Chương 19: Vi Hành Vườn Xưa
Đại quân khải hoàn vừa dừng chân ngoài cửa bắc Thịnh Kinh, Tạ Hoài Viễn liền dứt khoát giao lại quyền chỉ huy quân doanh cho phó tướng chỉnh đốn hàng ngũ. Bỏ lại sau lưng tiếng hò reo vang dội đất trời cùng tiệc mừng công trọng thể của triều đình, ngài lặng lẽ trút bỏ chiến bào sương gió, khoác lên mình tấm áo vải thô màu xám tro của khách buôn lữ hành. Ngay cả thanh bội kiếm từng chém đầu tướng giặc nơi ải Nhạn Phong cũng được bọc kín trong dải vải bố buộc sau yên. Không một thị vệ hộ tống, một người một ngựa, Tạ Hoài Viễn giục ngựa phi nước đại ba mươi dặm về hướng nam kinh thành.
Càng gần đến dãy Nam Sơn, lồng ngực vị tướng quân ba mươi lăm tuổi dạn dày nơi hòn tên mũi đạn lại càng thắt nghẽn. Suốt gần ba năm chinh chiến nơi biên ải gió tuyết, điều khiến ngài day dứt khôn nguôi là giọt máu duy nhất của người vợ quá cố. Năm ngài xuất chinh, Tạ Triệt mới lên năm, thể trạng bẩm sinh hư nhược, ho hen triền miên. Giữa mùa đông giá rét năm ấy, tin dữ về việc ngài mất tích nơi ải Nhạn Phong truyền về, đường đèo Nam Sơn lại bị bão tuyết chôn vùi, bặt vô âm tín. Đã có lúc ngài sợ hãi tột cùng rằng mình vĩnh viễn mất đi đứa con thơ.
Tới đầu thôn Thanh Tuyền, Tạ Hoài Viễn ghìm cương, dắt ngựa men theo con đường đất đỏ rợp bóng tre ngà. Không khí nơi đây thơm dịu mùi thảo dược phơi nắng quyện cùng hương hoa quả sấy ngọt thanh. Dòng suối Thanh Tuyền trong vắt uốn lượn ôm lấy năm mươi mẫu ruộng vườn xanh tốt, khung cảnh trù phú, bình yên khác xa mảnh đất hoang tàn ngập cỏ dại năm xưa.
Nấp sau rặng trúc xanh bên bờ suối, ngài nín thở nhìn vào khoảng sân rộng trước trang viện.
Đập vào mắt ngài không phải một bệnh nhi ốm yếu nằm liệt giường, mà là một nhịp sống bừng bừng sinh khí. Dưới nắng thu rực rỡ, một cậu bé chừng bảy tuổi mặc áo chàm gọn gàng đang cùng chúng bạn thoăn thoắt gánh sọt quả khô. Cậu bé có bờ vai rộng, đôi chân rắn rỏi, khuôn mặt vuông vức sáng ngời và hai gò má ửng hồng màu mật ong khỏe khoắn.
“A Thạch ca, sọt táo gai này đượm nắng rồi, ta mang vào chái đông để ma ma kiểm tra nhé!” Tiếng nói trong trẻo, giòn tan vang lên rộn rã.
Tạ Hoài Viễn đứng chết lặng, bàn tay siết chặt dây cương đến mức khớp ngón trắng bệch. Vầng trán cao cương nghị cùng đôi mắt sáng ngời kia... giống hệt phu nhân quá cố của ngài! Đứa trẻ năm xưa bước đi còn run rẩy, ăn nửa bát cháo đã trớ ra dịch đắng, nay lại có thể thoăn thoắt gánh vác, tiếng cười vang khỏe tựa tiếng chuông đồng. Khóe mắt vị dũng tướng sa trường bỗng cay xè, một luồng nhiệt dâng lên nghẹn ứ nơi lồng ngực.
Tiết Thục Lan bưng khay gỗ đựng ấm trà hoa cúc mới hãm bước ra hiên. Gió thu lay nhẹ mái tóc điểm hoa râm cài trâm gỗ đào mộc của bà. Nhìn lũ trẻ ríu rít ngoài sân, khóe môi bà khẽ nở nụ cười hiền hậu.
Chợt ánh mắt bà dừng lại nơi rặng trúc đầu ngõ.
Một bóng người cao lớn dị thường đứng lặng bên con tuấn mã xích thố. Dù người ấy vận áo vải thô xám đơn sơ, nhưng dáng đứng uy vũ tựa Thái Sơn cùng khí độ thâm trầm của kẻ trăm trận sa trường thì không thể che giấu. Dưới cằm lấm tấm râu quai nón, ánh mắt phong trần đang nhìn chằm chằm Tạ Triệt với muôn vàn cảm xúc cuộn trào.
Thục Lan giật mình nhận ra Định Viễn Hầu Tạ Hoài Viễn. Chiếc khay gỗ khẽ chao nghiêng nhưng lập tức được bà giữ vững lại bằng sự trầm tĩnh của người từng trải qua nửa đời giông bão. Bà đặt khay trà xuống bàn gỗ dưới bóng cây hòe, chỉnh lại vạt áo chàm rồi từ tốn bước ra ngõ, cúi mình hành lễ đúng quy củ chốn hào môn “Nô tỳ Tiết thị, bái kiến Hầu gia. Ngài vạn phúc kim an.”
Tạ Hoài Viễn bừng tỉnh khỏi cơn chấn động, vội vã đưa tay đỡ lấy cánh tay nhũ mẫu, giọng trầm khàn run rẩy “Tiết ma ma mau đứng dậy! Bản hầu cải trang vi hành, ma ma chớ đa lễ!”
Nghe tiếng động lạ, đám trẻ ngoài sân ngơ ngác nhìn lại. Tạ Triệt đặt sọt tre xuống đất, tò mò nhìn người đàn ông lạ mặt cao lớn. Thấy đứa trẻ ngập ngừng, Thục Lan xoay người, khẽ vẫy tay “Tiểu công tử, mau lại đây.”
Tạ Triệt ngoan ngoãn bước tới gần, chắp tay lễ phép “Ma ma gọi Triệt nhi ạ?”
Thục Lan cúi nhìn đứa trẻ, giọng nghẹn ngào nhưng dịu dàng “Triệt nhi, người nhìn kỹ xem người này là ai. Gần ba năm qua, đêm nào người cũng ngóng trông... Phụ thân của người đã khải hoàn trở về rồi đó.”Tạ Triệt sững sờ. Đôi mắt to tròn ngước nhìn khuôn mặt phong trần dạn dày sương gió, nhìn vết sẹo mờ nơi thái dương người đàn ông trước mặt. Ký ức mơ hồ thuở lên năm ùa về. Chiếc áo giáp sắt lạnh ngắt ngày xuất chinh, bàn tay to lớn từng xoa đầu cậu trước khi bước lên lưng ngựa...
“Phụ... phụ thân?” Đôi môi nhỏ run rẩy thốt lên.
Tạ Hoài Viễn không kìm nén nổi nữa, ngài quỳ một chân xuống nền đất đỏ, dang rộng đôi cánh tay ôm chầm lấy thân hình nhỏ bé vào lòng “Triệt nhi! Là phụ thân đây! Phụ thân đã về với con rồi!”
Tạ Triệt vùi mặt vào bờ vai vững chãi của cha, hai tay ôm chặt lấy cổ ngài, òa khóc nức nở. Tiếng khóc không còn yếu ớt, thảm thiết của đứa trẻ tật bệnh năm nào, mà vang khỏe, trút hết nỗi mong mỏi suốt nghìn ngày xa cách. Tạ Hoài Viễn siết chặt con, nước mắt của vị tướng quân sa trường lặng lẽ rơi xuống bờ vai áo thô của đứa trẻ.
Đứng bên cạnh, Thục Lan khẽ chấm khóe mắt, lòng dâng lên niềm an định vô ngần. Ba năm nhọc nhằn bên bếp lửa dược thiện, những đêm chong đèn canh giấc ngủ... tất cả rốt cuộc đã đơm hoa kết trái vẹn tròn.
Hoàng hôn buông xuống thôn Thanh Tuyền, nhuộm đỏ rực những ngọn đồi thảo dược. Khói bếp từ gian nhà chính tỏa ra mùi thơm ấm cúng, xua tan đi cái se lạnh của chiều thu muộn.
Bữa cơm tối hôm ấy mộc mạc đến bất ngờ đối với một vị Hầu gia quyền quý. Trên chiếc bàn gỗ kê giữa gian nhà đất ấm áp, chỉ có một liễn cơm gạo mới dẻo thơm, âu cá suối kho tiêu gừng thơm lừng, đĩa rau rừng luộc xanh ngắt và bát canh lớn nấu củ mài, hạt sen cùng sườn non.
“Hầu gia thứ lỗi, nơi thôn dã không có sơn hào hải vị, chỉ có sản vật cây nhà lá vườn bồi bổ khí huyết.” Thục Lan từ tốn xới cơm đặt trước mặt Tạ Hoài Viễn.
Tạ Hoài Viễn bưng bát cơm nóng hổi, húp một ngụm canh ngọt thanh đượm vị củ mài bùi bùi. Hơi ấm lan tỏa từ cuống họng xuống dạ dày, khiến kinh mạch căng thẳng sau chặng đường dài bỗng chốc giãn ra khoan khoái. Bao năm gối đất nằm sương nơi biên ải, hay những bữa yến tiệc linh đình chốn kinh kỳ, ngài chưa từng nếm phong vị nào an định và ấm lòng đến thế.
Ngồi bên cạnh, Tạ Triệt ăn uống rất ngon miệng. Cậu bé tự mình và từng miếng cơm lớn, thi thoảng lại gắp miếng cá béo ngậy bỏ vào bát cha “Phụ thân ăn cá đi ạ. Cá này do A Thạch ca bắt dưới suối Thanh Tuyền, ma ma kho cùng gừng già và trần bì, ấm tỳ vị lắm. Mỗi bữa Triệt nhi đều ăn hai bát cơm đầy đấy!”
Nhìn con trai ăn khỏe, thần sắc rạng ngời, Tạ Hoài Viễn bất giác mỉm cười, ánh mắt tràn ngập vẻ trìu mến. Nhưng giữa bầu không khí ấm áp ấy, ngài lại thấy nhói lòng khi nhớ đến những tin tức mập mờ từ kinh thành gửi ra biên ải trước đây.
Đêm đã về khuya. Sau một ngày trải qua biến động cảm xúc quá lớn, Tạ Triệt đã ngủ say trên chiếc giường tre lót đệm rơm ngải cứu thơm dịu. Tiếng thở của đứa trẻ đều đặn, sâu lắng, hai má vẫn ửng hồng trong giấc mộng êm đềm.
Tạ Hoài Viễn nhẹ nhàng đắp lại mép chăn cho con, rồi rón rén bước ra gian ngoài.
Dưới ánh đèn dầu lay động trên chiếc bàn mộc, Thục Lan đã pha sẵn ấm trà hoàng cúc ấm nóng. Thấy ngài bước ra, bà toan đứng dậy hành lễ, nhưng Tạ Hoài Viễn đã giơ tay ngăn lại, trầm giọng bảo “Tiết ma ma, ngồi xuống đi.”
Thục Lan khẽ cúi đầu, ngồi xuống chiếc ghế đối diện.
Không khí trong gian phòng bỗng chốc trở nên tĩnh mịch, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn vương sương thu. Khí độ uy nghiêm của vị chủ nhân Định Viễn Hầu phủ dần hiển hiện trên gương mặt Tạ Hoài Viễn. Đôi mắt hổ sắc bén như gươm tuốt khỏi vỏ khóa chặt lấy Thục Lan, giọng ngài hạ xuống thật thấp nhưng từng từ nặng tựa ngàn cân “Triệt nhi đã ngủ rồi. Giờ thì ma ma hãy nói thật cho bản hầu biết... Gần ba năm qua, nơi điền trang này rốt cuộc đã xảy ra những chuyện gì? Vì cớ gì mùa đông năm ấy, phủ Hầu lại cắt đứt hoàn toàn bổng lộc chu cấp cho con trai bản hầu?”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
