Chương 4: Lần Lại Vết Tro Cổ
Dưỡng Văn Thắng nắm chặt quai chiếc nón cùi dừa trong tay, ngực phập phồng sau từng lời dặn dằn giọng của cụ Bằng. Bụi đỏ từ vết bánh xe Uoát của bọn Tân Á vẫn còn bảng lảng trên mặt đường làng, nhưng bóng dáng quắc thước của cụ cố đã bước thoăn thoắt về phía gian từ đường chi họ Dưỡng nằm nép mình sau rặng nhãn cổ thụ.
— Con theo ta vào đây! — Cụ Bằng ngoái đầu ra hiệu, tiếng gậy tre gõ nhẹ lên bậc tam cấp bằng đá xanh. — Chuyện thuyền nan chú Mười lát nữa hẵng tính, trước khi ngược sông Lam, con phải biết tổ tiên họ Dưỡng đã nung nên thứ men chi mà khiến quan quân triều đình ngày xưa cúi đầu khâm phục.
Thắng vội vàng bước theo sau cụ, kéo vạt áo nâu lau vội mồ hôi trên trán. Gian từ đường cổ kính thoang thoảng mùi trầm hương quyện với mùi gỗ mít lâu năm. Trên bàn thờ tổ nghề gốm sơn son thiếp vàng đã bạc màu theo năm tháng, khói hương nghi ngút tỏa ra từ chiếc lư đồng mắt cua.
Cụ Bằng thắp ba nén hương, nghiêm cẩn vái lạy ba vái rồi quay sang nhìn Thắng. Cụ thò tay vào chiếc tráp gỗ hương đặt kín đáo phía sau khám thờ, cẩn trọng lấy ra một bọc vải điều đã ngả màu ố đỏ. Bàn tay chai sần, gầy guộc của cụ khẽ run lên khi gỡ từng lớp vải bọc. Bên trong là nửa mảnh gốm cổ vỡ hình cánh cung, to chừng miệng bát chiết yêu.
— Cầm lấy! — Cụ Bằng đưa mảnh gốm ra trước mặt Thắng.
Thắng nín thở, chìa cả hai bàn tay đỡ lấy vật báu. Lớp men phủ bên trên có màu xanh rêu ngả vàng chanh mộc mạc mà đằm thắm lạ kỳ, sâu hút như làn nước đáy vực sông Lam vào độ cuối thu. Những đường vân rạn chằng chịt, sắc nét hình vảy cá xếp tầng lớp lớp, ăn sâu vào tận thớ đất nung chứ không hề trôi tuột, nông choèn như thứ men tráng chì bóng nhẫy của công ty Tân Á.
Thắng sững sờ. Lồng ngực anh thắt lại, bàn tay bất giác lần vào trong túi áo bà ba rách mép, nơi anh vẫn cất giấu nửa mảnh gốm men tro tam hợp mà người ông nội quá cố đã trao lại trước lúc lâm chung.
— Sao thế con? — Cụ Bằng nhìn sâu vào mắt anh.
— Dạ... cụ cố... — Thắng run run rút nửa mảnh gốm của mình ra, run rẩy đặt sát vào mảnh gốm trên tay cụ.
Hai đường mép vỡ răng cưa khẽ chạm vào nhau, phát ra tiếng "cách" giòn tan. Hai mảnh gốm khít rịt từng gờ nứt, ráp lại thành một chiếc đĩa sâu lòng trọn vẹn! Màu men xanh rêu chanh cùng những vân rạn vảy cá uốn lượn liền một mạch, tựa như hai nửa linh hồn lang bạt suốt mấy chục năm trời nay mới tìm về đoàn tụ.
Thắng đưa ngón tay gõ nhẹ lên bờ vành đĩa.
"Keng... keng..."
Âm thanh phát ra đanh gọn, ngân vang lảnh lót chẳng khác nào tiếng chuông khánh bằng đồng đặt nơi cửa Phật. Mùi thơm ngai ngái, thanh tao của tro thảo mộc quyện với hồn đất sông Lam tỏa ra dịu nhẹ, át hẳn mùi khét lẹt của axit và bột chì độc hại từng khiến anh ngạt thở tối qua.
— Đúng là nó rồi... — Thắng nghẹn ngào, sống mũi cay xè. — Ông nội con ngày trước dặn đây là báu vật của dòng họ, nhưng con dại dột, nỏ hiểu hết huyền cơ nên suýt nữa làm mất cả mười lăm sào đất bãi...
Cụ Bằng nhìn hai mảnh gốm gắn liền, ánh mắt già nua ánh lên niềm xúc động khôn nguôi:— Năm ấy giặc giã tràn về, ông nội con gánh một nửa chạy vào rú Côn Bằng, ta giữ một nửa ở lại giữ lò. Mảnh gốm ni từng được tiến kinh dâng lên triều đình, người xưa gọi là men tro rạn tam hợp. Thứ men ni nỏ cần đến một mảy may hóa chất ngoại lai, nỏ cần thứ bột chì rẻ tiền độc hại của thằng Trọng với tay buôn họ Hoàng. Nó sinh ra từ chính cây cỏ, đất đá của bãi bồi quê mình!
Nói đoạn, cụ Bằng lần trong túi áo nâu sồng, rút ra một cuốn sổ tay bọc giấy dó đã ngả màu vàng sẫm. Trên bìa sổ, bốn chữ Hán "Hỏa Thổ Hợp Nhất" được viết bằng mực tàu chân phương, nét chữ cứng cỏi như gân guốc thợ lò. Cụ lật từng trang giấy dó mỏng manh, chỉ ngón tay chai sạn vào những dòng ghi chép tỉ mỉ — Con nhìn cho kỹ! Luyện men tro củi tam hợp, mấu chốt nằm ở đạo dung hòa của ba vị. Thứ nhất là tro tràm. Phải chọn cành tràm già khô cằn gãy mục ven núi Côn Bằng, đốt om kín gió lấy tro xốp mịn. Tro tràm mang tính mộc kiềm thuần hậu, tạo nên bộ khung xương bền chắc cho men, chịu được lửa dữ ngàn độ mà nỏ sợ bong tróc.
Thắng chăm chú nuốt từng lời, hai mắt mở to nhìn những hình vẽ phác thảo cấu trúc lò nung và tỷ lệ pha chế trong cuốn sổ. Cụ Bằng lật tiếp sang trang sau, giọng trầm ấm răn dạy — Thứ hai là tro trấu mục sông Lam. Vỏ trấu sau mùa gặt ủ mục dưới bãi ẩm rồi đem đốt lấy than xỉ xôm xốp. Chất men trong tro trấu gặp nhiệt độ cao sẽ sinh hỏa biến, tạo nên cái sắc xanh rêu ngả vàng chanh óng ả và đường rạn vảy cá sâu hút kia. Còn thứ ba chính là bột đá vôi suối ngầm. Đá vôi ngâm nước suối trong chân núi nghiền mịn như bột gạo, đóng vai trò kết nối, giúp men tan chảy đều đặn, ôm siết lấy cốt đất mộc thành một khối thống nhất. Ba vị tro đá hòa chung, nung củi liền ba ngày ba đêm ở đúng một nghìn hai trăm năm mươi độ C, thì ngọc quý cũng nỏ sánh bằng!
Thắng gật đầu lia lịa, từng lời răn dạy như dòng nước mát tưới vào tâm can đang khô héo vì hoang mang của anh. Hóa ra bấy lâu nay, kho báu đích thực vẫn nằm ngay bên bờ sông Lam, dưới chân núi Côn Bằng, vậy mà anh lại mù quáng tin vào lời đường mật của Dưỡng Hữu Trọng để rước thứ men độc hại về phá nát cơ nghiệp.
Cụ Bằng khép cuốn sổ lại, bước đến góc từ đường, nhấc tấm vải bạt cũ phủ trên chiếc bàn xoay gốm bằng gỗ lim đen nhánh. Mặt bàn xoay mòn vẹt vì dấu vết của hàng vạn lượt vuốt đất chuốt gốm, nhưng trục quay bằng sắt tôi vẫn trơn tru, vững chãi lạ kỳ.
— Chiếc bàn xoay ni, cụ cố nội truyền lại cho ta ngày ta tròn hai mươi mốt tuổi, đúng bằng tuổi con bây giờ, — cụ Bằng đặt bàn tay thô ráp lên mặt gỗ lim, giọng trang nghiêm như truyền lệnh. — Hôm nay, trước hương linh tổ tiên dòng họ Dưỡng, ta trao chiếc bàn xoay và cuốn sổ bí truyền ni cho con. Con có dám gánh vác lấy linh hồn làng gốm Cổ Bằng ni không?
Thắng quỳ sụp xuống chân cụ Bằng, hai tay nâng lấy chiếc bàn xoay gỗ lim nặng trịch. Nước mắt anh ứa ra, giọng nói dõng dạc vang lên giữa từ đường u tịch — Thưa cụ cố! Con xin thề trước vong linh tiên tổ và danh dự người thợ sông Lam! Con sẽ dốc cạn tâm sức học trọn đạo làm men tro củi, quyết cùng cụ đốt mẻ lò bầu thắng lợi ở hội chợ tỉnh, rửa sạch nỗi nhục men độc và giữ vững mười lăm sào đất bãi của làng! Nếu con nửa bước thối chí lùi bước, xin tổ tiên truất quyền cầm đất nắn gốm của con!
— Tốt! Đứng dậy đi con! — Cụ Bằng đỡ Thắng đứng lên, trong mắt ánh lên niềm tin cậy tuyệt đối. — Mau ra bến mượn thuyền nan của chú Mười, chuẩn bị sẵn sào, búa tạ và bao tải. Đầu giờ chiều ta ngược sông!
Thắng cẩn thận bọc lại mảnh gốm và chiếc bàn xoay, dập đầu lạy tạ bàn thờ tổ rồi quay bước ra ngoài. Lòng anh rạo rực ngọn lửa quyết tâm chưa từng có, đôi chân sải bước thoăn thoắt qua khoảng sân rêu.
Thế nhưng, vừa bước chân ra khỏi cổng ngõ nhà cụ Bằng, qua rặng cúc tần dẫn ra lối bờ ao, bước chân Thắng bỗng khựng lại.
Dưới bóng râm rậm rạp của rặng tre già sát mép nước bờ ao, có hai bóng người mặc quần loe, đội mũ nồi sùm sụp đang lén lút dòm ngó vào trong sân. Một tên trong số đó cầm cuốn sổ tay nhỏ, thỉnh thoảng liếc nhìn về phía gian từ đường rồi thì thầm to nhỏ với tên bên cạnh. Thắng nheo mắt nhìn kỹ, nhận ra ngay cái dáng lòng khòng của thằng Cò — tay chân thân tín chuyên theo đóm ăn tàn của Dưỡng Hữu Trọng. Ánh mắt lấm lét, gian manh của chúng dán chặt vào cửa ngõ nhà cụ Bằng, lộ rõ vẻ toan tính mưu mô như chực chờ phá hoại chuyến đi ngược dòng sông Lam.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
