Chương 2: Chiếc Ba Lô Và Mảnh Đạn Cũ
Tiếng còi tàu hụ lên từng hồi dài rền rĩ, xé toạc màn sương mù xám đục đang trùm kín mặt sàn sắt hoen gỉ của cây cầu Long Biên. Đoàn tàu bánh sắt nặng nề trườn qua những nhịp dầm thép cổ kính, rùng mình một cái rồi giật cục dừng hẳn bên ke ga gạch đá loang lổ. Khói than đá khét lẹt quyện với hơi sương buốt giá mùa đông phả thẳng vào mặt, khiến Tuấn khẽ nheo mắt lại.
Anh đứng tựa vào thành cửa toa tàu số bốn, bàn tay thô ráp chai sần siết chặt lấy chiếc quai vải dù của chiếc ba lô con cóc bạc phếch. Khi buông tay bước xuống bậc lên xuống bằng sắt lạnh ngắt, bắp chân phải của anh bỗng giật thót một cơn đau buốt tận tủy xương. Bàn chân vừa chạm xuống mặt ke ga trơn nhẫy nước mưa phùn, đầu gối Tuấn hơi khuỵu xuống. Mảnh đạn cối nằm sâu nơi thớ thịt bắp chân lại trở chứng báo hiệu một đợt gió mùa đông bắc mới tràn về. Anh cắn chặt môi, đứng chôn chân mất vài giây để cơn co giật nơi bắp thịt dịu đi, rồi gượng thẳng người, bước những bước khập khiễng hòa vào dòng người túa ra từ các toa tàu.
Thủ đô Hà Nội của những ngày giáp Tết năm 1989 hiện ra trước mắt anh ồn ã và náo nhiệt đến mức làm người lính vừa rời chiến hào cảm thấy choáng ngợp. Mới sáu giờ sáng mà khắp sân ga Long Biên và dốc Hàng Khoai đã đông nghịt người. Tiếng còi xe máy Babetta nổ giòn bành bạnh nhả khói xanh mù mịt, tiếng xích líp khô dầu của hàng trăm chiếc xe đạp Thống Nhất, Phượng Hoàng rào rào chen chúc qua khúc cua hẹp. Tiếng người ta gọi nhau í ới, tiếng quát tháo của cánh cửu vạn bốc dỡ hàng nông sản, tiếng đòn gánh tre kĩu kịt chở đầy những bồ cam, sọt bưởi từ bãi sông Hồng đưa lên chợ Đồng Xuân tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn, cuồn cuộn sức sống.
Sau chính sách Đổi Mới, nhịp sống mưu sinh nơi phố thị dường như đang cựa mình bung phá sau bao năm tháng kìm nén dưới chế độ tem phiếu. Người ta vội vã lao vào kiếm tiền, mua bán, giành giật từng tấc hè, từng góc phố để đặt gánh hàng xén, quầy nước chè hay xe hoa quả. Giữa biển người xuôi ngược tấp nập ấy, Tuấn đứng chơ vơ bên gốc cột đèn sắt gỉ sét của ke ga. Bộ quân phục Tô Châu màu cỏ úa đã giặt đến ngả sang màu vàng cát, chiếc áo trấn thủ trần trám sờn rách ở gấu áo và chiếc ba lô con cóc lép kẹp trên vai biến anh thành một kẻ xa lạ, lạc lõng hoàn toàn giữa dòng chảy gấp gáp của thời cuộc.
Tuấn hít một hơi sâu buồng phổi. Mùi xăng dầu pha lẫn mùi bùn đất ẩm ướt bốc lên từ vỉa hè bỗng làm ngực anh thắt nghẹn lại. Tiếng còi tàu rít lên phía sau lưng đột ngột kéo tâm trí anh trôi ngược về những ngày tháng đẫm máu nơi dải đất biên cương Vị Xuyên chưa đầy một năm trước.
Cũng trong một buổi sớm mù sương buốt lạnh như thế này, trên sườn đồi Yên Ngựa ngập ngụa bùn đất và đá tai mèo lở loét, đợt pháo kích của đối phương trút xuống như mưa rào. Căn hầm chữ A rung lên bần bật, đất đá vùi lấp cả nòng súng. Kiên – người đồng đội thân thiết nhất cùng trung đội, chàng trai phố cổ Hàng Đào tròn hai mươi tuổi – đã gục xuống ngay trên cánh tay Tuấn. Mảnh đạn pháo phạt ngang ngực áo Kiên, máu tươi xối xả nhuộm đỏ thẫm vạt áo Tô Châu đẫm bùn. Bàn tay run rẩy của Kiên níu chặt lấy cổ áo Tuấn, đôi mắt mở to ngước nhìn trời mù mịt, tiếng thở hắt ra đứt quãng giữa mùi thuốc súng khét lẹt “Anh Tuấn... Em không về được với u nữa rồi... Nếu anh sống sót về Hà Nội... nhớ ghé qua Hàng Khoai... ăn giùm em bát phở bò... Em thèm vị nước dùng của phố mình quá anh ơi...”
Đôi bàn tay Tuấn khi ấy đã cuống cuồng bịt lấy miệng vết thương trên ngực người em, nhưng máu vẫn cứ trào qua kẽ ngón tay ấm nóng rồi lạnh dần đi giữa cái rét căm căm của núi rừng biên giới. Kiên nhắm mắt xuôi tay khi mảnh đạn găm vào bắp chân Tuấn vẫn còn đang ứa máu ròng ròng.
Ký ức tàn khốc ấy dội về như một nhát dao cứa thẳng vào tâm can người lính phục viên. Tuấn vô thức đưa bàn tay thô ráp lên ôm lấy ngực mình. Kiên đã nằm lại nơi nghĩa trang biên cương xanh ngắt bóng thông cằn, còn anh, mang theo thân thể thương tật và mảnh đạn cũ trong da thịt trở về đây. Anh còn sống, nhưng linh hồn dường như đã bỏ lại một nửa nơi chiến hào khói lửa. Giữa thủ đô phồn hoa đang chuyển mình từng ngày, anh bơ vơ tự hỏi mình sẽ sống thế nào, làm được gì với một bên chân khập khiễng và hai bàn tay trắng.
Gió đông rít qua tai nhắc Tuấn trở về với thực tại. Anh chỉnh lại quai ba lô, bước từng bước nặng nhọc men theo con dốc dẫn xuống đường gầm cầu Long Biên. Men theo lời dặn của một người đồng đội cũ đã xuất ngũ từ năm ngoái, Tuấn tìm đến khu vực bốt nước Hàng Đậu để tìm chốn nương thân.
Bốt nước Hàng Đậu sừng sững như một pháo đài đá cổ kính rêu phong xám xịt giữa ngã sáu giao nhau. Xung quanh bốt, những cây bàng cổ thụ đã trút sạch lá, cành trơ trụi giương lên nền trời xám bạc như những nét vẽ mực tàu nguệch ngoạc. Tuấn rẽ vào một con ngõ sâu hun hút gần đó, nơi những dãy nhà cấp bốn chen chúc nhau dưới chân tường gạch rêu phong. Sau một hồi hỏi han các cụ già ngồi bên ngưỡng cửa, anh tìm được một gian chái nhỏ nằm nép mình ở góc sâu nhất của xóm trọ.
Căn phòng chật chội chưa đầy mười mét vuông, vốn là nơi chứa củi của một gia đình mậu dịch viên cũ nay ngăn ra cho thuê. Mái lợp bằng những tấm fibro xi măng đã ngả màu ố đen, tường vôi vàng bong tróc loang lổ để lộ cả những hàng gạch non xỉn màu vì ẩm thấp. Cánh cửa gỗ ghép bằng mấy thanh ván tạp ọp ẹp, cài then bằng một then sắt hoen gỉ. Đồ đạc trong phòng chẳng có gì ngoài chiếc phản gỗ thông mục kê trên bốn chồng gạch xỉ và một chiếc bàn gỗ con con tróc sơn. Bên ngoài cửa sổ chấn song gỗ là khoảng sân đất chung sát cạnh bể nước mưa phủ đầy rêu xanh.
Bà chủ nhà – một phụ nữ trung niên với ánh nhìn dò xét đầy vẻ thực dụng – nhìn bộ quân phục cũ kỹ và dáng đi khập khiễng của anh, cất giọng the thé “Mười lăm nghìn đồng một tháng, trả tiền trước đầu tháng, điện nước dùng chung ngoài bể tự chia nhau mà trả. Ở được thì đặt cọc, không thì thôi, ngoài kia người buôn chuyến xếp hàng dài chờ thuê đấy.”
Mười lăm nghìn đồng là một số tiền không hề nhỏ đối với Tuấn lúc này. Toàn bộ tiền trợ cấp xuất ngũ của thương binh loại bốn sau khi trừ tiền vé tàu từ ga Yên Bái xuôi về Hà Nội chỉ còn lại vỏn vẹn trong túi áo ngực chừng vài chục nghìn đồng. Nhưng nhìn gian chái kín gió hơn ngoài hè phố, lại gần khu vực chợ búa dễ bề tìm việc làm thuê, Tuấn không đắn đo nhiều.
“Vâng, cháu xin thuê ạ. Cháu gửi bác tiền tháng này.”
Tuấn rút trong túi áo ngực chiếc khăn tay mùi soa cũ kỹ bọc cẩn thận những đồng tiền giấy năm mươi, một trăm đồng và vài tờ nghìn đồng phẳng phiu đếm đủ trao cho bà chủ nhà. Nhận tiền xong, người đàn bà trao cho anh chiếc chìa khóa gỉ sét rồi quay ngoắt người bước đi, miệng còn lẩm bẩm tính toán giá gạo giá dầu.
Cánh cửa khép lại sau lưng, ngăn bớt cái lạnh căm căm của gió bấc ngoài ngõ. Tuấn đặt chiếc ba lô con cóc xuống mặt phản gỗ phát ra tiếng “cộp” trầm đục. Anh ngồi phịch xuống mép phản, đưa hai bàn tay ôm lấy mặt, thở ra một hơi dài nghe rõ tiếng run rẩy của hơi thở lạnh buốt. Gian phòng ẩm mốc, sặc mùi vôi vữa cũ kỹ và hơi ẩm từ lòng đất bốc lên. Nhưng dẫu sao, đây cũng là một mái che kiên cố, một góc nhỏ để người lính tàn tật như anh đặt lưng sau những năm tháng lăn lộn nơi rừng thiêng nước độc.
Tuấn cúi người, cởi bỏ đôi giày vải bộ đội bết đặc bùn đất đường dài. Chiếc tất len quân nhu đã thủng ở gót chân để lộ phần da thịt tái nhợt vì rét. Anh vén ống quần Tô Châu lên quá gối. Bắp chân phải của anh nổi rõ một vết sẹo lồi dài bằng ngón tay, vùng da xung quanh thâm tím lại. Dưới lớp thịt chai cứng ấy, mảnh kim loại lạnh ngắt của quả đạn cối vẫn đang nằm im ỉm, mỗi lần thời tiết trở gió lại tì siết vào dây thần kinh làm anh nhức buốt đến run rẩy cả người. Tuấn dùng hai bàn tay thô ráp xoa bóp thật mạnh quanh vết sẹo. Hơi ấm từ lòng bàn tay truyền vào làm bắp thịt mềm dần ra, cơn đau dịu đi đôi phần.
Anh mở ba lô con cóc, lôi ra chiếc áo trấn thủ trần bông cũ cuộn tròn làm gối, chiếc chăn chiên bộ đội màu xám ngoét gập đôi lại làm đệm lót. Gia tài của một người lính trở về thời bình chỉ vỏn vẹn có ngần ấy thứ, cùng chiếc biđông nhôm móp méo và tấm ảnh đen trắng chụp chung cả tiểu đội trước ngày xuất kích. Tuấn đặt tấm ảnh lên đầu phản gỗ, lặng lẽ nhìn những gương mặt trẻ măng rạng rỡ của đồng đội, ngực nhói lên từng đợt đau xót.
Sau khi thu dọn chỗ ở tạm bợ, trời đã ngả dần về chiều muộn. Mùa đông Hà Nội trời tối rất nhanh. Mới hơn năm giờ chiều mà sương mù đã giăng kín các ngõ ngách, ánh hoàng hôn xám xịt nhạt nhòa chìm nghỉm sau những mái ngói rêu phong của khu phố cổ. Bụng đói cồn cào sau cả ngày chỉ gặm mẩu bánh mì khô khốc mua vội trên tàu, Tuấn khoác lại chiếc áo bông cũ, cài chặt chiếc khuy cổ áo rồi khép cửa phòng trọ, bước chân khập khiễng lần ra phía đầu ngõ Hàng Khoai để tìm chút nước nóng lót dạ.
Gió bấc lúc này càng lúc càng thổi mạnh, từng cơn gió hun hút luồn qua các ngách phố cổ làm những chiếc lá bàng khô cuối cùng trên cành rụng lả tả xuống vỉa hè. Đầu ngõ Hàng Khoai, dưới gốc cây xà cừ cổ thụ xù xì, một quán nước chè chén nhỏ nép mình bên hiên ngôi nhà Pháp cổ hai tầng loang lổ vôi vàng.
Quán nước đơn sơ chỉ có một chiếc chõng tre con con đã lên nước bóng lộn, vài chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc mạc và một cái hỏa lò đất nung nhóm bằng mùn cưa đang ủ ấm chiếc ấm tích bọc trong bao cói dày. Ngồi sau quầy hàng là một bà lão chừng gần sáu mươi tuổi, dáng người đon đả, lưng hơi còng, mái tóc hoa râm vấn khăn nhung đen, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Đó chính là bà Nhẫn.
Thấy bóng người lính lạ mặt bước đi tập tễnh tiến vào, bà Nhẫn dừng tay têm trầu, ngước đôi mắt hiền từ đầy vẻ từng trải lên nhìn “Kìa chú lính, vào đây ngồi cho khuất gió. Trời rét thế này mà phong phanh manh áo bông mỏng thế kia thì buốt thấu ruột đấy.”
Tuấn khẽ gật đầu chào, giọng trầm thấp, lễ độ “Cháu chào u. U cho cháu xin một chén chè nóng với ạ.”
“Ừ, ngồi xuống đây con,” bà Nhẫn với tay lấy chiếc chén hoa hòe men sứ đã ngả màu sành, nhấc ấm tích trong giỏ ủ rót ra một dòng nước chè xanh đặc sánh, bốc khói nghi ngút. “Chè mạn Thái Nguyên xịn đấy, nóng giãy tay, uống vào cho ấm bụng.”
Tuấn đón lấy chiếc chén nóng bỏng từ tay bà cụ bằng cả hai bàn tay thô ráp. Hơi nóng phả lên mặt làm tan đi lớp sương lạnh bám trên hàng lông mày rậm rậm. Anh nâng chén lên nhấp một ngụm nhỏ. Vị chè đầu tiên chạm vào đầu lưỡi đắng đót, chát tê, nhưng chỉ vài giây sau, một vị ngọt thanh sâu sắc dịu dàng lan tỏa khắp cuống họng, làm bừng ấm cả lồng ngực đang cóng buốt.
“Cậu lính mới ở mặt trận về à?” Bà Nhẫn vừa têm lại miếng trầu vừa hỏi bằng giọng ấm áp, xót xa. Ánh mắt bà dừng lại ở chiếc ba lô con cóc dưới chân Tuấn và dáng đi khập khiễng khi nãy. “Trông phong trần thế kia, chắc vừa rời đơn vị?”“Dạ, cháu phục viên từ Vị Xuyên về u ạ. Cháu vừa xuống ga Long Biên sáng nay,” Tuấn đáp ngắn gọn, không muốn kể lể dài dòng về vết thương hay chiến trường.
Bà Nhẫn khẽ thở dài, trong mắt ánh lên nỗi xót thương chân thành của một người mẹ nơi hậu phương “Tội nghiệp... Bao nhiêu đứa con đi mà chẳng đứa nào lành lặn trở về. Nhưng về được đến đất này, hít thở được không khí thanh bình của thủ đô là trời Phật còn thương lắm rồi chú mày ạ. Cứ uống thêm chén nữa cho ấm người.”
“Cháu cảm ơn u.”
Tuấn ngồi lặng lẽ bên góc chõng tre, hai tay ôm lấy chén chè nóng, ánh mắt trầm ngâm nhìn ra khoảng không gian trước mặt. Giữa tiếng gió rít qua những tán cây xà cừ và tiếng xe cộ lách cách ngoài phố lớn, sự chú ý của anh bỗng nhiên bị thu hút bởi một khoảng hiên nhà cách quán nước chè chỉ chừng vài bước chân.
Dưới mái hiên ngôi nhà cổ có bờ tường rêu phong loang lổ vết vôi vàng, một người phụ nữ trẻ đang ngồi cặm cụi làm việc bên một chiếc chậu đồng cũ.
Người phụ nữ ấy có vóc dáng mảnh mai, dẻo dai nhưng phảng phất nét gầy guộc của người phải thức khuya dậy sớm nhọc nhằn. Cô mặc một chiếc áo bông chần màu mận chín đã sờn chỉ ở hai bên bờ vai, mái tóc đen dài mượt mà được vấn gọn gàng sau gáy bằng một chiếc cặp ba lá bằng kim loại sáng loáng. Khuôn mặt cô thon thả, nước da trắng xanh vì sương gió mùa đông, đôi mắt bồ câu đen láy đượm buồn nhưng ẩn chứa một vẻ kiên định, tháo vát lạ thường.
Đó chính là Cúc.
Lúc này, Cúc đang ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu con, đôi bàn tay mảnh khảnh đỏ ửng vì buốt giá đang tỉ mẩn dùng một mảnh khăn bông mềm lau chùi từng chiếc bát men sứ Hải Dương. Nước trong chiếc chậu đồng bốc lên làn khói mỏng manh, chắc hẳn cô vừa xin được chút nước ấm pha vào nước giếng để rửa bát cho đỡ cóng. Từng chiếc bát sứ màu trắng vẽ hoa chanh xanh lam được cô nhấc lên nhẹ nhàng, dùng khăn lau khô từng đường mép rồi xếp cẩn thận từng chồng, từng chồng ngay ngắn vào ngăn dưới của chiếc thùng gỗ thông già dày dặn đặt bên cạnh.
Động tác của cô uyển chuyển, cẩn trọng và nâng niu đến mức như thể cô đang lau chùi những báu vật quý giá nhất trần đời, chứ không phải những chiếc bát phở men sứ bình dân bán rong nơi hè phố. Mùi gỗ thông già ngấm nước từ chiếc thùng phở tỏa ra một làn hương thơm ngai ngái, mộc mạc, hòa lẫn vào cái lạnh của chiều đông.
Ngồi ngay bên cạnh bực thềm, cách chân Cúc chừng nửa thước, một bé gái nhỏ chừng bốn tuổi đang ngồi thu lu trên manh chiếu rách. Con bé mặc chiếc áo len đan tay màu đỏ đã sờn chỉ ở cổ áo, hai má bầu bĩnh đỏ ửng vì lạnh như hai trái đào chín, mái tóc buộc túm hai chỏm lắc lư theo từng nhịp cử động. Đôi bàn tay nhỏ xíu bụ bẫm của con bé đang mải mê xếp những chiếc vỏ ốc nhỏ thành từng vòng tròn quanh chân mẹ, thi thoảng lại ngước đôi mắt tròn xoe, đen láy lên cười toe toét “Mẹ ơi, con xếp xong cái hàng rào cho mẹ rồi này. Gió không thổi vào chân mẹ được nữa đâu!”
Cúc dừng tay lau bát, cúi xuống mỉm cười dịu dàng. Nụ cười của cô như làm bừng sáng cả góc hiên nhà rêu phong u tối. Cô đưa bàn tay dù đang buốt lạnh nhưng vẫn cố ấp vào má con gái, giọng ngọt ngào ấm áp như rót mật “Mây của mẹ ngoan quá. Con ngồi nép vào góc kẻo gió lùa nhé, mẹ lau nốt mấy cái bát này rồi mẹ dắt con vào nhà ăn khoai luộc.”
“Dạ vâng ạ!” Con bé ríu rít gật đầu, ngoan ngoãn thu chân lại, nép sát vào vạt áo bông của mẹ.
Chứng kiến toàn bộ cảnh tượng ấy từ chiếc bàn gỗ quán nước chè, Tuấn bỗng thấy lồng ngực mình chùng xuống một nhịp. Bàn tay đang cầm chén chè nóng khẽ siết lại.
Ở người đàn bà góa bụa trẻ tuổi ấy toát lên một vẻ nhẫn nại, kiên cường đến nao lòng. Bờ vai gầy guộc kia trong manh áo sờn rách dường như đang phải gồng gánh cả một bầu trời gian khó để che chở cho đứa con thơ dại. Đôi bàn tay chai sần đỏ ửng vì giá rét, ánh mắt ấm áp nâng niu từng chiếc bát sành, từng nụ cười hồn nhiên của đứa trẻ... tất cả tạo nên một bức tranh gia đình vừa ấm cúng, vừa xót xa, chạm thẳng vào góc khuất sâu kín nhất trong tâm hồn người lính phục viên.
Bao nhiêu năm lăn lộn nơi chiến trường bom đạn, Tuấn chỉ quen với tiếng rít của pháo cối, mùi khói khét lẹt của thuốc súng và những cái chết bất ngờ của đồng đội. Anh từng nghĩ trái tim mình đã hóa đá, đã nguội lạnh hoàn toàn sau những mất mát quá lớn của chiến tranh. Anh trở về thành phố này như một bóng ma lạc thời, tự ti vì thương tật nơi bắp chân, hoang mang không biết ngày mai sẽ trôi dạt về đâu.
Nhưng lúc này đây, nhìn đôi bàn tay đỏ bầm vì nước lạnh của người phụ nữ ấy vẫn cẩn trọng lau từng chiếc bát men sứ để chuẩn bị cho buổi mưu sinh nhọc nhằn sáng sớm mai, một cảm giác xót xa, thương cảm và kính phục bỗng trào dâng mãnh liệt trong lòng Tuấn. Cuộc chiến mưu sinh nơi phố chợ thời bình này, hóa ra cũng khốc liệt và cần nhiều sự dũng cảm chẳng kém gì chiến hào biên giới.
Bà Nhẫn ngồi bên cạnh dường như nhận ra ánh nhìn chăm chú của Tuấn. Bà khẽ thở dài một tiếng, cất giọng thì thào đầy vẻ xót xa “Tội nghiệp cái Cúc... Chồng nó chết vì tai nạn sập giàn giáo hai năm trước, để lại cho nó đứa con thơ dại với một đống nợ nần tiền thuốc men. Hai năm qua nó cặm cụi may vá thuê kiếm từng đồng hào còm nuôi con bé Mây. Mới mãn tang chồng hôm qua, nay nó quyết tâm quẩy lại gánh phở của ông cụ thân sinh ngày xưa để ra đầu ngõ này mưu sinh đấy. Đàn bà con gái một thân một mình góa bụa, lại va vào chốn chợ búa phức tạp này, chẳng biết rồi có trụ nổi không...”
Lời tâm sự của bà Nhẫn rơi vào tai Tuấn như từng giọt nước nhỏ vào mặt hồ phẳng lặng, làm dậy lên những gợn sóng xao xác trong lòng. Hóa ra cô ấy tên là Cúc. Một người phụ nữ mang trên vai nỗi đau góa bụa, nhưng không hề gục ngã trước số phận cay đắng.
Tuấn khẽ nhấp thêm một ngụm chè, ánh mắt vẫn không rời khỏi bóng dáng mảnh mai bên hiên nhà.
Lúc này, Cúc đã lau đến chiếc bát men sứ cuối cùng. Cô cẩn thận đặt nó l*n đ*nh chồng bát trong thùng gỗ, rồi thở phào một hơi nhẹ nhõm. Khói trắng từ miệng cô phả ra tan biến vào không khí lạnh buốt. Cúc đưa tay lên sửa lại chiếc cặp ba lá sau gáy, rồi vô tình nghiêng đầu nhìn sang phía quán nước chè đầu ngõ.
Bốn mắt bất chợt chạm nhau giữa khoảng không gian chiều muộn.
Ánh mắt sâu thẳm, trầm mặc nhưng ấm áp lạ thường của người lính phục viên xa lạ chiếu thẳng vào mắt Cúc. Cúc thoáng giật mình, bờ mi cong khẽ chớp chớp. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi giữa làn gió đông hun hút, dường như người phụ nữ ấy cũng cảm nhận được sức nặng nơi ánh nhìn của anh, đôi bờ mi cong khẽ chớp chớp bối rối.
Gặp phải ánh nhìn quá đỗi chăm chú và thâm trầm của Tuấn, gương mặt Cúc bỗng ửng hồng lên vì ngượng ngùng. Cô vội vã cụp hàng mi dài xuống, khẽ nghiêng đầu né tránh rồi cúi người bế xốc bé Mây vào lòng, cất giọng lí nhí giấu đi vẻ bối rối “Mây ngoan... theo mẹ vào nhà ăn khoai nào...”
Tuấn cũng giật mình bừng tỉnh, vội vã dời ánh mắt đi nơi khác, đưa chén chè đã nguội bớt lên môi nhấp vội một ngụm để che đi sự lúng túng hiếm hoi của một người lính dạn dày sương gió. Trái tim nơi lồng ngực anh bỗng dưng đập nhanh hơn một nhịp khác thường.
Nhìn bóng dáng mảnh khảnh của hai mẹ con Cúc khuất sau cánh cửa liếp đơn sơ khép hờ, giữa tiếng gió mùa đông bắc gầm gào luồn qua những mái ngói rêu phong phố Hàng Khoai, Tuấn chợt thấy một tia ấm áp kỳ lạ, tinh khôi và dịu nhẹ như ánh nắng ban mai, chầm chậm len lỏi qua cõi lòng vốn đã nguội lạnh, băng giá từ rất lâu của mình.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
