Chương 12: Nắn Cốt Men Dâng Trăng
Dưới ánh đuốc chập chờn rọi vào hốc hào sâu hoắm, cụ Dưỡng Hữu Bằng chống gậy tre bước tới mép miệng hầm, chòm râu cước rung lên từng nhịp khi thấy Thắng đang run rẩy chỉ vào chốt then sắt bị rút lỏng.
— Đừng cuống, con! — Cụ Bằng cất giọng trầm tĩnh, ánh mắt sắc như dao cau soi thẳng xuống trục quạt bễ gió. — Thằng nghịch tôn với lũ gian thương nghĩ rút then sắt ni là bẻ gãy được mẻ nung của làng Cổ Bằng. Thắng, lấy búa với căn chêm sắt hình nêm trong hòm đồ nghề ra đây cho cụ. Đóng sập ngàm khóa lại, lấy dây đồng tao bện ba lớp siết chặt cổ trục. Bễ gió lò bầu ni nung củi ngàn độ, dựa vào then nêm hãm lực chứ nỏ phải chỉ nhờ mỗi chiếc chốt con ni.
Nghe lời dặn rành rẽ của bậc đại thụ, Thắng thở hắt ra một hơi, gật đầu dứt khoát. Dưới sự chỉ huy từng tấc của cụ Bằng, hai chàng trai trẻ Thược và Duẩn cùng Thắng ghé vai đóng chặt then sắt dự phòng, chèn nêm gỗ nghiến ngâm dầu, rồi dùng dây đồng bện khóa chặt cổ bễ. Trục quạt quay thử ro ro, vững chãi tựa bàn thạch. Cụ Bằng gật đầu, lệnh cho nhóm thợ trẻ thay phiên nhau tuần tra bãi củi, còn cụ trở về chõng tre chợp mắt giữ sức cho ngày đại sự.
Tờ mờ sáng hôm sau, sương mù bảng lảng trên mặt nước hạ lưu sông Lam còn chưa kịp tan, cụ Bằng đã thong thả bước ra gian xưởng chính. Gió sớm mang theo vị nồng mặn của phù sa bãi bồi thổi qua rặng tràm. Cụ dừng chân bên chiếc bàn xoay bằng gỗ lim tổ truyền nhẵn thín bóng nước thời gian, cúi người bốc một vốc đất sét trắng bãi bồi Côn Bằng từ trong vại sành ủ kín. Đất sét ni Thắng đã cần mẫn lọc qua ba tuần trăng, nhào nhuyễn cùng nước suối đá vôi trong vắt.
Cụ Bằng miết ngón tay cái chai sần lên thớ đất mịn màng. Cảm giác dẻo quánh, mát rượi và không vương lấy một hạt sạn nhỏ khiến khóe mắt cụ giãn ra. Cụ ngẩng lên nhìn Thắng cùng nhóm thợ trẻ đang đứng quây quần chờ đợi — Đất sét dẻo tựa sáp ong, ngậm đủ sương gió sông Lam ba tuần trăng rứa là đạt độ chín rồi đó các con. Thắng, ngồi vào bàn xoay! Hôm ni cụ cháu ta dốc hết tinh hoa chín đời nắn cốt gốm mộc, đặng mang ra hội chợ đập tan cái thói bịp bợm của quân gian thương!
— Dạ, cụ! — Thắng khảng khái đáp lời, vén cao tay áo nâu sồng, bước tới ngồi vững chãi trước bàn xoay gỗ lim.
Thược và Duẩn phân công nhau túc trực đạp cần xoay. Chiếc bàn xoay gỗ lim bắt đầu quay tít, tiếng trục gỗ cọ vào ổ trượt phát ra âm thanh rì rầm êm ái. Thắng đặt tảng đất sét trắng tròn trịa vào tâm bàn xoay, hai bàn tay thô ráp nhúng đẫm nước vuốt, nhẹ nhàng ép vào khối đất. Cụ Bằng đứng sừng sững bên cạnh, đôi mắt sáng quắc dõi theo từng cử động ngón tay của truyền nhân — Giữ lưng cho thẳng, tâm phải tịnh như mặt nước lòng giếng! Đôi bình tỳ bà cao ba thước ni là hồn cốt của gian hàng hội chợ tỉnh, cổ phải thon dài, bụng phải nở tròn đầy đặn như giọt nước rơi nghiêng. Ngón cái đè tâm, bốn ngón ngoài nâng vách đất, kéo dứt khoát từ đáy lên!
Nghe tiếng cụ Bằng dẫn dắt, bàn tay Thắng như hòa làm một với khối đất xoay tròn. Từng đường gân trên cánh tay vạm vỡ cuồn cuộn nổi lên. Từ tảng đất thô mộc, một dáng bình tỳ bà kiêu hãnh vươn cao, thanh thoát và cân đối đến từng ly từng tấc. Tiếp đó, dưới sự nắn nót tỉ mỉ, bộ ché rượu vân mây chạm nổi hình sóng nước sông Lam cùng năm mươi chiếc bát chiết yêu miệng loe đáy thắt lần lượt thành hình trên giá tre. Từng cốt gốm mộc mạc toát lên vẻ đanh chắc, mỏng đều tăm tắp mà chẳng hề méo mó một gợn nhỏ.
Đến xế chiều, khi những cốt gốm mộc đã se mặt dưới làn gió hanh hao, cụ Bằng đích thân dẫn Thắng tới bên bể men tro tam hợp đặt giữa xưởng. Nước men màu xám ngà sánh mịn như sữa non, phẳng lặng không một gợn váng dầu sau phép lọc thủy phi hôm trước.
Cụ Bằng cầm một chiếc gáo dừa múc thứ nước men sóng sánh đưa lên ngang mũi ngửi, rồi chấm đầu ngón tay nếm nhẹ vị chát đượm của tro tràm và tro trấu quyện bột đá vôi. Cụ khẽ gật đầu, cất giọng sang sảng giảng giải:— Men tro củi cổ truyền nỏ giống thứ men hóa chất pha chì quét bừa quét bãi của thằng Trọng. Tráng men tro phải theo phép 'ba chìm bảy nổi'. Cầm cốt gốm chúc miệng xuống men, nhúng ngập ba phần lẹ làng rồi rút lên xoay nhẹ cổ tay để bọt khí thoát ra hết. Lớp men bám lên cốt gốm mỏng tang như cánh ve sầu, đều tăm tắp từ miệng tới đáy. Dày quá thì men chảy đọng giọt như mụn cóc, mỏng quá thì lửa nung trơ cốt đất xám xịt.
Cụ Bằng đón lấy chiếc bát chiết yêu mộc từ tay Thắng, hai bàn tay già nua thoăn thoắt nhúng chìm vào vại men rồi nhấc bổng lên trong nháy mắt. Lớp nước men tro bám đều một màng mỏng mịn như phủ phấn hoa rừng, tuyệt nhiên không một giọt men thừa đọng lại nơi gờ đáy.
Thắng chăm chú dõi theo từng nhịp thở, từng góc nghiêng cổ tay của cụ cố. Anh cầm lấy đôi bình tỳ bà cao ba thước, hít sâu một hơi rồi cẩn trọng nhúng men. Dưới ánh mắt nghiêm cẩn mà ấm áp của cụ Bằng, từng chiếc ché rượu, từng chiếc bát chiết yêu lần lượt khoác lên mình lớp áo men tro tam hợp phẳng phiu, mịn màng.
Màn đêm buông xuống bãi bồi Côn Bằng. Ánh trăng rằm vằng vặc nhô lên khỏi rặng tre, dát một dải bạc lấp lánh trải dài trên mặt sông Lam. Khắp xưởng gốm xóm Lò, không khí trang nghiêm mà rạo rực bao trùm.
Hàng trăm sản phẩm gốm mộc tráng men tro đã khô ráo hoàn toàn. Dưới sự chỉ huy của cụ Bằng, Thắng cùng bà con thợ gốm cẩn thận bọc từng chiếc bát, nâng niu từng chiếc bình quý đặt ngay ngắn vào trong các bao nung tròn bằng đất sét sammốt chịu lửa. Đáy bao nung được rải đều một lớp cát thạch anh mịn để ngăn phôi dính chặt khi men tro sôi chảy ở đỉnh nhiệt.
Từng chiếc bao nung nặng trịch được khiêng vào năm buồng lò bầu xếp theo triền dốc ba mươi độ. Đôi bình tỳ bà cùng bộ ché rượu được trang trọng đặt ở tâm buồng số hai và số ba—nơi luồng hỏa khí ngàn độ cuộn chảy thuần khiết và ổn định nhất.
Đến cữ nửa đêm, chiếc bao nung cuối cùng đã nằm yên vị trong lòng buồng số năm. Thắng bước ra cửa lò, cầm thanh xà beng sắt cùng chiếc then khóa bằng gỗ nghiến cài sập cửa gió.
Cụ Bằng đứng tựa gậy tre trên triền dốc bãi bồi, bóng lưng quắc thước in dài trên nền đất phù sa dưới ánh trăng vằng vặc. Nhìn Thắng chùi vệt bùn đất trên trán, ánh mắt rực sáng niềm kiên định, lòng cụ Bằng dâng lên một nỗi xúc động khôn nguôi. Cụ cảm nhận rõ sức nặng sinh tử của mười lăm sào đất bãi cha ông, sinh mạng của cả làng gốm Cổ Bằng cùng danh dự của dòng họ Dưỡng đang đè nặng lên đôi vai của hai ông cháu trước cữ nung lửa lớn.
— Khóa then kỹ rồi chứ Thắng? — Cụ Bằng khẽ hỏi, giọng trầm ấm hòa cùng tiếng gió sông ràn rạt.
— Thưa cụ, năm cửa lò cùng hệ thống bễ gió ngầm đều đã kiểm tra ba lượt, chèn then sắt khóa chặt cả rồi ạ! — Thắng quay lại, đứng thẳng người đón gió sông, giọng đanh chắc như gõ vào chum sành. — Chỉ đợi giờ lành nổi lửa thôi cụ!
Cụ Bằng mỉm cười gật đầu, toan bảo Thắng cùng thợ trẻ vào lán uống bát nước chè xanh nóng ấm để chuẩn bị lễ bái tổ nghề trước giờ nhóm lò.
Bất ngờ, từ phía con đường đê tối om dẫn vào xưởng gốm, hai luồng ánh sáng chói lòa quét ngang qua rặng tràm. Một chiếc xe con lạ mắt rú ga ầm ĩ lao tới, bật đèn pha sáng quắc rọi thẳng vào sân xưởng gốm làm lóa cả khoảng sân đất nện, kèm theo tiếng bước chân nện gót giày da cồm cộm đang sấn sổ tiến vào.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
