Chương 12: Mầm Xanh Đón Nắng

Hơi lạnh buốt giá từ lớp tuyết dày ngoài hiên phả vào làm lay động vạt áo chàm mộc mạc. Tiết Thục Lan khẽ khép bớt cánh cửa gỗ để gió bấc không lùa vào gian trong, rồi quay lại bên chõng tre. Đứa trẻ vẫn say ngủ, hơi thở đều đặn và êm ái, sắc mặt không còn vương chút hoảng loạn hay tím tái của đêm kinh hoàng vừa qua. Thục Lan cúi người chỉnh lại mép chăn bông ngay ngắn, lòng thầm niệm một tiếng cảm tạ tổ tiên và đất trời đã che chở cho giọt máu côi cút này bình an vượt qua cửa tử.

Những ngày sau đó, gian bếp nhỏ của điền trang Nam Sơn luôn đỏ lửa từ lúc trời còn nhá nhem tối. Hiểu rõ tỳ vị của Tạ Triệt sau trận phát hãn kịch liệt đã tổn hao nhiều khí huyết, Thục Lan không vội vàng cho đứa trẻ dùng thức bổ béo ngậy mà kiên trì điều dưỡng bằng phép thực dưỡng dịu nhẹ. Mỗi sớm mai, bà ninh một niêu đất cháo củ mài cùng vài quả táo đỏ bẻ đôi. Củ mài tính bình, bồi bổ tỳ phế, vừa kiện tỳ dưỡng vị lại sinh tân dịch; táo đỏ dưỡng huyết, an thần, giúp bù đắp lại phần huyết dịch hao hụt vì sốt cao. Khi cháo chín nhừ, hạt gạo tẻ nở bung xốp quyện cùng vị ngọt thanh của táo đỏ, Thục Lan mới múc ra chiếc bát sành, kiên nhẫn thổi nguội từng thìa rồi dỗ Tạ Triệt ăn từng chút một. Đến bữa trưa, bà hầm một bát xúp gà nho nhỏ nấu cùng ba lát đảng sâm mỏng tang và hạt sen thông tâm. Nước xúp thanh trong, không hề váng mỡ màng, hương đảng sâm dìu dịu thấm sâu vào tỳ thổ, nâng đỡ chính khí của đứa trẻ từng ngày một.

Bên cạnh việc ăn uống, Thục Lan còn rèn cho Tạ Triệt nếp sinh hoạt dưỡng sinh nghiêm ngặt thuận theo tự nhiên. Mỗi sớm mai, khi ráng đông vừa hắt lên sườn núi, bà dắt đứa trẻ ra khoảng sân gác đã quét sạch tuyết, cùng cậu tập bài dẫn khí thổ nạp dưỡng tỳ.

“Triệt nhi, đứng thẳng lưng, thả lỏng bờ vai xuống nào.” Thục Lan từ tốn chỉnh lại thế đứng cho cậu bé, bàn tay ấm áp đặt nhẹ lên bụng dưới của cậu. “Hít vào bằng mũi thật sâu, dẫn khí thanh sạch của đất trời xuống tận đan điền; thở ra bằng miệng thật chậm, đẩy hết cặn bã trọc khí nơi lồng ngực ra ngoài. Tâm tĩnh thì thần an, thần an ắt tỳ vị tự khắc điều hòa.”

Tạ Triệt ngoan ngoãn làm theo từng nhịp thở của nhũ mẫu. Đôi bàn tay nhỏ xíu theo lời bà hướng dẫn vỗ nhẹ dọc theo các đường kinh lạc ở mặt trong hai cánh tay để thông phế khí, rồi xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho thật nóng, nhẹ nhàng áp lên quanh rốn xoa đều ba mươi sáu vòng theo chiều thuận. Cứ kiên trì như thế qua từng tuần trà, khí huyết đứa trẻ dần lưu chuyển thông suốt, đôi gò má từng xanh xao như tàu lá chuối non nay đã nhuận sắc, hồng hào trở lại.

Thấm thoắt, tiết trời đông giá lạnh dần lui bước nhường chỗ cho hơi thở ấm áp của mùa xuân. Tuyết phủ trên đỉnh Nam Sơn tan chảy dưới ánh nắng mai, biến thành những dòng nước mát lành róc rách đổ dồn về suối Thanh Tuyền. Rặng liễu ven bờ bắt đầu nảy những chồi non xanh biếc, cỏ dại quanh chân đồi cũng cựa mình vươn lên đón lấy ánh dương quang rực rỡ.

Dưới mái hiên gác chan hòa nắng ấm, Tạ Triệt như một mầm cây non sau cơn bão táp, vươn mình trỗi dậy đầy sức sống. Căn bệnh ho hen từng đeo bám suốt năm năm dài nơi phủ Hầu nay đã dứt hẳn, không còn một tiếng húng hắng mỗi độ trở trời. Cậu bé mặc chiếc áo bông chần mỏng màu cỏ úa, hai má phúng phính đỏ au, đôi mắt đen láy lấp lánh niềm vui. Ngoài sân gác rộn rã tiếng cười trong trẻo khi Tạ Triệt cùng A Thạch rượt đuổi nhau nhặt những cành củi khô, thỉnh thoảng lại lon ton chạy đến bên Thục Lan, giơ ra một bông hoa cúc trắng còn đọng sương mai “Tiết ma ma, người xem này! Hoa cúc dại trên triền đồi lại nở rộ rồi, thơm lắm!”

Thục Lan đón lấy bông hoa cài lên ngực áo, vỗ nhẹ bờ vai đứa trẻ, trong lòng trào dâng một niềm xúc động khó tả. Đứa bé còi cọc ốm yếu từng cận kề bờ vực cái chết ngày nào giờ đây đã có thể chạy nhảy hoạt bát, thân hình rắn rỏi tựa như cây tùng non bám rễ sâu vào lòng đất mẹ.

Bữa trưa hôm ấy, Thục Lan triệu tập đủ hai mươi hộ tá điền của thôn Thanh Tuyền đến tề tựu nơi sân chính điền trang. Trên chiếc bàn mộc đặt giữa sân, bà mở chiếc tráp gỗ nhỏ, bày ra từng chuỗi văn tiền sáng bóng cùng những thỏi bạc vụn được xếp ngay ngắn. Đó là toàn bộ số hoa lợi tích lũy được từ mẻ quả sấy than trấu và trà thảo mộc hoa cúc vụ đông vừa qua, sau khi đã trừ đi phần chia lương thực cho các hộ gia đình.

Nhìn hai mươi gia đình tá điền ăn mặc giản dị nhưng ánh mắt ai nấy đều rạng rỡ hy vọng, Thục Lan cất giọng trầm ấm, rành rọt từng lời:“Các vị bà con, mùa đông khắc nghiệt nhất đã qua, điền trang Nam Sơn chúng ta nhờ có sự đồng lòng của mọi người mà không ai bị đứt bữa, không ai phải chịu rét. Số bạc này là mồ hôi công sức của cả trang viện. Phủ Hầu nơi kinh kỳ đã cắt bổng lộc, muốn đứng vững lâu dài thì chúng ta phải tự lực cánh sinh. Ta tính dùng số tiền này để mua thêm lưỡi cày, cuốc sắt mới, đồng thời mua giống thảo dược cát cánh, ngải diệp và hoàng cúc. Chúng ta sẽ cùng nhau khai khẩn thêm mười mẫu đất đồi hoang phía đông suối Thanh Tuyền để mở rộng diện tích gieo trồng.”

Trương lão hán cùng các nông hộ sững sờ nhìn đống bạc vụn rồi nhìn sang Thục Lan. Xưa nay bọn họ chỉ thấy quản sự bòn rút xương tủy, ép nợ khống đến cùng đường lạc lối, chưa từng thấy ai vừa cứu mạng dân làng qua mùa bão tuyết lại vừa đem toàn bộ hoa lợi dồn mua nông cụ, tạo kế sinh nhai lâu dài cho tá điền như bà.

Trương lão hán run run bước lên một bước, đôi mắt kèm nhèm ầng ậc nước, chắp tay khom lưng thật sâu “Tiết ma ma! Người thực là chỗ dựa chở che của thôn Thanh Tuyền chúng thảo dân! Nếu không có người mở kho phát lương vụ đông, không có người chỉ dẫn nghề sấy quả làm trà, thì hai mươi hộ dân chúng thảo dân đã chết rục trong bão tuyết rồi. Người bảo sao, chúng thảo dân xin nghe vậy, dù phải lên núi dỡ đá hay xuống đồng cuốc đất, không một ai dám thoái thác nửa lời!”

Nhân dịp này, Thục Lan trải ra một tờ giấy bản đã chuẩn bị sẵn, trên đó ghi rõ từng điều khoản của hương ước tự quản điền trang: từ việc phân chia công việc khai khẩn mười mẫu đồi, quản lý nguồn nước tưới suối Thanh Tuyền, cho đến mức chia hoa lợi công bằng minh bạch theo ngày công lao động. Từng người một, từ Trương lão hán, thím Trương đến những người đứng đầu của hai mươi hộ tá điền, đều trịnh trọng tiến lên chấm mực điểm chỉ, ký tên vào bản hương ước. Trong khoảnh khắc ấy, không còn khoảng cách giữa nô bộc Hầu môn và dân đen lam lũ, tất cả đều đồng lòng coi Tiết Thục Lan là chỗ dựa tinh thần vững chãi nhất, là rường cột của mảnh đất điền trang Nam Sơn.

Buổi chiều tà buông xuống, nắng xuân dát một màu vàng óng ả lên những mái rạ đơn sơ. Tá điền ai nấy phấn khởi tỏa về các chái nhà chuẩn bị cày cuốc cho vụ khai hoang ngày mai. Khắp thôn xóm vương mùi khói lam chiều ấm áp hòa cùng tiếng cười đùa rộn rã của con trẻ.

Thục Lan đứng dưới gốc đào rừng trước hiên, nhìn Tạ Triệt đang cùng A Thạch cẩn thận đem rơm ủ ấm cho những luống mầm thảo dược ươm thử trước sân vừa nảy chồi. Khung cảnh thanh bình, ấm no nơi điền dã ngỡ như một giấc mộng an lành giữa đời thực.

Thế nhưng, giữa lúc đất trời đang rộn ràng đâm chồi nảy lộc, một bóng người phong trần cưỡi ngựa từ lối mòn phía bắc hớt hải chạy vào cổng điền trang. Đó là Trương Tam, một phu xe thân tín từng làm việc dưới trướng phòng phát đồ của Hầu phủ, cũng là người quen cũ năm xưa chịu ơn cứu giúp của Thục Lan.

Trương Tam thở không ra hơi, sắc mặt tái mét, bước nhanh đến cạnh Thục Lan rồi cúi đầu, lén lút rút từ trong ngực áo ra một phong thư nhỏ được bọc kín bằng sáp niêm. Gã hạ thấp giọng, thanh âm run rẩy lọt qua kẽ răng “Tiết ma ma... Có biến lớn ở kinh thành rồi! Mùa đông qua đi, Mai Di nương chờ mãi không thấy tin báo tang của đích công tử, trong lòng sinh nghi. Ả phát hiện Nam Sơn vẫn bình yên vô sự nên đang nổi trận lôi đình, ngấm ngầm cấu kết với thế lực bên ngoài bày mưu kế tàn độc hơn để triệt hạ tận gốc điền trang này!”

Gió xuân thoảng qua lay động những cánh hoa đào phớt hồng rụng xuống khoảng sân đất. Tiết Thục Lan siết chặt phong thư trong lòng bàn tay, ánh mắt điềm tĩnh dần trầm xuống, sâu thẳm như mặt hồ không đáy.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.