Chương 8: Cửa Núi Then Cài

Cơn rung chuyển từ lòng đất mỗi lúc một thêm dữ dội. Dưới đáy thung lũng sâu thẳm, vết nứt Vực U Minh tựa như một miệng vết thương khổng lồ vừa bị xé toạc, phát ra những tiếng gầm gừ ùng oục ghê rợn. Từng đợt chướng khí màu xám đen ngùn ngụt bốc lên, cuộn trào như thác lũ tràn qua triền đá, xộc thẳng vào các khu lán trại của đám dân phu và thợ thuyền. Mùi tanh nồng của bùn lầy mục rữa xen lẫn mùi lưu huỳnh hôi hám quét qua đâu, cây cỏ ven đường lập tức khô héo, rũ rượi chuyển sang màu đen cháy.

“Khụ... khụ! Chướng độc! Chướng độc tràn lên rồi!”

Tiếng la hét kinh hoàng xé toạc không gian yên ả của buổi trưa. Những người phu khuân vác vừa hít phải một ngụm độc khí liền ôm chặt lấy cổ họng, ngã quỵ xuống nền đá lởm chởm, ho sặc sụa ra từng bọc đờm lẫn máu đen. Trẻ nhỏ khóc thét, người già lảo đảo ngã dúi dụi trong làn sương mù mờ mịt đang nhanh chóng nuốt chửng các lối đi.

Khang Tố Uyển buông con thoi gỗ xuống manh chiếu, đứng phắt dậy. Bà quay sang Tiểu Mạch, giọng đanh gọn nhưng vô cùng trầm tĩnh “Tiểu Mạch, mau bưng chậu nước thảo mộc vào trong, dập bớt lửa lò nhưng giữ lại than ấm! Đừng hoảng, có bà ở đây.”

Cô bé mười hai tuổi tuy mặt mày tái mét vì sợ hãi nhưng vẫn gật đầu dứt khoát, nhanh nhẹn thu dọn các bó sợi ngũ sắc rồi chạy tọt vào lều che chắn.

Bên ngoài ngõ, hàng trăm phàm nhân và tạp dịch rách rưới đang hoảng loạn dìu dắt, cõng bế lẫn nhau tháo chạy thục mạng. Giữa cơn bấn loạn cùng cực, bản năng sinh tồn thôi thúc họ hướng về nơi duy nhất phát ra ánh sáng thanh khiết: đỉnh núi Mây Trôi của Vân Phù Tiên Tông. Đám đông rầm rập giẫm lên sỏi đá, chen lấn xô đẩy nhau trèo lên những bậc đá hoa cương trắng muốt, vừa chạy vừa gào khóc cầu cứu tiên nhân rủ lòng thương xót.

Khang Tố Uyển chống chiếc gậy trúc mòn vẹt, bước nhanh ra lối rẽ dẫn lên chân núi. Đập vào mắt bà và dòng người khốn cùng là một cảnh tượng lạnh lùng đến nghẹn thắt.

Ngay tại bậc đá thứ một trăm, cánh cổng hộ sơn đồ sộ bằng đồng thau của tiên môn đã đóng chặt tự bao giờ, then cài chốt chặt nặng nề hạ xuống dứt khoát. Chưa dừng lại ở đó, luồng linh quang màu lam nhạt của đại trận hộ môn bừng sáng rực rỡ, tạo thành một bức tường khí vô hình dày đặc ngăn cách tuyệt đối giữa đỉnh núi thanh cao và đáy thung lũng ô trọc. Trên mặt tường thành cao vút, vài đệ tử kiếm tu khoác áo lụa trắng đứng chắp tay sau lưng, ánh mắt hờ hững nhìn xuống đám đông bên dưới như nhìn một đàn kiến đang giãy giụa trong vũng nước sôi.

“Tiên sư ơi! Mở cửa cứu mạng chúng tôi với!”

“Con tôi ngạt thở sắp chết rồi, xin các ngài mở đại trận cho chúng tôi vào lánh nạn một canh giờ thôi!”

Những bàn tay gầy trơ xương đập thình thịch vào bức tường kết giới, nhưng đáp lại họ chỉ là những tia điện tím sắc lạnh b*n r* tanh tách, hất văng người gõ ngã nhào xuống bậc thang. Một giọng nói lạnh lùng, mang theo uy áp tu vi từ trên cổng thành truyền xuống, rền vang khắp sườn núi “Chướng độc dơ bẩn, phàm cốt thấp kém không được làm ô uế thánh địa tu hành! Kẻ nào dám làm kinh động tiên sơn, lập tức dùng kiếm khí trảm quyết!”

Lời vừa dứt, vài đạo kiếm quang sắc lẻm quét qua mặt đất trước cổng, chém vỡ vụn hàng chục phiến đá hoa cương để thị uy. Đám đông phàm nhân sợ hãi lùi lại, tiếng khóc than vang lên ai oán, tuyệt vọng đến tột cùng.

Đứng dưới chân bậc thang, Khang Tố Uyển siết chặt thân gậy trúc, đôi mắt già nua ánh lên vẻ thấu suốt lạnh lùng. Năm mươi năm làm việc nơi Thừng Kết Viện, bà hiểu quá rõ bản chất máu lạnh của những kẻ tự xưng là tiên gia. Trong mắt họ, mồ hôi, nước mắt hay thậm chí sinh mạng của vạn người phàm dưới đáy vực cũng chỉ như bụi rác phế phẩm thải ra từ các lò đan dược.

Bà gõ mạnh chiếc gậy trúc xuống phiến đá ba tiếng “cộp, cộp, cộp”, âm thanh tuy không lớn nhưng trầm hùng, dội thẳng vào màng nhĩ mọi người giữa tiếng gào khóc hỗn loạn. Bà cất giọng rành rọt, đanh thép:“Bà con! Cửa tiên môn đã cài then sắt, đừng uổng công quỳ lạy những kẻ không xem đồng loại là con người! Mau lui hết về Hẻm Tro Tàn, gom củi gom than theo lão thân!”

Tiếng gọi điềm đạm mà vững chãi của bà lão bảy mươi tư tuổi tựa như một chiếc cọc neo giữa dòng nước xiết. Mấy người thợ phu nhận ra người vừa chữa khỏi chướng độc cho Tiểu Mạch hôm trước, liền vội vã lau nước mắt, hô hào nhau dìu người già và bế bầy trẻ quay đầu chạy ngược về phía con hẻm tiêu điều.

Về đến căn lều tranh ọp ẹp bên cạnh lò rèn, chướng khí từ thung lũng đã bắt đầu tràn tới mép rào, lượn lờ như những dải lụa đen ngòm bốc mùi hôi thối. Khang Tố Uyển không hề nao núng. Bà phân công dứt khoát “Chúc đệ, bảo thợ thuyền khiêng hết than củi còn đượm sang đây, rải thành một vòng tròn quanh sân lều! Tiểu Mạch, lấy các cuộn chỉ ngũ sắc đã tẩm nước chàm và vỏ đỗ ra đây cho bà!”

Bàn tay chai sần của bà thoăn thoắt tách từng sợi tơ thô mang sắc đỏ rực rỡ của rễ đỗ và sắc xanh mát lành của lá chàm rừng. Ngón tay bà lướt đi nhịp nhàng, uốn lượn, thắt thành hàng chục nút Bình An tròn trịa và nút Bàn Thường đan chéo bất tận không đầu không cuối. Mỗi mối gút thít chặt vào nhau đều vang lên tiếng ‘tách’ dứt khoát, phong tỏa và kết tụ dược tính cùng chính khí trời đất vào bên trong.

Khang Tố Uyển đích thân đem những chuỗi nút dây treo quanh mép mái tranh, buộc dọc theo hàng cọc rào tre và giăng ngang trước lối cửa vào.

Kỳ diệu thay, khi làn sương đen kịt mang theo độc tố vừa ùa tới chạm vào hàng nút dây, các sợi tơ ngũ sắc bỗng khẽ rung lên, tỏa ra một vầng hào quang mờ ảo, ấm áp tựa ánh hoàng hôn. Mùi thảo mộc thơm mát bùng lên, chướng khí hễ chạm phải vầng sáng liền phát ra tiếng xèo xèo như mỡ sôi rồi tan biến thành làn khói trắng vô hại. Cả khoảng sân nhỏ và gian lều tranh của bà Khang trở thành một hòn đảo bình an, ngăn cách hoàn toàn với màn sương độc đang hoành hành ngoài kia.

Màn đêm buông xuống, nuốt chửng thung lũng trong bóng tối mịt mùng.

Bên trong gian lều chật hẹp, hơn ba mươi người già, phụ nữ và trẻ nhỏ chen chúc ngồi tựa vào nhau trên những tấm phản gỗ và manh chiếu rách. Khang Tố Uyển còng lưng bên bếp lửa bập bùng, múc từng bát nước chè tươi nấu cùng rễ cây thảo mộc trao tận tay từng người. Nước chè ấm nóng mang theo vị đắng nhẹ thấm vào cuống họng, làm dịu đi những cơn ho rách ruột, giúp những gương mặt tím tái dần lấy lại huyết sắc.

Trước cửa lều, Chúc Lão Thiết đứng sừng sững như một ngọn tháp đen. Người thợ rèn sáu mươi tuổi khoác chiếc tạp dề da khét lẹt mùi than, hai bàn tay gân guốc nắm chặt cán cây búa thép dựng ngược dưới đất. Ông đưa mắt nhìn bà Khang đang ân cần lau mồ hôi cho một đứa trẻ, rồi lại ngước nhìn l*n đ*nh núi Mây Trôi rực rỡ ánh đèn ngọc bích xa xôi. Đôi mắt đỏ ngầu của người thợ già bốc lên ngọn lửa căm hờn, hàm răng nghiến chặt trèo trẹo “Mẹ kiếp lũ khốn trên núi... Ngày thường thì bóc lột từng cân quặng, vắt kiệt từng giọt mồ hôi của xóm nghèo, đến khi tai ương ập xuống lại đóng chặt then cài, coi chúng ta như chuột bọ chết bờ chết bụi!”

Khang Tố Uyển bước ra hiên, đưa cho ông một bát nước chè còn nghi ngút khói, giọng bà trầm lắng như giếng nước mùa thu “Lòng dạ kẻ ở chốn phù hoa vốn lạnh hơn băng tuyết, oán trách họ chỉ thêm nhọc lòng. Chú Chúc uống bát nước nóng cho ấm ngực. Giữa lúc này, người phàm chúng ta không tự nương tựa vào nhau thì chẳng ai đoái hoài đâu.”

Chúc Lão Thiết đón lấy bát nước, ngực phập phồng nén tiếng thở dài, ngậm ngùi uống cạn.

Khang Tố Uyển bước thêm vài bước ra mép hàng rào, ánh mắt hướng về phía đáy vực xa xăm. Dưới ánh trăng mờ đục, làn chướng khí đen ngòm từ các khe nứt Vực U Minh không hề có dấu hiệu suy giảm, mà trái lại còn cuồn cuộn dâng cao như thủy triều dữ dội, chực chờ nuốt chửng toàn bộ Hẻm Tro Tàn. Những mối nút dây nhỏ bé quanh hiên lều chỉ đủ sức che chắn cho một góc sân này, nếu độc vụ tiếp tục dâng ngập cả thung lũng, toàn bộ xóm thợ rồi cũng sẽ chết ngạt.

Đứng trong gió lạnh, bà Khang siết chặt chuỗi dây tơ trong lòng bàn tay, đôi mắt ánh lên nét kiên định sắt đá. Co cụm phòng thủ thụ động thế này tuyệt đối không phải là kế lâu dài.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.