Chương 11: Dựng Lại Vòm Lò Bầu
Tiếng cụ Dưỡng Hữu Bằng sang sảng dứt lời, dư âm như còn rung rinh trên từng vách nứa ám khói. Dưỡng Văn Thắng nhìn chiếc bình men tro xanh rêu ngả vàng chanh ngời ngời trong tay cụ cố, lồng ngực anh căng tràn một luồng nhiệt huyết nóng rẫy. Dấu chân hớt hải tháo chạy ra ngõ của Dưỡng Hữu Trọng cùng đám lâu la vẫn còn in hằn nơi bãi cát, nhưng chẳng ai bận tâm ngoái lại nhìn thêm một lần nào nữa.
Thời khắc quyết định đã điểm. Không một ai chần chừ.
— Anh em ơi, xách quang gánh, cuốc xẻng ra bến sông! Mau dọn lò bầu!
Thắng gào to một tiếng rồi vung tay ra hiệu. Tốp thợ trẻ xóm Lò gồm Thược, Duẩn cùng gần chục thanh niên trai tráng đồng thanh dạ ran một tiếng, lập tức ùa theo chân Thắng hướng về phía cuối bãi bồi. Nơi ấy, sát mép triền sông Lam lộng gió, thân xác đồ sộ của chiếc lò bầu năm gian cổ kính nằm im lìm suốt bao năm tháng qua, rêu phong phủ xanh rì như một con rồng đất khổng lồ đang say ngủ giữa lau lách hoang tàn.
Chiếc lò bầu này vốn là niềm kiêu hãnh của cả họ Dưỡng từ thuở cụ Bằng còn tráng kiện. Năm buồng nung dựng thoai thoải theo triền dốc ba mươi độ, buồng nọ mớm lửa cho buồng kia theo thế ngọn lửa cuốn đuôi rồng. Nhưng từ ngày xí nghiệp hợp tác xã giải thể, lò bỏ hoang, mối mọt gặm nhấm cửa gỗ, mưa lũ xói lở làm nứt toác nhiều mảng vòm cuốn bằng đất nung.
Thắng xắn cao ống quần quá gối, quăng phăng chiếc áo nâu sồng đẫm mồ hôi vắt lên cành tràm, rồi trực tiếp lội ào xuống mép phù sa sông Lam. Lớp bùn non lắng đọng ngàn đời mịn như mỡ gà, mát rượi dưới lòng bàn chân.
— Lấy lớp bùn sâu chừng hai gang tay, chớ vớt bùn rác mặt trên! — Thắng dặn với lên đám thợ trẻ đang khom lưng xúc cát — Anh Duẩn lọc cát thạch anh mịn qua sàng ba lớp, Thược mang rơm nếp thu hoạch vụ mùa băm nhỏ chừng hai đốt ngón tay lại đây cho tau!
Từng gánh bùn phù sa sánh quánh được khiêng lên bãi lò. Thắng đổ cát thạch anh trắng muốt cùng rơm nếp vào hố trộn, rồi nhảy thẳng vào dùng hai bàn chân trần nhào giẫm liên hồi. Từng thớ bùn quyện chặt với rơm nếp và cát hạt, dẻo quánh, dính chặt lấy bắp chân Thắng như keo sơn. Đây là thứ vữa đất bí truyền mà cụ Bằng đã ghi rành rọt trong cuốn sổ tay dó "Hỏa Thổ Hợp Nhất": rơm nếp giữ cốt không nứt toác khi khô ráo, cát thạch anh chịu nhiệt ngàn độ, bùn sông Lam gắn kết bền chặt tựa đá tảng.
Khi mẻ vữa đất đã dẻo quánh đến độ cầm lên ném xuống không dính tay, Thắng vác xô trèo thoăn thoắt lên khung giàn giáo tre bắc quanh vòm lò. Đứng chênh vênh ở độ cao hơn hai thước, gió sông Lam thốc vào mặt mằn mặn hơi sương, Thắng tỉ mỉ dùng bay sắt cạo sạch từng mảng rêu phong bám trên vòm cuốn.
Anh luồn tay vào từng kẽ nứt sâu hoắm, cẩn trọng trát lớp vữa bùn rơm mới vào tận xương cốt gạch sammốt. Đôi mắt Thắng sáng rực, căng ra dò xét từng tấc gạch. Cụ Bằng đứng dưới chân lò, hai tay chống gậy tre, ngước nhìn lên cất tiếng nhắc nhở — Thắng à, buồng số một là gốc lửa, phải trát dày thêm nửa tấc vữa chịu lửa! Lỗ thông phong buồng ba và buồng bốn phải nắn nghiêng góc mười lăm độ hướng về phía hạ lưu, để khi hỏa khí dâng lên ngàn hai trăm năm mươi độ C, gió sông nỏ tạt ngược làm nghẽn khói!
— Cháu nhớ rồi cụ ơi! — Thắng đáp vang.
Bàn tay thô ráp của chàng trai hai mươi mốt tuổi miết từng đường vữa dứt khoát, mượt mà. Anh chui hẳn nửa người vào lòng buồng nung số năm, nơi đặt ống khói vút cao, dùng cây gậy tre dài thông sạch những tổ chim sẻ và bùn khô đọng lại trong các mắt lửa thoát nhiệt. Cả năm buồng lò thông suốt một luồng sinh khí, gió hút qua cửa cời kêu ù ù như tiếng tù và giữa đồng vắng.
Đang lúc Thắng mải miết trát nốt mảng vòm buồng số hai, dưới đường mòn dẫn từ xóm Lò ra bãi bồi bỗng vang lên tiếng bước chân rậm rịch cùng tiếng cười nói xôn xao.
Thắng ngẩng đầu nhìn ra, hai mắt anh chợt cay sè vì xúc động. Trưởng thôn Nguyễn Văn Mười trong bộ quân phục bạc màu đang đi đầu, bàn tay trái cụt ngón trỏ vung vẩy chỉ đường, phía sau là hàng chục bà con cô bác xóm Lò gánh gồng tấp nập. Người gánh củi tràm khô chẻ đều tăm tắp, người đội từng sọt than hầm, lại có những cụ già cẩn thận bưng từng chiếc bao nung tròn bằng đất sét sammốt xếp ngay ngắn trên sạp tre.
— Chú Mười! Bà con! — Thắng trèo vội xuống giàn giáo, bước tới đón lấy đòn gánh trên vai một bác thợ già.
Chú Mười quệt vệt mồ hôi trên trán, cười ha hả, giọng hào sảng át cả tiếng sóng vỗ bờ — Thắng ơi! Nghe tin Ủy ban xã đình chỉ trò siết đất của thằng Trọng, lại thấy chiếc bình men tro của cụ Bằng đẹp như ngọc tiến vua, bà con xóm Lò mừng đến phát khóc! Mọi người bàn nhau gom sạch củi tràm tích trữ ba mùa trong bếp, mang cả mấy trăm chiếc bao nung sammốt nguyên vẹn từ kho cũ của hợp tác xã ra chi viện cho ông cháu mày đây! Cứ yên tâm mà sửa lò, làng ni quyết nỏ để mất một tấc đất sét bãi bồi mô!— Đa tạ chú Mười, đa tạ bà con chòm xóm! — Thắng nghẹn ngào, hai bàn tay còn dính đầy bùn non chắp lại cúi rạp người trước dân làng.
Cụ Bằng đứng bên cạnh mỉm cười đôn hậu, chòm râu cước rung rinh trong gió chiều — Đất làng nuôi người làng, lòng người đã thuận thì lửa lò ắt thành ngọc. Cảm ơn chú Mười cùng bà con nhiều lắm!
Cả bãi bồi Côn Bằng biến thành một đại công trường rộn rã. Củi tràm khô được xếp thành từng đống vuông vức cao quá đầu người dọc theo triền dốc, cách xa cửa lò để tránh tàn lửa bén vào. Hàng trăm chiếc bao nung sạch sẽ được phủ bạt cẩn thận, chỉ chờ gốm mộc tráng men đưa vào đóng kín.
Mặt trời đỏ ối dần lặn xuống sau rặng tràm bên kia bờ sông Lam. Hoàng hôn buông xuống, nhuộm tím ngắt dải bãi bồi phù sa. Khi bà con chòm xóm lục tục rủ nhau ra về chuẩn bị cơm nước, Thắng cùng Thược và Duẩn nhóm lên vài ngọn đuốc cắm quanh bãi lò để kiểm tra lại các cửa cời buồng nung lần cuối trước khi tắt nắng.
Gió lạnh đầu đêm thổi thông thốc ràn rạt qua rặng tre. Không khí ẩm ướt táp vào da thịt Thắng buốt lạnh, nhưng trong lòng anh lại rạo rực như có ngọn than đượm.
Bỗng nhiên, từ rặng tràm rậm rạp phía sau bãi củi, tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch vang lên gấp gáp. Thược từ phía bìa rừng thở không ra hơi, mặt cắt không còn giọt máu, hớt hải lao bổ về phía Thắng — Anh Thắng! Anh Thắng ơi! Có biến rồi!
Thắng giật nảy mình, vội nắm chặt lấy bả vai Thược lắc mạnh — Bình tĩnh lại! Có chuyện chi mà hớt hơ hớt hải rứa?
Thược vịn vào thành lò th* d*c, mắt lấm lét nhìn dáo dác ra phía sau lưng — Hồi nãy… hồi nãy em ra bãi củi tràm phía sau làng mót thêm mấy bó bùi nhùi, thì thấy có hai bóng người lén lút dòm ngó quanh kho củi với đường dẫn gió ngầm! Em vừa quát lên một tiếng thì hai đứa nó trùm mũ sụp kín mặt, nhảy tót lên chiếc xe máy Babetta dựng sẵn ở bìa mương, phóng thục mạng về phía đường lớn thị trấn rồi!
Lòng Thắng thắt lại, linh tính mách bảo điều chẳng lành. Bọn Tân Á và thằng Trọng vừa nếm mùi thất bại nhục nhã ban sáng, hồ sơ lại đang bị chuyển lên Công an huyện, chắc chắn chúng cùng đường sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn bẩn thỉu nào để bức tử mẻ lò sống còn ni.
— Đi kiểm tra ngay! — Thắng gắt gao ra lệnh, giật lấy cây đuốc trên tay Duẩn rồi rảo bước lao vội về phía buồng lửa số một.
Buồng số một nằm ở điểm thấp nhất của triền dốc, chịu trách nhiệm nhóm mồi và tiếp lửa sơ khởi cho toàn bộ năm gian lò. Để duy trì ngọn lửa đạt tới nghìn độ, bên dưới nền đất buồng một có một đường hầm thông gió ngầm nối liền với bễ quạt bằng sắt đúc đặt chìm dưới lòng hào sâu.
Thắng quỳ rạp người xuống nền đất ẩm, soi ngọn đuốc bập bùng vào miệng hầm bễ gió. Khói đuốc bốc lên nghi ngút soi rõ những vết chân giẫm đạp hỗn loạn còn in mới tinh trên lớp đất mềm quanh thành hào.
Tim Thắng đập thình thịch từng hồi dồn dập. Anh vươn tay lần mò sâu vào hốc kẹt của bễ quạt gió ngầm. Những ngón tay thô ráp của người thợ gốm chợt chạm vào một khoảng trống rỗng toác bất thường.
Thắng giật thót người, kéo phăng thanh sắt chắn ra ngoài. Dưới ánh lửa bập bùng chao đảo, Thắng bàng hoàng nhận ra chốt then sắt cố định trục quay của cánh quạt bễ gió ngầm dẫn vào buồng lửa số một đã bị ai đó rút lỏng trơ khấc, chỉ cần cữ lửa bùng lên quạt gió mạnh là toàn bộ trục bễ sẽ trượt khớp gãy vụn ngay tức khắc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
