Chương 4: Rời Chốn Phồn Hoa
Cúi đầu tạ ơn Tạ Thái phu nhân xong, Tiết Thục Lan cẩn trọng đón lấy tấm bài lệnh bằng gỗ đào có khắc triện son của Từ An Viện. Bà nắm bàn tay nhỏ bé còn vương chút mồ hôi lạnh của Tạ Triệt, khẽ cúi người che chở đứa trẻ trước những ánh mắt dòm ngó xung quanh, từng bước vững chãi lui ra khỏi Phật đường.
Gió đông thổi qua hành lang hun hút, mang theo hơi lạnh buốt giá luồn vào cổ áo. Đông viện lúc này tĩnh lặng đến nghẹt thở. Đám gia nhân dường như đã sớm đánh hơi thấy biến chuyển nơi hậu viện; kẻ thì lén lút tụm năm tụm ba thì thầm, kẻ thì vội vã lảng tránh ánh nhìn của Thục Lan như sợ rước phải tai ương. Trong mắt bọn họ, một nhũ mẫu cùng đích tử ốm yếu bị đưa về điền trang hẻo lánh chẳng khác nào đã rơi vào cảnh thất sủng, mất đi chỗ dựa chốn quyền môn.
Vừa bước vào sương phòng, hai nha hoàn do Mai Di nương cài cắm đã vờ vịt tiến lên hành lễ, đoạn mở toang rương gỗ lôi ra cơ man cẩm bào thêu chỉ vàng chỉ bạc lóng lánh cùng những chuỗi ngọc bội tinh xảo, đon đả nói “Tiết ma ma, tiểu công tử dẫu đi tịnh dưỡng cũng là đích xuất của Hầu phủ, Di nương dặn phải mang hết gấm vóc lụa là này đi để giữ thể diện cho phủ đệ.”
Thục Lan liếc nhìn những sấp lụa bóng bẩy nhưng cứng nhắc, ánh mắt lạnh nhạt. Bà khoát tay, giọng điềm tĩnh mà dứt khoát “Để lại hết đi. Tiểu công tử tỳ vị hư hàn, da dẻ non nớt, gấm vóc thêu kim tuyến cứng như rơm rạ, mặc vào chỉ tổ cản trở khí huyết lưu thông, gây ngứa ngáy bức bách gân cốt. Chốn thôn dã phong sương, thứ cần nhất là sự ấm áp và thông thoáng.”
Nói đoạn, bà tự tay mở chiếc tủ gỗ mộc ở góc phòng, chỉ lấy ra mấy bộ y phục chần bông bằng vải thô mềm mại, hai chiếc chăn bông cũ đã giặt sạch phơi thơm mùi nắng sớm, cùng một con rối gỗ khắc hình chú hổ con mộc mạc – di vật hiếm hoi mà cố phu nhân tự tay đẽo gọt cho con trai trước khi qua đời. Đám nha hoàn thấy bà kiên quyết bèn bĩu môi lùi ra, không buồn nhúng tay giúp đỡ thêm việc gì.
Thu xếp xong một tay nải gọn gàng, Thục Lan dắt Tạ Triệt đến phòng phát đồ ở ngoại viện để lĩnh ngân lượng và phương tiện đi đường theo lệnh bài của Thái phu nhân. Tôn quản sự – tay sai đắc lực của Mai Di nương – thấy Thục Lan đặt bài lệnh lên án thư bèn liếc xéo một cái rồi cười khẩy, cố tình lề mề lật qua lật lại sổ sách. Mãi một tuần trà trôi qua, gã mới uể oải ném lên bàn một túi vải thô mỏng manh, bên trong phát ra tiếng kim loại va chạm lanh lảnh nhưng nhẹ bẫng “Hầu gia chinh chiến nơi biên ải Bắc Cương tốn kém trăm bề, ngân khố trong phủ lúc này eo hẹp. Di nương dặn phải tằn tiện chi tiêu, đây là mười lượng bạc vụn cùng năm chuỗi văn tiền rỉ sét cho chi phí đi đường. Còn về điền trang Nam Sơn, hoa lợi ruộng đất ở đó đủ để hai người tự túc, phủ đệ không trợ cấp thêm.”
Thục Lan đưa tay đón lấy túi tiền, cảm nhận từng mẩu bạc vụn góc cạnh vừa xỉn màu vừa bám dính đất cát. Mười lượng bạc vụn cho một đích tử Hầu môn đi tịnh dưỡng nơi xa xôi, rõ ràng là đòn chèn ép hiểm độc của Mai thị toan đẩy hai người vào bước đường cùng kiệt quệ. Thế nhưng trên gương mặt đượm đà sương gió của Thục Lan không hề gợn một tia giận dữ. Bà thản nhiên cất túi tiền vào tay áo, ký nhận vào sổ chi tiêu rồi từ tốn đáp “Đa tạ Tôn quản sự. Nô tỳ đã ghi nhận sự chu đáo của phòng phát đồ.”
Sự điềm tĩnh lạ lùng ấy khiến Tôn quản sự chột dạ, nụ cười đắc ý trên mặt gã thoáng đông cứng lại.
Bước ra cổng ngách phía tây của phủ, sự hà khắc của Mai Di nương lại một lần nữa phơi bày tr*n tr**. Cỗ xe ngựa chuẩn bị cho đích tử Hầu phủ không phải loại mui bọc nỉ êm ái, mà là cỗ xe gỗ cũ kỹ vốn dùng để chở củi thô kệch. Thành xe tróc sơn loang lổ, mui xe chắp vá bằng mấy tấm bạt gai xơ xác, con ngựa kéo thì gầy rộc trơ cả sườn, thỉnh thoảng lại thở phì phò mệt nhọc. Tên phu xe trung niên mặt mày lầm lì, ngồi co ro trên càng xe ngậm cọng cỏ khô, nhìn họ bằng ánh mắt lơ đãng.
Thục Lan vẫn không nửa lời than vãn. Người sống ở đời, quá trông mong vào lòng thương hại của kẻ khác chỉ tự chuốc lấy cay đắng. Bà bước tới, vén tấm rèm gai lên kiểm tra, thấy thùng xe tuy thô sơ nhưng sàn gỗ còn chắc chắn, bèn nhanh nhẹn trải tấm chăn bông dày xuống dưới lót thành một ổ nằm ấm cúng.Nhân lúc phu xe còn đang buộc lại dây cương lỏng lẻo, một bà lão bán rau quen thuộc đẩy chiếc xe đẩy tay nhỏ tiến đến gần cổng ngách như đã hẹn ước từ trước. Thục Lan bước nhanh tới, trao cho bà lão một túi bạc nhỏ – số tiền tiết kiệm chắt bóp suốt mấy mươi năm tận tụy trong phủ mà bà luôn cẩn trọng cất giữ. Đổi lại, bà lão lặng lẽ chuyển vào góc rương xe mấy bọc vải thô nặng trịch.
Đó là những thứ Thục Lan đã âm thầm nhờ gom góp từ các tiệm thuốc bắc uy tín ngoài thành: vài bọc hạt giống thảo dược quý như hoàng kỳ, bạch truật, bồ công anh, cúc hoa để gây dựng vườn thuốc sau này; một bộ ngân châm gia truyền bọc cẩn thận trong da hoẵng mềm; một chiếc cối đá nhỏ dùng để giã thuốc; cùng hai bó củi quế khô thơm nồng giúp trừ ẩm xua hàn. Đối với Thục Lan, vàng ngọc chốn hào môn cũng chẳng quý bằng những thứ cây cỏ có thể bảo toàn tính mạng và bồi dưỡng sinh khí cho đứa trẻ.
“Tiết ma ma...”
Tiếng gọi khe khẽ của Tạ Triệt kéo bà trở về thực tại. Đứa trẻ mặc chiếc áo chần bông màu xanh sẫm, cổ quấn chiếc khăn bông mộc mạc, hai bàn tay nhỏ bé níu chặt lấy vạt áo chàm của bà, đôi mắt to tròn ngơ ngác nhìn quanh. Thục Lan mỉm cười, cúi xuống bế bổng cậu bé đặt vào lòng xe “Tiểu công tử ngoan, lên xe thôi. Từ nay chúng ta đi tìm chốn trời cao đất rộng.”
Tạ Triệt ngoan ngoãn ngồi nép vào lòng Thục Lan. Tên phu xe vung roi quất nhẹ vào không trung, cỗ xe ngựa lọc cọc chuyển bánh. Qua khe hở của tấm rèm gai lay động trong gió bấc, Tạ Triệt ngơ ngác nhìn cánh cổng son uy nghi của Định Viễn Hầu phủ đang từ từ khép lại sau lưng. Hai cánh cửa gỗ lim đen nhánh nặng nề gài then, như chính thức đóng chặt lại năm năm ngột ngạt, cô độc và đầy rẫy hiểm nguy của đứa trẻ côi cút. Cậu bé khẽ run lên, rồi rúc sâu hơn vào lồng ngực ấm áp phảng phất hương ngải cứu của nhũ mẫu.
Chiếc xe ngựa lọc cọc lăn bánh qua những con phố lát đá của kinh thành Thịnh Kinh, rồi từ từ đi qua cửa nam sầm uất để tiến ra quan đạo. Tiếng huyên náo của chốn thị thành phồn hoa dần dần chìm lấp sau lưng. Trước mắt họ, con đường đất dẫn về phía nam dài ba mươi dặm mở ra hun hút, hai bên đường là những triền đồi xơ xác và cánh đồng trơ gốc rạ sau vụ gặt mùa đông, thỉnh thoảng mới bắt gặp vài mái nhà tranh lợp rạ nghi ngút khói chiều.
Đường sá gồ ghề khiến cỗ xe cũ xóc nảy liên hồi. Tạ Triệt vốn tỳ vị suy nhược, chỉ đi được mười dặm sắc mặt đã tái nhợt vì nôn nao. Thục Lan ôm giữ đứa trẻ trong lòng để giảm bớt chấn động, tay kia nhẹ nhàng dùng ngón cái ấn nhẹ vào huyệt Nội Quan trên cổ tay và huyệt Túc Tam Lý dưới gối của cậu. Lực đạo của bà vừa phải, ấm áp mà chuẩn xác, dần dần làm dịu đi luồng khí nghịch đang trào dâng nơi tỳ vị đứa trẻ.
Đoạn, bà rút chiếc bình gốm nhỏ luôn ủ ấm bên hông, rót ra một chén nước gừng tươi pha chút mật mía ấm nồng, dỗ dành “Triệt nhi ngoan, nhấp từng ngụm nhỏ thôi. Gừng ấm tán hàn, mật ngọt nhuận tỳ, uống vào sẽ thấy bụng dạ êm ái ngay.”
Tạ Triệt ngoan ngoãn hớp từng ngụm nước ấm. Vị cay ngọt dịu dàng lan tỏa khắp cuống họng, xua tan cảm giác nôn nao cồn cào. Đứa trẻ chớp chớp mắt, tựa đầu vào vai bà, hơi thở dần trở nên đều đặn và bình ổn.
Xe ngựa tiếp tục lọc cọc tiến về phía trước. Mặt trời mùa đông khuất dần sau những rặng mây xám bạc, để lại vệt ráng chiều đỏ quạch nơi chân trời xa. Phía trước mặt, rặng núi Nam Sơn xanh ngút ngàn đã bắt đầu hiện rõ hình hài sừng sững giữa không gian bao la khoáng đạt.
Nhìn bóng lưng kinh thành dần khuất sau rặng cây, Thục Lan thở phào một hơi nhẹ nhõm, bao ngột ngạt hiểm độc của Hầu phủ tạm thời bỏ lại sau lưng, nhưng tiếng ngựa hí bất an cùng tiếng quát khàn đặc của phu xe phía trước báo hiệu điểm đến chẳng hề êm đềm như tưởng tượng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
