự do, lại được bao ăn một bát phở thơm ngon đắt giá. Quan trọng hơn cả, đây là một công việc chân chính, đàng hoàng, có giờ giấc cố định, không phải chực chờ tranh giành từng chuyến hàng bốc vác nặng nhọc nơi bến sông với cái chân đau tật nguyền.
Thấy Tuấn còn ngập ngừng mở to mắt nhìn mình, sợ anh mặc cảm tự ái, Cúc vội vàng giải thích thêm “Anh Tuấn đừng nghĩ là tôi thương hại anh nhé. Tôi là dân buôn bán, tôi nhìn thấy anh làm việc nhanh nhẹn, ngăn nắp, lại thật thà, chất phác nên tôi mới dám mở lời nhờ cậy. Tôi thực sự rất cần một người vững chãi như anh cùng tôi gánh vác cái gánh hàng này. Nếu không có anh giúp, một mẹ một con tôi chắc chẳng trụ nổi qua cái mùa đông năm nay đâu…”
Bà Nhẫn đứng bên cạnh nghe thế liền vỗ tay đánh đét, mắt sáng rực lên “Ôi rào ôi! Thế thì còn gì bằng nữa hở trời! Con Cúc nó nói chí phải đấy chú Tuấn ạ! Đôi bên cùng có lợi, cùng giúp nhau lúc khó khăn hoạn nạn. Chú thì có đồng ra đồng vào trang trải tiền thuê nhà, tiền ăn uống, lại đỡ phải đi vác nặng hư cái chân đau; cái Cúc thì có người đàn ông tin cậy chở che, gánh vác lúc đêm hôm gà gáy. Giời se duyên lành cho hai đứa gặp nhau đấy, chú Tuấn nhận lời ngay đi cho con bé nó mừng!”
Tuấn nhìn bà Nhẫn, rồi lại nhìn sang Cúc. Dưới ánh nắng sớm nhạt nhòa, đôi mắt bồ câu của người thiếu phụ góa bụa ánh lên niềm khát khao, tin cậy và sự chờ đợi tha thiết. Trái tim người lính từng đi qua bao khói lửa bỗng run rẩy một nhịp đập thổn thức. Sau bao năm tháng lăn lộn nơi chiến trường khốc liệt, sau bao ngày bơ vơ lạc lõng giữa phố phường đông đúc không một người thân thích, lần đầu tiên anh cảm nhận được sự ấm áp của tình người, cảm nhận được mình vẫn là một người có ích, vẫn có một chốn nương náu để cống hiến sức lực và bảo bọc kẻ yếu thế.
Tuấn khẽ siết chặt quai chiếc ba lô con cóc trong tay, lồng ngực phập phồng xúc động. Anh đứng thẳng người, cất giọng trầm ấm, dõng dạc như lời tuyên thệ trước hàng quân “Cô Cúc đã tin tưởng và mở lời như thế… thì tôi xin nhận. Tôi không dám hứa gì cao xa, nhưng chừng nào cô còn cần, tôi sẽ dốc hết sức mình gánh vác đôi thùng hàng, che chắn cho mẹ con cô, tuyệt đối không để nồi phở của gia đình cô phải chịu bất kỳ thiệt thòi nào.”
Nụ cười bừng sáng như đóa cúc hé nở trên khuôn mặt thanh tú của Cúc, xua tan đi tất cả những âu lo, sợ hãi đè nặng trong lòng suốt từ đêm qua. “Vâng! Cảm ơn anh Tuấn nhiều lắm!”
Bà Nhẫn cười khà khà, tiếng cười giòn tan xua đi cái buốt giá của buổi sớm mùa đông. Ba con người đứng bên góc hiên rực lửa than hồng, chia sẻ với nhau niềm hân hoan giản dị mà ấm áp vô bờ.
Thế nhưng, giữa lúc niềm vui vừa mới chớm nở, không một ai hay biết rằng, ngay bên kia ngã tư đường Hàng Khoai giao cắt với phố Hàng Lược, một bóng đen đã đứng sừng sững tự bao giờ.
Dưới mái hiên rộng thênh thang của tiệm phở Vạn Lộc khang trang—nơi sáng nay chỉ lác đác vài ba vị khách vào ăn rồi thất vọng bỏ đi vì nước dùng nồng mùi mì chính—lão Tài bụng phệ đang đứng khoanh tay trước ngực. Chiếc áo khoác bông cổ lông mờ ám kéo cao che kín cổ, nhưng không giấu nổi khuôn mặt béo xị đang co rúm lại vì căm tức.
Đôi mắt ti hí như mắt lươn của lão nheo lại, lạnh lẽo găm chặt vào khuôn mặt rạng rỡ của Cúc và bóng dáng cao lớn của người cựu binh thương tật bên góc hiên quán nước chè. Bàn tay đeo chiếc nhẫn vàng to bản của lão Tài siết chặt lại thành nắm đấm, những khớp ngón tay kêu lên răng rắc trong sự đố kỵ và toan tính hiểm độc đang cuộn trào.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
