Chương 5: Chuẩn Bị Xuống Tầng Sâu

Cuộc họp tại nhà kho hợp tác xã vừa vãn, xã viên lục tục kéo nhau ra về. Ông Trần Khắc Đạt chống chiếc gậy ba toong đứng dậy, cố giữ dáng vẻ bệ vệ thường ngày nhưng đôi chân gầy guộc run rẩy không giấu nổi. Đi ngang qua chỗ cụ Sơn, cựu chủ nhiệm khựng lại nửa nhịp, khóe mắt phải giật liên hồi, ném về phía người thợ cả một ánh nhìn hằn học xen lẫn nỗi hoảng loạn khôn nguôi rồi lầm lũi rảo bước ra ngõ.

Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh bước lại gần, siết chặt tay cụ Sơn “Mọi việc trông cậy vào cụ thợ cả. Cháu sẽ cắt cử chi đoàn túc trực quanh cây thị, không để ai quấy rầy hai ông cháu.”

Cụ Sơn khẽ gật đầu “Chú cứ yên tâm. Già này đã nhận lời thì ắt làm cho kỳ được.”

Về đến căn nhà ngói ba gian nơi cuối xóm, cụ Sơn bảo An trải chiếc chiếu cói ra thềm hiên, rồi tự tay bưng chiếc hòm gỗ đồ nghề gia bảo đặt xuống.

Hai ông cháu cẩn thận kiểm tra từng sải thừng chão bện bằng vỏ cây móc rừng già đã ngâm nước vôi dẻo quánh để không mục ruỗng khi ngập bùn. Cụ Sơn lần ngón tay thô ráp dọc theo mắt thừng, miết kỹ từng mối tết xem có chỗ nào sờn mục hay không. Đoạn, cụ nhấc chiếc búa búp sen bằng sắt tôi đã mòn vẹt sống búa, bộ đục dẹp chuốt nhẵn thín và thanh nạo sắt cong đầu chuyên cạo rêu. Cuối cùng là chiếc đèn chai dầu hỏa có bầu thông khí bằng đồng mắt cua chuyên dùng để thử dưỡng khí dưới vực sâu.

Cụ Sơn châm lửa, ngọn lửa vàng bập bùng sau bầu kính chắn gió. Cụ cất giọng trầm ấm “An này, nghề thợ giếng nhà ta không chỉ cậy sức dài vai rộng, mà cốt ở cái tâm và cái tai. Giếng Cả sâu mười lăm mét là chốn hiểm trở, dễ đọng uế khí độc. Đêm nay xuống đáy, trước khi chạm bùn, con phải dòng chiếc đèn chai này xuống ngang thắt lưng. Hễ thấy ngọn lửa lịm dần, ấy là đáy giếng cạn dưỡng khí, hơi độc bốc lên, tuyệt đối không được ham làm mà phải giật thừng ba hồi để già này kéo lên ngay.”

An chăm chú lắng nghe, nắm chặt quai chiếc giỏ mây “Dạ, cháu nhớ kỹ rồi ông nội.”

Cụ Sơn chỉ tay về phía chiếc búa búp sen “Đá ong dưới sâu thở qua từng thớ kẽ. Áp tai trần vào vách đá ong mẹ, con phải gõ nhẹ và lắng nghe cho thấu. Đá đanh chắc thì tiếng dội giòn tan như sắt nguội; đá non sụt lở thì tiếng ục ục ràn rạt; còn tiếng rít qua kẽ rỗng là đá đón gió ngầm. Nhưng quan trọng nhất là giữ tâm bất biến. Treo mình giữa vách giếng hẹp tăm tối, bốn bề bùn lạnh ngập gối, chỉ cần thoáng sợ hãi là loạn nhịp thở, bủn rủn chân tay ngay. Lòng thợ có tĩnh thì mắt nước mới thông, hiểu chưa con?”“Cháu hiểu rồi ạ,” An nghiêm giọng đáp, ánh mắt ngời lên vẻ kiên định của người lính trẻ.

Chiều muộn, ráng đỏ hắt từng vệt dài trên rặng xoan đầu ngõ. Cô giáo Đỗ Thị Mai lặng lẽ bước vào cổng, tay cắp chiếc giỏ mây phủ khăn vải màn. Gương mặt người phụ nữ bốn mươi tám tuổi gầy gò đượm buồn, mái tóc điểm hoa râm búi trễ sau gáy. Thấy cụ Sơn, cô khẽ cúi đầu chào rồi đặt chiếc ấm tích ủ nước vối ấm cùng gói củ mài luộc bọc lá chuối tiêu lên mép chõng tre.

“Bác Sơn, cháu nghe tin ban quản trị giao nạo vét giếng cho hai ông cháu,” giọng cô Mai nhỏ nhẹ, nghẹn ngào. “Cháu chẳng có gì nhiều, chỉ có ấm nước vối còn nóng hổi với gói củ mài mới đào trên gò sim đem luộc, mang sang biếu bác và cháu An bồi dưỡng lấy sức.”

Cụ Sơn nhìn gói củ mài bốc hơi nghi ngút, rồi nhìn đôi mắt u uẩn đẫm lệ của cô giáo nghèo. Hai mươi lăm năm qua, kể từ ngày Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương mất tích cùng lời đồn ôm mười hai lượng vàng đào ngũ, người em gái này đã cắn răng chịu bao cay đắng, âm thầm gánh sự ghẻ lạnh của người đời để dạy chữ cho con trẻ trong làng.

“Cô Mai chu đáo quá,” cụ Sơn rót bát nước vối sóng sánh màu cánh gián đượm khói, ôn tồn bảo: “Bà con hoang mang vì tin đồn ma tà, nhưng già này tin mạch đất có mắt, lòng người có đạo. Cô cứ yên tâm, tà không thể thắng chính.”

Cô Mai run run, bàn tay bấu chặt tà áo nâu bạc màu “Cháu đội ơn bác. Cả làng ai cũng sợ bảo đáy giếng có ma đòi mạng, nhưng cháu… cháu chỉ mong người nằm dưới đất sâu dẫu là ai cũng được yên lòng, để nỗi oan khuất không chôn vùi trong tăm tối mãi…”

Lời gửi gắm nghẹn ngào khiến lòng cụ Sơn quặn thắt. Cụ khẽ gật đầu, trong ánh mắt đong đầy lời hứa son sắt của người thợ già từng trải.

Sẩm tối, cô Mai chào ra về. Đêm thu buông xuống làng Đồi Ong nhanh chóng, không gian u tịch chìm trong sương mờ buốt giá. Cả xóm làng dường như nín thở, nhà nào nhà nấy cài then đóng cửa sớm vì sợ hãi những lời đồn ma quái.

Hai ông cháu chong ngọn đèn chai bên thềm hiên, nhìn về bóng cây thị cổ thụ đầu làng. Từ hướng Giếng Cả xa xa, từng luồng gió lạnh buốt theo cữ đêm thổi thốc qua rặng tre, mang theo tiếng rít rền rĩ “u... u...” vọng lại xé toạc đêm thanh vắng.

Áp bàn tay lên ngực áo, nơi mảnh lụa đũi mỡ gà của Trần Khắc Đạt vẫn xếp gọn gàng, cụ Sơn khép hờ đôi mắt. Tiếng gió rít ai oán ấy đối với dân làng là nỗi kinh hoàng, nhưng với đôi tai tinh tường của cụ, đó chính là tiếng phong tiêu dội ngược từ vòm rỗng ngầm. Ký ức năm 1953 bỗng ùa về rõ mồn một trong tâm trí cụ: những ngày cùng đội du kích đào mạng lưới địa đạo bí mật luồn qua tầng đá ong, nơi có ngách hầm hiểm yếu ăn thông sát đáy Giếng Cả.

Linh tính nghề nghiệp cùng ký ức năm xưa mách bảo cụ rằng, dị tượng nước đỏ và tiếng rên xiết dưới đáy giếng có mối liên hệ mật thiết với mạng lưới địa đạo kháng chiến mà cụ từng góp công đào đắp.

Cụ Sơn mở bừng mắt. Nhìn cháu An đang nai nịt gọn gàng với chiếc xà cạp buộc chặt ống quần, cụ siết chặt sợi thừng chão trong bàn tay chai sần, trầm giọng dặn dò cháu An chuẩn bị tinh thần, bởi chuyến lặn xuống đáy giếng đêm nay không chỉ để tìm mạch nước mà còn để chạm tay vào bí mật chôn vùi suốt một phần tư thế kỷ.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.