Chương 3: Hương Thảo Quả Đầu Ngõ Hàng Khoai
Cánh cửa liếp khép lại sau lưng nghe một tiếng “cạch” khẽ khàng, ngăn trọn những đợt gió đông hun hút cùng ánh nhìn trầm mặc, thăm thẳm của người lính phục viên ngoài quán nước chè. Cúc đứng tựa hẳn lưng vào then nứa, lồng ngực vẫn đập rộn lên từng nhịp sau manh áo bông sờn rách. Hai bên gò má cô nóng ran như vừa ghé sát vào vách lò than rực đỏ. Đã hai năm kể từ ngày anh Thành nằm xuống dưới đống gạch đá đổ nát của giàn giáo công trường, Cúc chỉ biết cắm cúi với manh áo vá, đường kim mũi chỉ mọn mằn và những lời xì xào độc địa của miệng đời. Chưa bao giờ có một người đàn ông nhìn cô bằng ánh mắt sâu hoắm, day dứt mà lại đượm vẻ xót xa, chở che đến nhường ấy.
“Mẹ ơi, con đói bụng rồi...”
Tiếng gọi ngọng nghịu của bé Mây kéo Cúc trở về với thực tại xám xịt của căn buồng trọ ẩm thấp. Cô khẽ lắc đầu xua đi nỗi bối rối đang dâng lên trong dạ, vội vàng ngồi thụp xuống bậu cửa, đưa vạt tay áo bông lau vết bồ hóng còn vương trên má con gái.
“Mẹ lấy khoai cho Mây ngay đây. Con ngoan, ngồi yên trên chõng kẻo lạnh chân nhé.”
Cúc với tay lấy củ khoai lang luộc từ đáy âu sành đặt trên chạn bát. Củ khoai đã nguội bớt nhưng vỏ vẫn còn dính mật óng ả. Cô tỉ mỉ bóc từng lớp vỏ mỏng, bẻ đôi đưa cho con phần ruột vàng ươm, thơm bùi. Bé Mây cầm lấy bằng cả hai bàn tay nhỏ xíu, cắn một miếng ngập chân răng rồi nở nụ cười tít mắt, để lộ hai chiếc răng sún xinh xắn. Nhìn con ăn ngon lành, ruột gan Cúc lại quặn thắt một nỗi xót xa. Con bé mới bốn tuổi đầu mà đã phải chịu cảnh thiếu thốn trăm bề, chiếc áo len đỏ đan tay đã sờn rách hết cả gấu áo lẫn cổ tay mà mẹ vẫn chưa sắm nổi cho một manh áo mới đón Tết.
Đợi con gái ăn xong, Cúc dỗ dành cho bé Mây nằm vào lòng chiếc chăn con công chắp vá. Đứa trẻ cả ngày phụ mẹ lau bát đĩa thấm mệt, chẳng mấy chốc đã thở đều đều, chìm sâu vào giấc ngủ non nớt.
Lúc này, Cúc mới khẽ khàng bước lại góc phòng, kéo chiếc hòm gỗ cũ kỹ ra. Dưới ánh sáng vàng vọt leo lét của ngọn đèn dầu hỏa, cô cẩn thận mở chiếc hộp sắt đựng bánh quy Liên Xô đã rỉ sét các góc. Trong hộp là toàn bộ vốn liếng mồ hôi nước mắt mà cô tích cóp được suốt hai năm may vá thuê: những đồng tiền giấy năm mươi đồng, hai mươi đồng, mười đồng sờn mép cùng bọc hào lẻ gấp mép cẩn thận. Cúc đếm đi đếm lại từng tờ, tổng cộng chỉ vừa tròn một nghìn bảy trăm tám mươi đồng. Chưa đầy một nghìn tám trăm đồng cho một chuyến khởi hành sinh tử của đời mình.
Ngày mai, cô sẽ chính thức quẩy gánh phở rong của cha ra đầu ngõ Hàng Khoai. Một bước đi liều lĩnh giữa thời buổi người khôn của khó, giữa phố chợ xô bồ đầy rẫy hiểm nguy rình rập.
Cúc cúi đầu nhìn bộ dao thép nhíp bọc trong tấm vải nhung điều đỏ thắm và cuốn sổ tay ố vàng của cha đặt cạnh mép hòm. Lòng bàn tay cô siết chặt lại. Cô không thể lùi bước được nữa. Nếu không tự mình đứng lên bươn chải, mẹ con cô sẽ chết mòn trong xó xóm trọ ẩm thấp này.
Ba giờ sáng.
Chuông nhà thờ Cửa Bắc từ phía xa vọng lại từng tiếng ngân nga, trầm đục xuyên qua màn sương đêm quánh đặc. Đêm Hà Nội những ngày giáp Tết rét ngọt buốt thấu tận xương tủy. Hơi lạnh từ mặt đường phả lên luồn qua từng thớ vải mỏng, khiến người ta chỉ cần thở nhẹ cũng thấy khói trắng bay ra mù mịt.
Cúc trở dậy trong tĩnh lặng tuyệt đối. Cô khẽ rén chân bước xuống đất, dém lại mép chăn bông cho bé Mây đang ngủ say rồi trùm chiếc khăn len xám kín đầu, chỉ để lộ đôi mắt bồ câu đượm buồn. Khoác thêm chiếc áo bông chần trám sờn chỉ, Cúc dắt chiếc xe đạp Thống Nhất cọc cạch ra khỏi cổng xóm trọ. Chiếc bàn đạp rít lên những tiếng lách cách khô khốc trong ngõ vắng hoang lạnh.
Con đường từ dốc Hàng Đậu dẫn xuôi theo chân đê sông Hồng mù mịt hơi sương. Đèn đường thời điểm này leo lét như những đốm đom đóm thoi thóp giữa trời đông. Gió bấc thổi thốc từ bãi bồi ven sông vào rát buốt hai bên má, nhưng Cúc vẫn gò lưng đạp từng vòng xe nặng trịch, hướng thẳng về phía lò mổ ngoại thành.
Khu lò mổ nằm sát bờ sông Hồng lúc ba giờ sáng đã rực sáng bởi những bóng đèn dây tóc vàng vọt công suất lớn treo lủng lẳng dưới mái tôn. Mùi tanh nồng của huyết bò, mùi gây đặc trưng của thịt tươi quyện với hơi nước sôi từ các nồi nước cạo lòng bốc lên ngùn ngụt, xua đi cái buốt giá ngoài trời. Tiếng dao rựa chặt xương chan chát, tiếng người mua kẻ bán ngã giá ồn ã át cả tiếng nước xối xả.
Cúc dựng xe đạp vào một góc tường ẩm ướt, khẽ nép mình bước vào gian pha thịt bò. Dân buôn bán thịt bò ở đây toàn những tay thợ mổ vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn, quần áo dính đầy vệt máu sẫm. Thấy một người phụ nữ trẻ mảnh mai, gương mặt xanh xao bước vào, vài gã đàn ông c** tr*n ngoái lại nhìn bằng ánh mắt tò mò, giễu cợt.
“Này cô em, nửa đêm gà gáy đi đâu mà lạc vào chốn này? Mua thịt nạc về kho hay nhặt lòng bò về nấu cháo cho chồng thế?”
Cúc nuốt nước bọt, cố giữ cho giọng mình không run rẩy, bước thẳng đến phản thịt của một bác thợ mổ luống tuổi có bộ râu quai nón rậm rạp “Bác cho cháu chọn mấy khúc xương ống bò chân sau. Chọn cho cháu khúc xương còn tươi, tủy đặc, không lấy xương bò già hay xương bị ôi đâu ạ.”
Bác thợ mổ liếc nhìn Cúc một cái, khẽ nhướng đôi lông mày rậm “Gớm, nom mặt mũi non choẹt thế này mà biết chọn xương ống chân sau cơ à? Người sành nấu phở mới đòi đúng cái khúc ấy đấy. Nhưng nói trước, xương ống ngon hôm nay đắt đấy nhé, các hàng phở lớn người ta dặn bao tiêu từ chập tối rồi.”
“Cháu gom đủ tiền mua một bộ xương ống với nửa cân gầu giòn, ba lạng bắp hoa thôi bác ạ. Bác thương tình mở hàng sớm cho cháu, chọn giùm cháu khúc xương ngon nhất. Cháu mới dựng lại gánh phở gia truyền của bố cháu...” Cúc run run mở bọc vải, để lộ những đồng tiền giấy được vuốt phẳng phiu từng nếp gấp.
Nhìn gương mặt phúc hậu nhưng cương nghị cùng đôi bàn tay nứt nẻ vì rét mướt của người phụ nữ trẻ, ánh mắt bác thợ mổ già chợt dịu lại. Bác khẽ thở dài, buông chiếc dao rựa to bản xuống thớt gỗ nghiến “Thôi được rồi, thấy cô em thật thà chịu khó, tôi để lại cho hai dóng xương ống bò tơ này. Đây, nhìn đi, đầu khớp còn óng ánh sụn trắng, ống tủy đỏ au đặc quánh nhé. Đem về mà ninh thì ngọt lịm từ đầu lưỡi vào đến cổ họng.”
Bác thoăn thoắt vung rựa, chặt dứt khoát hai gióng xương ống làm đôi để lộ phần tủy đặc bên trong, sau đó cân thêm một tảng gầu giòn viền mỡ vàng ươm và miếng bắp hoa nạc đỏ au. Cúc cẩn thận trả tiền, nhìn số tiền vơi đi quá nửa mà lòng vừa hồi hộp vừa nhẹ nhõm. Cô gói ghém số nguyên liệu vào chiếc làn nhựa, chằng kỹ sau yên xe đạp rồi vội vã đạp về phố Hàng Khoai khi trời vẫn còn tối đen như mực.
Bốn giờ sáng, gian bếp chái nhỏ hẹp của Cúc ở xóm trọ bắt đầu đỏ lửa.
Lò than tổ ong ủ từ đêm qua được cô dùng chiếc que sắt chọc thông các lỗ khí, khẽ quạt nhẹ cho than bén lửa hồng rực. Nồi nước lã đầu tiên được đặt lên bếp để luộc chần xương. Bí quyết đầu tiên mà cha cô – cụ Cần – từng căn dặn là không bao giờ được tiếc công đoạn làm sạch xương. Xương ống mua về phải rửa bằng nước muối pha chút giấm thanh, sau đó thả vào nồi nước sôi bùng lên vài dạo để tống khứ hết máu đọng và mùi hôi tanh nồng ra ngoài, rồi mới vớt ra dùng bàn chải cọ thật sạch từng kẽ xương dưới vòi nước lạnh.
Làm xong công đoạn rửa xương, Cúc đặt chiếc nồi quân dụng bằng tôn gò dày dặn lên bếp than, đổ đầy nước mưa hứng từ bể lớn rồi mới trút toàn bộ xương ống vào ninh.
Và đây chính là lúc linh hồn của bát phở Hà Nội xưa bắt đầu thức giấc.
Cúc lấy từ trong chiếc hũ sành ra ba củ gừng già da nhăn nheo, bốn quả thảo quả vỏ nâu sẫm, một nắm hoa hồi cánh dày và mấy thanh quế chi thơm ngát. Cô cẩn thận gắp từng củ gừng già đặt trực tiếp lên mặt than hồng rực. Tiếng xèo xèo vang lên lách tách, lớp vỏ gừng cháy xém, phồng rộp tỏa ra một mùi cay nồng ấm áp xộc thẳng vào cánh mũi. Gừng nướng xong được cô đặt lên thớt gỗ, dùng sống dao nhíp to bản đập giập vừa phải để giữ nguyên nước cốt.
Tiếp đến là hoa hồi và quế chi. Cúc thả chúng vào chiếc chảo gang nhỏ rang liu riu trên than hồng cho đến khi cánh hồi óng lên lớp tinh dầu bóng bẩy, mùi thơm ngòn ngọt, thanh tao bốc lên ngào ngạt. Bốn quả thảo quả được nướng cháy xém vỏ ngoài, Cúc dùng sống dao gõ nhẹ cho nứt đôi, để lộ những hạt thảo quả đen nhánh bên trong đang tỏa ra một làn hương trầm mặc, nồng đượm vô cùng đặc trưng. Không chỉ có thế, Cúc còn cẩn thận lấy ra năm con sá sùng khô cong queo – thứ gia bảo đắt đỏ mà cô chắt chiu từ chiếc hũ sành của cha để lại – rang vàng giòn trên chảo cho thơm lừng rồi mới cho tất cả vào một chiếc túi vải màn xô sạch, buộc chặt miệng lại bằng sợi chỉ trắng.
Khi nồi nước xương bắt đầu sôi lăn tăn, Cúc nhẹ nhàng thả bọc gia vị cùng tảng gầu bò vào giữa nồi.
Chỉ mươi phút sau, cả gian buồng trọ nhỏ hẹp chừng như bừng sáng bởi một làn hương kỳ diệu. Mùi ngầy ngậy, béo ngọt của tủy bò hòa quyện một cách hoàn hảo với vị cay nồng của gừng nướng, hương trầm ấm của quế chi, hoa hồi và nét thanh tao sâu lắng của thảo quả. Đó không phải là thứ mùi nồng gắt, lợ lợ của mì chính hay đường hóa học mà các tiệm ăn mậu dịch thường dùng để đánh lừa vị giác, mà là một mùi hương thuần khiết, mộc mạc, thấm đẫm phong vị cổ truyền của chốn kinh kỳ xưa cũ.
Cúc túc trực bên nồi nước, tay cầm chiếc muôi nhôm dài cán, kiên nhẫn vớt từng lớp bọt váng nổi lên trên mặt nước. Nước sôi đến đâu, bọt được hớt sạch đến đấy, giữ cho mặt nước dùng phẳng lặng, trong veo như hổ phách, chỉ lấp lánh những giọt mỡ bò vàng óng ánh như mỡ gà tự nhiên. Cúc múc một muôi nước nhỏ ra chiếc bát sứ Hải Dương, thổi nhẹ cho bớt nóng rồi nhấp thử một ngụm.
Vị ngọt đậm đà, thanh khiết của tủy xương lan tỏa nơi đầu lưỡi rồi đọng lại ngọt lịm nơi cuống họng. Khóe mắt Cúc bỗng chốc cay xè. Đúng là vị phở của cha rồi. Bát phở gánh của người cha quá cố từng nuôi nấng cô khôn lớn, nay đang sống lại từng chút một dưới đôi bàn tay này.
Năm giờ sáng. Tiếng kẻng báo thức đầu tiên của tiểu khu vang lên từ phía ngã tư Hàng Khoai – Hàng Lược.
Cúc đánh thức bé Mây dậy. Con bé dụi đôi mắt ngái ngủ nhưng không hề quấy khóc, ngoan ngoãn để mẹ mặc chiếc áo len đỏ và quàng chiếc khăn len ấm áp. Cúc dọn ghém đồ đạc, cẩn thận đặt nồi nước dùng đang sôi sùng sục vào một đầu thùng gỗ có lót lớp tro than ủ nhiệt cẩn thận; đầu kia là thùng đựng bát men sứ Hải Dương, âu giấm tỏi ớt ngâm hoa hồi, đĩa ớt chỉ thiên tươi rói thái mỏng, chanh cốm xanh mướt và những bó hành hoa, mùi tàu non mượt đã được cô thái nhỏ đều tăm tắp từ tối hôm trước.
Cúc cúi người, ghé bờ vai gầy vào chiếc đòn gánh tre đực hun khói đen bóng.
“Hừm...”
Một tiếng thở hắt bật ra từ lồng ngực Cúc. Sức nặng của đôi thùng gỗ chứa đầy bát đĩa, than củi và nồi nước dùng hơn chục lít đè nghiến lên bờ vai mỏng manh. Đôi quang gánh tre đực uốn cong xuống như một cánh cung căng hết cỡ. Khớp vai cô đau nhói, sống lưng chùng xuống một nhịp, đôi chân run lẩy bẩy trên nền đất ẩm. Cúc cắn chặt môi đến suýt bật máu, dùng hết sức bình sinh gượng đứng thẳng dậy.
“Đi nào Mây, nắm chặt lấy vạt áo mẹ con nhé!”
Người phụ nữ nhỏ bé cất bước, nhịp đòn gánh kĩu kịt vang lên đều đặn trong màn sương mù xám đục của buổi sớm mai. Bé Mây lẽo đẽo chạy theo sau, một tay túm chặt lấy vạt áo bông của mẹ, đôi chân thoăn thoắt bước đi trên những phiến đá lát gập ghềnh của phố cổ.
Khi Cúc quẩy được gánh phở ra đến đầu ngõ Hàng Khoai, trán cô đã rịn đầy mồ hôi dù gió bấc vẫn thổi từng cơn buốt giá.
“Kìa, cái Cúc đã ra đấy à con?”
Tiếng bà Nhẫn xởi lởi vang lên từ góc hiên quen thuộc. Quán nước chè của bà đã dọn xong từ sớm, chiếc ấm tích bọc trong bao ủ ấm đã bốc khói nghi ngút bên cạnh chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng. Thấy Cúc th* d*c đặt đôi quang gánh xuống bên bậc thềm đá, bà Nhẫn vội vàng buông chiếc quạt nan chạy lại, một tay đỡ lấy chiếc đòn gánh, một tay kéo bé Mây vào lòng “Khổ thân chưa, gánh nặng thế này mà đi bộ từ tít trong ngõ ra. Mau vào đây ngồi hớp ngụm nước chè nóng cho lại sức đã con! Nào, bé Mây ngoan, vào ngồi cạnh bà sưởi ấm chân tay nào.”
“Cháu cảm ơn u. May có u cho cháu mượn góc hiên này, chứ không cháu chẳng biết xoay xở ở đâu...” Cúc vừa xoa đôi vai đang đau nhức ê ẩm vừa cất giọng cảm kích.
“Ơ cái con bé này, ơn huệ gì cái góc hiên rách. Cứ lo mà nhóm lại cái lò than cho nước dùng sôi già đi, lát nữa chợ đông người ta mới ghé ăn.” Bà Nhẫn vừa nói vừa đưa cho bé Mây một thanh kẹo lạc giòn tan, âu yếm xoa đầu con bé.
Cúc khẽ gật đầu, vội vàng mở nắp thùng gỗ. Cô đặt nồi nước dùng lên lò than tổ ong mang theo, mở hé cửa gió cho ngọn lửa than bén đều. Chẳng mấy chốc, làn khói trắng mang theo hương thảo quả, quế hồi ngào ngạt lại cuộn lên, tỏa lan khắp một góc ngõ Hàng Khoai.
Sáu giờ sáng, chợ Đồng Xuân và phố Hàng Khoai bắt đầu thức giấc thực sự.
Dòng người đổ về chợ đầu mối mỗi lúc một đông đúc, nhộn nhịp. Tiếng còi xe tải chở rau từ mạn ngoại thành bấm inh ỏi, tiếng bánh xe sắt của những chiếc xe kéo hàng rít lên ken két trên mặt đường, tiếng người mua kẻ bán chào mời râm ran khắp ngả đường. Dân cửu vạn, thợ bốc vác đêm, những bà buôn chuyến mắt còn đỏ hoe vì thức trắng dồn dập rảo bước qua đầu ngõ.Thế nhưng, trái ngược với cảnh tượng tấp nập của phố xá, góc hiên gánh phở của Cúc lại vắng vẻ đến nao lòng.
Một vài người đi chợ sớm ngửi thấy mùi thơm lạ lùng liền ngoái đầu nhìn lại. Họ nhìn chiếc đòn gánh tre, nhìn đôi thùng gỗ cũ kỹ mộc mạc và người phụ nữ trẻ tuổi đang đứng khép nép bên nồi nước dùng nghi ngút khói, rồi lại nhìn nhau bàn tán “Gánh phở lạ hoắc, chẳng biết ăn ra làm sao...”
“Thôi sang tiệm lão Tài Vạn Lộc bên kia mà ăn, quán to bàn ghế cao ráo, nước dùng người ta chan cả muôi mì chính ăn cho đậm mồm đậm miệng.”
Một người đàn ông trung niên mặc chiếc áo khoác bông bộ đội rẽ vào, ngó nghiêng thùng phở rồi hỏi cộc lốc “Bao nhiêu tiền một bát phở tái thế cô hàng?”
Cúc vội vàng nở nụ cười nhã nhặn, hai bàn tay đan vào nhau lễ phép “Dạ thưa bác, bát phở chín một nghìn rưởi, phở tái một nghìn bảy trăm đồng ạ. Xương ống cháu ninh ròng rã từ sớm, thịt bò tươi ngon lắm, mời bác xơi thử một bát mở hàng giúp cháu.”
Người đàn ông vừa nghe mức giá liền bĩu môi, xua tay quầy quậy “Một nghìn rưởi một bát phở gánh vỉa hè á? Đắt thế! Tiệm mậu dịch người ta bán có nghìn hai một bát đầy ú ụ bánh, bên lão Tài cũng chỉ nghìn rưởi mà có chỗ ngồi đàng hoàng. Bán rong mà lấy giá cắt cổ thế thì ai thèm ăn!”
Nói rồi, người đàn ông quay ngoắt người rảo bước đi thẳng về phía ngã ba, bỏ mặc Cúc đứng trơ trọi giữa làn gió đông lạnh ngắt. Nụ cười trên môi cô đông cứng lại, lồng ngực nghẹn đắng một nỗi tủi thân và thất vọng.
Một nghìn rưởi một bát đâu phải là đắt cho một bát phở nấu hoàn toàn từ xương ống bò tươi và gia vị quế hồi nguyên chất? Nhưng người ta đã quen với những bát phở thời bao cấp ngập ngụa bột ngọt đánh lừa vị giác, quen với sự ồn ào của những hàng quán mậu dịch cũ kỹ, làm sao họ hiểu được giá trị của một bát nước dùng thanh tao ninh từ tủy xương?
Đã bảy giờ sáng. Đồng hồ điểm từng khắc nặng nề. Nồi nước dùng trên bếp vẫn sôi sùng sục, hơi nước bốc lên ngào ngạt nhưng chồng bát men sứ Hải Dương vẫn nằm im lìm nguyên vẹn trong thùng gỗ. Không một ai ghé vào ăn.
Cúc nhìn xuống đôi bàn tay đỏ ửng vì cóng buốt của mình, rồi lại nhìn sang bé Mây đang ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu con cạnh bà Nhẫn, lòng chùng xuống như có một tảng đá đè nặng. Chẳng lẽ ngay trong ngày đầu tiên khởi nghiệp, cô đã phải nếm mùi thất bại cay đắng thế này sao? Tiền mua xương thịt sớm nay đã ngốn gần hết số vốn liếng ít ỏi, nếu nồi phở này ế ẩm phải đổ đi, ngày mai mẹ con cô biết lấy gì để sống?
Bà Nhẫn ngồi bên quầy nước chè thấy vậy liền thở dài, bước sang khẽ vỗ vào vai Cúc an ủi “Vạn sự khởi đầu nan con ạ. Người phố này người ta quen thói ăn đâu ngồi đấy, lại thêm cái tính chuộng chỗ quen. Cứ bình tĩnh, mùi phở thơm ngát thế này, ngữ nào lát nữa chẳng có người sành ăn ghé vào.”
Cúc khẽ cắn môi, gật đầu nhưng ánh mắt vẫn không giấu nổi vẻ âu lo, thảng thốt.
Bảy giờ mười lăm phút.
Từ phía dốc Hàng Đậu, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi đang gò lưng kéo một chiếc xe bò chất đầy những sọt cam sành nặng trĩu. Ông mặc chiếc áo trấn thủ rách tả tơi hai bên nách, chiếc quần vải thô xắn cao quá bắp chân chằng chịt những vết sẹo và gân guốc nổi cộm. Mồ hôi vã ra trên trán ông chảy ròng ròng xuống hai gò má hốc hác, bốc khói mờ mờ giữa cái rét buốt của trời đông.
Đến đầu ngõ Hàng Khoai, người đàn ông kéo xe từ từ hạ hai càng xe xuống mặt đường, th* d*c từng hồi như muốn đứt hơi. Ông đưa ống tay áo quẹt vội mồ hôi trên trán, đưa mắt nhìn quanh tìm chỗ nghỉ chân. Đúng lúc ấy, một làn gió bấc thổi tạt hương thảo quả, quế chi cay nồng từ nồi nước dùng của Cúc bay thẳng vào mặt ông.
Người phu xe khẽ khựng lại, hai cánh mũi phập phồng hít một hơi thật sâu. Đôi mắt mệt mỏi của ông bỗng sáng lên một tia ngạc nhiên kỳ lạ. Ông nhìn chằm chằm vào đôi thùng gỗ mộc mạc của Cúc, rồi chậm rãi bước lại gần, cất giọng khàn đặc vì sương gió “Mùi... mùi phở này thơm quá. Cô hàng ơi, có bán phở chín không đấy?”
Nghe thấy tiếng hỏi, Cúc giật mình ngẩng phắt dậy. Lồng ngực cô thắt lại một nhịp vì mừng rỡ, vội vã đáp lời “Dạ có ạ! Cháu có phở bò chín, nạm gầu giòn thơm lắm bác ơi. Mời bác ngồi vào chiếc ghế gỗ này cho đỡ mỏi chân ạ!”
Bác phu xe nhìn quanh chiếc ghế gỗ con con kê sát chân tường gạch rêu phong, khẽ ngập ngừng rồi thò bàn tay thô ráp, nhem nhuốc bụi than vào túi áo ngực. Ông rút ra một bọc tiền lẻ nhàu nát, đếm đi đếm lại từng đồng tiền giấy mười đồng, hai mươi đồng nhăn nhúm “Tôi vừa bốc vác xong chuyến xe cam từ bến Long Biên lên, trong túi chỉ còn đúng một nghìn ba trăm đồng thôi cô hàng ạ. Liệu... liệu cô có bán cho tôi một bát phở chín một nghìn ba được không? Cho tôi nhiều bánh phở một tí, làm lụng cả đêm đói lả cả ruột gan rồi...”
Nhìn những đồng tiền lẻ nhàu nát còn ướt đẫm mồ hôi của người lao động nghèo, trong lòng Cúc chợt dâng lên một niềm trắc ẩn sâu sắc. Cô nhớ đến người cha quá cố ngày xưa, nhớ đến những đêm đông anh Thành cũng từng đi bốc vác thuê kiếm từng hào lẻ về nuôi hai mẹ con.
“Bác cứ ngồi xuống đây đi ạ!” Cúc mỉm cười dịu dàng, nụ cười làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú, “Một nghìn ba cũng được bác ạ. Cháu làm cho bác một bát thật đầy đặn, bác ăn cho ấm bụng lấy sức mà làm việc.”
Người lao động nghèo ngỡ ngàng nhìn Cúc, đôi mắt già nua ánh lên niềm cảm kích khôn xiết “Cảm ơn cô hàng... Cô tốt bụng quá...”
Không để khách phải đợi lâu, Cúc thoăn thoắt bắt tay vào việc. Đôi bàn tay vốn quen may vá thêu thùa lúc này bỗng trở nên điêu luyện, chuẩn xác đến lạ kỳ.
Cô mở vung nồi nước dùng đang sôi sùng sục, nhấc chiếc muôi thủng bốc một vốc bánh phở trắng muốt, mềm mướt thả vào chần đều trong nồi nước sôi. Bánh phở tráng thủ công bằng gạo mùa nở đều, mềm mại mà không hề bị bở nát. Cúc vẩy mạnh tay cho ráo kiệt nước rồi trút gọn gàng vào lòng chiếc bát chiết yêu men lam Hải Dương.
Tiếp đó, cô cầm chiếc dao nhíp sắc lẹm, nhẹ nhàng lướt trên tảng thịt gầu bò luộc chín tới. Từng lát thịt mỏng tang như cánh ve, viền mỡ vàng óng ánh giòn sần sật được xếp đều tăm tắp lên trên lớp bánh phở trắng ngần. Cúc rắc thêm một nhúm hành hoa cọng dài đã chần tái, một chút mùi tàu thái chỉ xanh mướt và vài cọng ớt chỉ thiên đỏ au.
Cuối cùng, Cúc cầm chiếc muôi nhôm to bản, khuấy nhẹ lớp nước dùng trong vắt, múc một muôi nước sôi sùng sục chan đều từ thành bát vào giữa. Nước dùng nóng rẫy dội qua thớ thịt, làm chín tới từng cọng hành, đánh thức toàn bộ hương thơm tinh túy của quế chi, hoa hồi và thảo quả bốc lên ngùn ngụt.
“Dạ, cháu mời bác xơi phở ạ. Bác dùng thêm chút giấm ớt tỏi hoa hồi cho ấm bụng nhé.” Cúc cẩn thận bưng bát phở nóng hôi hổi bằng hai tay đặt lên chiếc ghế con trước mặt người phu xe.
Bát phở hiện ra trước mắt người phu xe đẹp như một bức tranh thủy mặc: nước dùng trong veo lấp lánh mỡ vàng, sợi phở trắng mướt ẩn hiện dưới những lát thịt bò nâu sẫm, điểm xuyết màu xanh tươi rói của hành mùi và sắc đỏ cay nồng của ớt tươi.
Người phu xe cầm đôi đũa tre, không kìm được liền cúi xuống húp thử một thìa nước dùng đầu tiên.
Vừa nuốt xong ngụm nước, đôi mắt kèm nhèm của ông bỗng mở to hết cỡ. Người đàn ông sững sờ mất vài giây, rồi khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào từ đáy họng “Trời đất ơi...”
Ông vội vàng gắp một miếng bánh phở kèm lát thịt gầu giòn đưa vào miệng nhai chậm rãi. Vị béo bùi của gầu bò, độ mềm mướt của bánh phở quyện chặt lấy vị ngọt thanh khiết, sâu thẳm của tủy xương bò ninh kỹ. Gương mặt người phu xe giãn ra đầy khoan khoái, dường như hơi ấm thanh ngọt của bát phở vừa đánh tan đi mọi nỗi mệt mỏi rã rời sau một đêm dài thức trắng bốc vác.
Ông cắm cúi ăn. Ông ăn một cách ngấu nghiến, say mê như sợ bát phở sẽ nguội mất. Tiếng húp nước rột rẹt vang lên ngon lành. Chẳng mấy chốc, bát phở chiết yêu đã cạn trơ đáy, không còn sót lại dù chỉ một giọt nước dùng hay một sợi hành hoa.
Đặt chiếc bát không xuống ghế, người đàn ông thở phào một hơi dài đầy khoan khoái. Mồ hôi trên trán ông lại rịn ra, nhưng lần này là mồ hôi của sự no ấm và sảng khoái. Ông đưa tay áo chùi mép, nhìn Cúc bằng ánh mắt nể phục tận đáy lòng “Ngon quá cô hàng ơi! Đúng là phở rồi! Ngọt từ xương tủy thật sự chứ không phải cái thứ nước lã pha bột ngọt ngoài chợ đâu! Mấy chục năm nay từ hồi giải phóng thủ đô đến giờ, tôi mới lại được ăn một bát phở đúng chất kinh kỳ, thơm lừng mùi thảo quả thế này. Cô nấu khéo lắm, khéo y như các cụ nghệ nhân Hàng Bạc ngày xưa!”
Lời khen ngợi mộc mạc, chân thành của người phu xe như một dòng suối ấm tưới mát tâm hồn đang khô héo vì lo âu của Cúc. Hai mắt cô ngân ngấn nước, bờ mi cong rung rinh vì xúc động “Bác... bác quá khen rồi ạ. Cháu đội ơn bác đã mở hàng giúp cháu.”
Người đàn ông dốc cạn túi áo, đặt đủ một nghìn ba trăm đồng gồm những tờ tiền lẻ nhăn nhúm lên mặt thùng gỗ, rồi đứng dậy cười rạng rỡ “Mai tôi lại ra bến kéo xe, tôi sẽ rủ thêm mấy anh em cửu vạn mạn cầu Long Biên sang đây ăn phở của cô. Cứ giữ đúng cái vị thanh tao này nhé cô hàng, người sành ăn ở đất này không để một gánh phở ngon thế này bị chìm đâu!”
Bác phu xe xốc lại chiếc xe bò, vừa sải những bước chân thoăn thoắt vừa huýt sáo vang cả góc phố, để lại Cúc đứng lặng bên thùng phở.
Cô run run đưa tay nhặt những đồng tiền lẻ nhàu nát trên mặt gỗ. Những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi mặn chát của người lao động nghèo, nhưng lại là những đồng tiền chân chính đầu tiên mà chính đôi bàn tay cô kiếm được từ nồi nước dùng gia truyền của cha. Một tia hy vọng ấm áp, tinh khôi bỗng bừng sáng trong lòng Cúc, xua tan đi nỗi mặc cảm tự ti và sự sợ hãi đè nặng bấy lâu nay.
Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang.
Gió từ phía sông Hồng bỗng nhiên đổi chiều, rít lên từng hồi ghê rợn qua những rặng xà cừ cổ thụ. Bầu trời Hà Nội đang sáng rõ bỗng chốc sầm tối lại, những đám mây xám xịt từ phương Bắc cuồn cuộn kéo về che kín cả khoảng không gian trên nóc chợ Đồng Xuân.
Không khí lạnh buốt đột ngột ập xuống như cắt da cắt thịt. Rồi không một lời báo trước, những giọt mưa phùn buốt giá bắt đầu giăng mắc, quất ràn rạt xuống góc phố Hàng Khoai. Gió thốc từng cơn điên cuồng làm bay tung manh bạt che mưa rách nát bên hiên nhà, quất thẳng những hạt nước buốt nhói vào ngọn lửa than đỏ hồng đang rực cháy trong nồi nước phở của Cúc. Đợt gió mùa đông bắc dữ dội nhất trong năm đã chính thức tràn về kinh kỳ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
