Chương 7: Cạm Bẫy Đêm Giông
Mưa xối xả đập vào mái ngói gian nhà cổ ràn rạt tựa như ai vãi đá cuội. Đêm càng về khuya, gió bấc càng gầm rít dữ dội qua rặng xoan đầu ngõ, giật tung từng chập màn đêm lạnh buốt ven hạ lưu sông Lam.
Cụ Dưỡng Hữu Bằng ngồi tựa lưng vào mép phản gỗ, ngọn đèn dầu hột vịt đặt nơi góc bàn chập chờn chực tắt trước từng luồng gió lùa qua khe liếp. Chập tối, Thắng cùng hai thằng Thược, thằng Duẩn mới cõng được hai bao tro tràm cùng đống bột đá vôi ướt lướt thướt về đến sân sau trận vượt đường rừng ngoạn mục. Nhìn bắp chân thằng chắt rớm máu vì gai tre cào, bùn đất bết tận thắt lưng mà đôi mắt nó vẫn sáng quắc nâng niu từng hạt bụi tro, cụ Bằng vừa xót ruột vừa thầm mừng cho cốt cách kiên cường của đứa cháu họ. Cụ đã tự tay châm điếu thuốc lào, giục đám trẻ ăn vội bát cơm nguội với cá kho rồi về nghỉ lấy sức, còn mình cụ đứng trông chừng bể ngâm men tro vừa mới được phối trộn cùng tro trấu mục ngoài chái xưởng.
Thế nhưng nằm chợp mắt chưa đầy một tuần nhang, ngực cụ lại nhói lên từng cơn bồn chồn khó tả. Bát nước chè xanh để nguội bên đầu giường đắng chát nơi cuống họng. Trực giác của một lão thợ già có hơn tám mươi năm gắn bó với từng hòn đất, từng ngọn gió sông Lam mách bảo cụ rằng đêm nay giông gió bất thường, lòng dạ lũ gian thương ắt cũng chẳng thể ngồi yên. Con lạch xóm Lò vừa bị cắm chông đinh hòng nhận chìm thuyền men của thằng Thắng, kế ấy đã bại, con thú cùng đường bao giờ cũng quen thói cắn trộm trong bóng tối.
Cụ Bằng trở mình ngồi dậy, với chiếc áo tơi lá cọ khoác vội lên đôi vai gầy guộc. Cụ xỏ chân vào đôi guốc mộc, tay trái cầm chiếc đèn bão bằng sắt tây đã lau sạch muội khói, tay phải siết chặt chiếc gậy tre đực bóng nhẫy vết chai tay.
Đẩy then cài cửa gỗ, gió lạnh và bụi nước lập tức tạt thốc vào mặt cụ cay xè. Cụ Bằng nheo mắt, che vạt áo tơi chắn gió cho chiếc đèn bão rồi lần từng bước vững chãi theo bờ tường đất tiến về phía xưởng gốm. Nước mưa trên mái hiên xối xuống thành dòng đục ngầu, biến lối đi đất thịt thành những rãnh trơn trượt.
Khoảng sân xưởng gốm chìm trong màn đen kịt, chỉ có tiếng tôn vách lò va đập “leng keng” rợn người. Chiếc bể ngâm men bằng xi măng cổ—nơi đang ủ kín tinh chất tro tràm, tro trấu mục và bột đá vôi suối ngầm—nằm nép mình dưới chái ngói âm dương xập xệ.
Vừa bước qua đống củi khô xếp cạnh vách, bước chân cụ Bằng đột ngột khựng lại.
Xuyên qua màn mưa mịt mùng, cụ thấy hai bóng đen trùm kín mặt bằng vải bao tải đang lúi húi bên miệng bể men. Một tên đang dùng đòn bẩy nạy bung tấm nắp gỗ nặng trịch đậy trên miệng bể, tên còn lại đứng bặm môi giữ một can nhựa loại hai mươi lít, mùi dầu máy khét lẹt nồng nặc bốc lên át cả vị tanh nồng của đất phù sa sau mưa giông.
Dầu cặn máy ủi! Thứ phế phẩm đen ngòm, nhớt nhúa chứa đầy chì và cặn kim loại nặng ấy một khi trút xuống, bể men tro củi ngàn năm sẽ lập tức biến thành vũng bùn chết, vĩnh viễn không thể tẩy sạch nổi tạp chất hữu cơ độc hại!
Ngọn lửa căm phẫn bùng cháy rực rỡ trong lồng ngực già nua của cụ Bằng. Không một giây chần chừ, cụ vung cao chiếc gậy tre đực, gầm lên một tiếng xé toạc màn mưa — Quân khốn nạn! Dừng tay lại mau!
Tiếng quát trầm hùng như lệnh vỡ của bậc cao niên chín mươi ba tuổi khiến hai bóng đen giật bắn người suýt ngã ngửa. Tên cầm can nhựa hoảng hốt trượt tay, chiếc can dộng mạnh vào thành bể xi măng làm nắp can bung toác, một nửa lượng dầu máy cặn đen ngòm, sền sệt trút thẳng xuống mặt nước men đang sủi bọt êm đềm bên dưới.
Thấy có người già đơn độc xông tới, tên to con cầm thanh xà beng hung hãn quát qua kẽ vải trùm đầu — Lão già lẩm cẩm, muốn chết à!
Hắn vung xà beng toan đập về phía cụ để mở đường tháo lui. Nhưng cụ Bằng cả đời đạp bàn xoay, cơ gân dù gầy guộc vẫn dẻo dai khôn lường. Cụ Bằng lùi nhanh một bước, dồn sức ném mạnh chiếc đèn bão sắt tây thẳng về phía gã côn đồ để chặn đường. Tiếng thủy tinh vỡ “xoảng”, ngọn lửa dầu hỏa bốc cháy bừng bừng táp trúng vạt áo tơi ướt của tên kia khiến hắn rú lên như lợn bị chọc tiết.
— Cướp! Có kẻ phá lò! Dân làng ơi! — Cụ Bằng vừa quét ngang gậy tre quật trúng cẳng chân tên còn lại, vừa hô vang dội.
Giọng cụ vang rền hòa cùng tiếng mưa gió bão bùng lập tức đánh thức xóm Lò. Tiếng mõ tre từ chòi canh gác của Trưởng thôn Nguyễn Văn Mười dồn dập vang lên “cốc cốc cốc”, kéo theo ánh đuốc và tiếng chân người rậm rịch từ khắp các ngả đường làng đổ xô về phía xưởng gốm.Tên to con bị lửa táp vội vã lộn nhào qua rào tre trốn thoát ra mé sông Lam tăm tối. Trong cơn hoảng loạn tột cùng, hắn vướng phải gốc cây tràm mục ngã dúi dụi, văng lại một mảnh vải mỏng xuống vũng bùn lầy ngay cạnh chân cụ Bằng. Tên thứ hai đang tập tễnh ôm can dầu còn lại toan tháo chạy thì bị Dưỡng Văn Thắng từ ngoài ngõ lao vào như một con hổ dữ.
— Đứng lại! — Thắng gầm lên, phi thân đạp thẳng vào lưng gã phá hoại khiến hắn ngã úp mặt vào vũng bùn non.
Thược và Duẩn cùng năm sáu thanh niên làng gốm cầm đòn gánh, dây thừng xông tới đè nghiến gã đàn ông xuống đất, trói giật cánh khuỷu trong nháy mắt.
Trưởng thôn Nguyễn Văn Mười khoác chiếc áo trấn thủ cũ của người lính trận, tay cầm chiếc đèn măngsông sáng rực rẽ đám đông bước vào. Ánh đèn soi rõ gương mặt lấm lem bùn đất của kẻ bị bắt. Chiếc khăn bịt mặt bị giật phăng ra, để lộ bộ mặt tái mét, mắt đảo láo liên của thằng Đạt—tên phụ việc chuyên bốc vác tại lò gạch của xã.
— Đạt! Mày làm cái trò thất đức chi giữa đêm hôm mưa gió ni hả? — Chú Mười quát lớn, giọng run lên vì giận dữ.
Thằng Đạt run rẩy như cầy sấy, hàm răng va vào nhau lập cập — Chú Mười… cụ Bằng ơi… con lạy cụ tha mạng! Con chỉ nhận hai trăm nghìn đồng tiền công… người ta bảo nửa đêm ra đổ can dầu máy vào bể men rồi trốn về… con nỏ biết chi hết!
— Ai sai mày? Nói mau! — Thắng túm lấy cổ áo thằng Đạt, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán.
Thằng Đạt sợ hãi lấm lét nhìn ra bờ rào tối thẳm, cắn chặt môi không dám khai tên chủ mưu. Nhưng đúng lúc ấy, cụ Bằng chống gậy bước tới mé rào tre, khom lưng nhặt mảnh vải mà tên chạy trốn vừa đánh rơi trong vũng bùn.
Đó là một chiếc khăn mùixoa bằng lụa trắng viền chỉ đỏ, dù dính bùn đất ướt sũng nhưng vẫn nồng nặc mùi dầu thơm tây ngoại lai đắt tiền—thứ mùi nước hoa nồng gắt mà cả vùng sông Lam này chỉ có một kẻ duy nhất xức lên người để che giấu mùi bùn đất lò gốm: Dưỡng Hữu Trọng!
Cụ Bằng siết chặt chiếc khăn mùixoa trong lòng bàn tay gầy gò, mắt rực lên nỗi đau đớn và phẫn nộ tột cùng — Thằng nghịch tôn… Đến máu mủ tổ tiên mà anh cũng đem bán rẻ cho loài lang sói!
Chú Mười nhìn chiếc khăn, lại nhìn can dầu máy vương vãi, nét mặt người cựu chiến binh đanh lại lạnh lùng. Chú quay sang bảo hai dân phòng — Lập biên bản ngay tại chỗ! Thu giữ can dầu cặn, chiếc khăn mùixoa và giải thằng Đạt lên trụ sở ủy ban xã nhốt lại. Đêm nay bắt tận tay day tận trán, có biên bản xác nhận của thôn thì thằng Trọng với công ty Tân Á đừng hòng chối tội!
Dân làng xôn xao bàn tán, ai nấy đều nghiến răng căm phẫn trước thủ đoạn đê hèn của kẻ phản phúc.
Thế nhưng khi ánh đèn măngsông quét qua mặt bể men, mọi tiếng hò reo bỗng chốc tắt ngấm. Thắng run rẩy bước tới bên miệng bể, mặt cắt không còn hột máu. Dưới làn nước mưa xối xả, nửa thùng dầu máy cặn đen ngòm, nhờn nhẫy đã kịp loang lổ khắp bề mặt bể men tro, váng dầu đen đặc như hắc ín bốc mùi tanh nồng, bóp nghẹt toàn bộ lớp tro tràm và bột đá vôi quý giá đang lắng đọng bên dưới.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
