Chương 44: Đèn Mỹ Nhân (12)
Hôm sau, lúc La Khải đưa cơm đến cung Hưng Khánh, Chu Kỳ đang ngồi trên sập đọc sách.
Trước đây La Khải đã từng đến phòng làm việc của Chi Hợi thuộc Can Chi Vệ, nhưng đây là lần đầu tiên cậu tới nơi ở của Chu Kỳ. Ở sát tường là một chiếc sập lớn giống hệt chiếc sập ngoài phòng làm việc, có lẽ tất cả đều được quan phủ cấp phát đồng bộ. Trên sập đặt bộ cái bàn nhỏ, trên bàn, ngoại trừ giấy, bút, mực, nghiên ra, còn có một chén trà và một ụ vỏ hạt thông. Đây là đã dậy sớm ăn trước một bận rồi hả?
Đối diện sập lớn là một cái kệ sách cũng giống hệt cái ở phòng làm việc của Can Chi Vệ, trên đó xếp bao nhiêu là sách, quyển thò ra quyển thụt vào. La Khải nhìn mà thèm, chắc tất cả tiểu thuyết hay có thể tìm thấy khắp hai chợ Đông, Tây đều ở trên ấy rồi nhỉ? Nhất định phải mượn mấy quyển về đọc thử mới được.
Ngoài ra, góc tường còn có một chiếc tủ cao và hẹp, không biết bên trong đựng thứ gì.
Trong gian phòng này, mấy thứ tạm coi là nữ tính có lẽ là tấm đệm trải trên sập và mấy cái gối dựa vứt ngổn ngang. Thảy đều được may bằng gấm Thục* đẹp đẽ, một sắc xanh biếc hơn cả màu lá tùng, phía trên dệt những đường vân màu lục nhạt. Nhìn chúng, La Khải lại nhớ đến mặt hồ dưới bóng cây ngày hè. Dùng vải vóc hoa lệ thế này để may đệm ngồi và gối dựa, Chu Tướng quân quả là xa hoa! Nhưng khi nhìn thấy đôi vớ vải bố trắng sắp sờn đến nơi trên chân nàng, cậu lập tức quên mấy lời này đi.
* Nguyên văn “蜀锦” (Thục cẩm) hay còn gọi là gấm Tứ Xuyên.
Thật ra La Khải cũng phần nào hiểu được Chu Tướng quân. Nàng chả phải là người xa hoa hay kiểu người đặc biệt gì cả, chẳng qua nàng không sống cuộc đời ổn định như bao người khác, chưa từng nghĩ cũng không hề muốn học cách sống như bao người. Nàng giống hệt một hiệp khách giang hồ, ăn no thì uống rượu, say rồi thì ngả lưng ngủ; có tiền thì xài, xài hết thì thôi; đi ra ngoài cầm túi hành lý nhỏ cũng thấy phiền…
Đối với chuyện Chu Kỳ chẳng biết lo toan cho cuộc sống thế này, La Khải lại thấy chẳng có gì to tát cả, thậm chí còn có cảm giác “thế lại hay”. Bởi vì ông chủ nhà cậu biết chăm lo cho cuộc sống lắm.
Ông chủ đi đâu cũng sống thoải mái được cả. Trong nhà có hoa, có trúc, có mèo, có cá. Lúc rảnh thì pha trà, đánh đàn, đọc sách, chơi cờ. Hồi đi lên kinh, lúc bị lỡ quán trọ phải ở lại trong miếu sơn thần trên núi, ông chủ cũng không chê phiền mà nhóm bếp đun nước, tự tay nấu cho mọi người một nồi cháo rau thịt khô.
Hai người này ấy à, đúng là một cặp trời sinh.
La Khải cười tủm tỉm nhìn Chu Kỳ, ánh mắt thoáng vẻ hiền từ.
Chu Kỳ chẳng buồn ngẩng đầu lên, xì xụp ăn món bánh mỡ hành chan canh xương cừu hầm.
Xương cừu này được hầm đến mềm rục, miếng thịt béo núng nính, thơm mà không ngấy, không hề có mùi tanh đặc trưng. Chu Kỳ cầm đũa trúc xoi tuỷ xương ra, đưa lên miệng hút “rột” một tiếng, ngon hết ý!
Nước dùng màu trắng đục như sữa, sánh đặc, rắc thêm một chút tiêu, lại có cả bột rau thơm, nhúng cái bánh rán mỡ hành giòn rụm vào nữa, ôi, sao mà ngon thế này cơ chứ!
La Khải cười nói – Bác Đường bảo là “ăn gì bổ nấy”, hôm nay sẽ mua giò heo về kho với tương cho thật đậm đà để ăn. Bác Đường kho thịt heo là thơm ngon nhất. Ngay cả ông chủ nhà em vốn ăn uống điều độ, lúc nào cũng chỉ ăn lửng bụng, không thích uống rượu, mà mỗi lần bác Đường kho thịt heo, ngài ấy đều phải uống một chén rượu, ăn thêm mấy miếng nữa đấy.
Lúc tô sứ đã gần thấy đáy, Chu Kỳ vốn cảm thấy bụng đã no cành không thể nhét thêm được nữa, nhưng giờ nghe La Khải nói vậy, dường như trong bụng nàng tự dưng lại có thêm chỗ trống, ăn tiếp vẫn được!
Chu Kỳ ngại ngùng nói – Bác ấy phải dậy từ mấy giờ để ninh thịt thế? Món này nếu không ninh đủ mấy canh giờ, e là không thể ra được hương vị này đâu.
La Khải xua tay – Trước khi đi ngủ đã bắc lên bếp, ninh suốt một đêm, sáng ra ăn là vừa ngon luôn ạ. Trong nhà có bếp với nồi chuyên dụng để hầm thịt, là do chủ em đọc thấy trong sách rồi đặt người ta làm đấy, không cần phải canh lửa đâu. Dùng cũng được mấy năm rồi.
Chu Kỳ lại thấy ghen tị và hâm mộ Tạ Thiếu khanh, nhưng rồi vội vàng dằn lại, bụng bảo dạ không thể mới ăn cháo xong đã đá bát.
Mặc dù hôm nay Chu Kỳ phải đến phủ Kinh Triệu để nghe xử án, nhưng theo thường lệ, Trịnh Phủ doãn cũng phải đến cuối giờ Thìn* mới xét xử. Bây giờ hãy còn sớm, Chu Kỳ không vội xuất phát. La Khải cũng không vội về mà định lựa mấy quyển truyện đem về đọc.
* Cuối giờ Thìn: khoảng 9 giờ sáng.
Chu Kỳ mỉm cười – Tôi cho cậu xem cái này xong là cậu hết ham đọc truyện luôn đấy.
Nàng vẫn ngồi trên sập, chỉ trỏ tay về phía cái tủ cao ở góc tường.
– Cậu tự qua đó xem đi.
Chu Kỳ tựa người vào chiếc gối mềm, co một chân lại, duỗi chân hôm qua bị thương ra. Tối qua về xem lại thấy mắt cá chân nàng sưng lên rất to, sau khi xoa dầu thuốc rồi chườm lạnh theo lời Tạ Thiếu khanh nói một lúc, sáng nay có vẻ đã đỡ hơn rồi. Thế nhưng Chu Kỳ là người lười được thì sẽ lười.
La Khải bước tới kéo cánh cửa tủ ra thì “ồ” lên một tiếng.
Bên trong, tầng trên treo ba thanh kiếm, nhìn kiểu dáng là biết đó là bảo kiếm có tiếng; tầng giữa lót vải nhung, bên trên đặt hai thanh dao găm với lưỡi dao sáng loáng; tầng dưới treo hai thanh bảo đao; tầng đáy để hai chiếc roi ngựa.
Con nhà võ có ai mà không mê đao kiếm chứ? La Khải muốn sờ thử vô cùng. Cậu chợt thấy mình suy nghĩ nông cạn quá. Chu Tướng quân không biết lo toan thì sao mà tích góp được từng ấy danh đao, danh kiếm? Mặc dù chưa từng sử dụng danh kiếm nhưng La Khải vẫn có mắt nhìn. Đây toàn là đồ quý cả, có tiền cũng chưa chắc mua được đâu, phải có duyên mới gặp được cơ.
Chu Kỳ đã quen cái thói nghèo mà sang, bảo La Khải cứ chọn một món về chơi, chơi chán rồi trả lại cho mình. La Khải vội xua tay lia lịa – Mượn mấy món này em sợ mình không đánh nhau được mất.
Chu Kỳ bật cười. Thật ra bình thường nàng cũng chỉ dùng đao kiếm bình thường thôi. Đao kiếm rất dễ hư hại, mấy thanh danh kiếm, danh đao này mà sứt một miếng thì nàng đau lòng lắm. Cái này giống với các tiểu nương tử dành dụm tiền may một bộ váy áo mấy vạn đồng, ngày thường chỉ treo trong tủ, đến khi có yến ẩm mới lấy ra mặc, lỡ mắc phải một sợi chỉ hay cháy một lỗ thủng là đau lòng đến phát khóc luôn. La Khải nấn ná ở chỗ Chu Kỳ thêm một lúc nữa mới lưu luyến dọn dẹp chén bát ra về.
Tạ Dung một tay cầm sách, một tay nhón một ít cám gạo cho lũ cá mới mua ở chợ Đông hồi tết Thượng nguyên ăn.
– Sao giờ mới về thế?
La Khải đến gần trước mặt chàng – Ở chỗ Chu Tướng quân thích thật.
Tạ Dung không đáp lời, nhón thêm một ít cám gạo nữa rắc xuống.
– Ở chỗ Chu Tướng quân thích lắm ạ, thật đó.
Tạ Dung thoáng mỉm cười, thuận miệng hỏi – Ồ? Thích ở chỗ nào? Hạt dẻ rang đường ngon à?
– … Lang quân, ngài không thể xem thường Chu Tướng quân như vậy đâu.
La Khải thấy bất bình thay cho Chu Kỳ – Trong phòng Chu Tướng quân bày cả một kệ sách đấy ạ.
La Khải giấu nhẹm chuyện “tất cả đều là tiểu thuyết” đi.
– Ừm.
Tạ Dung lấy khăn ra lau tay rồi tiếp tục ngắm cá.
– Chu Tướng quân còn có một tủ đao kiếm, toàn đồ tốt có tiền cũng không mua được thôi.
– Chu Tướng quân vừa giỏi văn, vừa giỏi võ.
– Chu Tướng quân vừa dí dỏm lại vừa hào phóng.
…
Tạ Dung liếc nhìn La Khải, chẳng phải chỉ đi đưa bữa cơm thôi mà, có cần phải thế không? Chàng bất giác nhớ tới cậu nhóc này đêm giao thừa say rượu gọi người ta là “chị Chu” cơ mà. Đúng là thằng nhóc phản bội…
Thấy chủ nhân nhà mình nghe xong mà chỉ “ừm” với “ừ”, cho cá ăn xong lại ngồi về sập đọc sách, La Khải cảm thấy trái tim mình sắp vỡ vụn vì lo lắng rồi, thầm nghĩ: “Hôm qua hai người cưỡi ngựa nói chuyện với nhau vui vẻ lắm mà, ngài còn hứa mang cơm cho người ta, ngài có thể cố gắng thêm chút nữa không?”
Đến giữa giờ Thìn*, Trịnh Phủ doãn, Tạ Dung, Thôi Dập và Chu Kỳ lục tục tới phủ Kinh Triệu. Hôm nay là hai mươi tháng Giêng, vốn là ngày nghỉ phép. Thế nhưng, vụ án ba cô gái ở phường Thường An mất tích này vừa có tình tiết dụ dỗ bắt cóc, lại có tình tiết giết người, còn cả tình tiết tuẫn táng, xem như là một vụ đại án chấn động, vì vậy hôm nay phải gấp rút xét xử ngay.
* Giữa giờ Thìn: khoảng 8 giờ sáng.
Trịnh Phủ doãn và Tạ Thiếu khanh vẫn ngồi trên công đường xét xử như cũ, còn Thôi Dập và Chu Kỳ ngồi ở dưới dự thính.
Trịnh Phủ doãn đã hỏi sơ qua ba cô gái đã được cứu về nên nắm khá rõ quá trình xảy ra. Hơn nữa, nghi phạm bị bắt tại trận, nhân chứng vật chứng đều đầy đủ cả. Điều duy nhất còn thiếu là động cơ gây án của Giang Vi Chi.
Giang Vi Chi đứng trên công đường, tuy dáng vẻ khá thảm hại nhưng phong tư vẫn ung dung như trước.
Trịnh Phủ doãn cảm thấy đáng tiếc vô cùng – Giang Vi Chi, cậu xuất thân thế gia, là con em nhà cao cửa rộng, từ nhỏ đã đọc sách thánh hiền, học đạo lý làm người, cớ sao lại làm ra chuyện thất đức, vi phạm pháp luật như vậy?
Giang Vi Chi chỉ lẳng lặng nhìn Trịnh Phủ doãn.
– Cậu còn không mau nhận tội hử? Gã Hề Thông của Hề Gia Trang đó biết mình sắp gần đất xa trời, muốn tìm một cô gái con nhà lành biết chữ nghĩa để chôn cùng nên cậu tìm người giúp lão. Cậu gặp được Thường thị ở chùa Từ An trong phường Vĩnh Bình bèn tiếp cận rồi dụ dỗ, tặng cô ấy thỏi bạc hình mẫu đơn, hẹn gặp nhau vào Tết rồi hẹn đến tết Thượng nguyên lại gặp nhau tiếp.
– Vào tết Thượng nguyên, Thường thị tách khỏi hầu gái để đi gặp cậu. Cậu định dụ dỗ cô ấy lên xe ngựa, ai ngờ hai chị em họ Trần cùng phường đến hỏi han, còn khuyên can Thường thị phải cẩn thận. Thế là các cậu phóng lao theo lao, lập tức đánh ngất ba người rồi bắt đi, nhốt trong hầm ngầm của tiệm tang lễ Quần Hiền.
– Sáng hôm qua, nô bộc nhà họ Hề đến đưa người đi. Cậu đã trùm một cái lồng giấy vào người Thường thị đang hôn mê, giả làm đồ vàng mã rồi đưa lên xe chở ra khỏi thành… Cậu còn không mau khai ra?
Giang Vi Chi mỉm cười, hỏi – Tôi chỉ hơi thắc mắc, các vị quý nhân tìm được tôi bằng cách nào?
Trịnh Phủ doãn đắc ý nói – Đương nhiên là vì lá thư tỏ vẻ thông minh vặt của cậu rồi.
Dứt lời, ông ấy sực nhớ ra manh mối này không phải do mình phát hiện. Trịnh Phủ doãn khẽ ho một tiếng – Tạ Thiếu khanh đã phát hiện nét chữ của cậu học theo Tống tiên sinh thời Bắc triều. Rất ít người nghiên cứu “Mộ chí” của Tống tiên sinh, thế mà cậu lại học theo, điều này quả thực hơi kỳ lạ. Trên bức thư kia của cậu lại có mùi tro hương, mà trong giới làm nghề mai táng, chỉ khi viết bài vị cho người chết oan, chết yểu thì người ta mới làm như vậy. Hoặc là cậu kiêng kị chuyện chôn người sống theo người chết nên mới dùng mực pha tro hương, hoặc chỉ là bất cẩn dùng nhầm nên để lại manh mối trong bức thư kia.
Trịnh Phủ doãn nhìn sang Tạ Dung xem chàng còn muốn bổ sung thêm gì nữa không.
Tạ Dung nói – Hẳn là trường hợp thứ nhất. Cậu làm chuyện thất đức như vậy, nhưng vẫn tỏ vẻ “việc gì cũng có cái lý của nó”. Cậu để lại cho mỗi người một ngàn đồng, đó là tiền mua mạng, phải không?
Chàng vừa dứt lời, Trịnh Phủ doãn hơi kinh ngạc, nhớ tới thỏi bạc ngàn đồng cùng hai ngàn đồng, hoá ra là như vậy à?
Tạ Dung liếc nhìn Chu Kỳ – Chu Tướng quân từng kể rằng ở Trường An có một truyền thuyết tên là Bà Lão Ngàn Đồng, cậu định giá mạng người là một ngàn đồng, chắc là cậu bị truyền thuyết này ảnh hưởng nhỉ?
Thôi Dập đang ngồi nghe thẩm án, xoa xoa cánh tay đang sởn da gà, thầm nghĩ chờ mấy ngày nữa chân cẳng Chu Kỳ khá hơn sẽ theo nàng học kiếm.
– Không ngờ các vị quý nhân ở chốn miếu đường cao sang mà cũng biết chuyện này…
Giang Vi Chi mỉm cười lắc đầu. Trịnh Phủ doãn không biết chuyện Bà Lão Ngàn Đồng là gì, Tạ Dung bèn kể sơ lược cho ông ấy nghe.
Trịnh Phủ doãn là người chưa bao giờ nói những điều kỳ quái, vũ lực, làm loạn và quỷ thần, cũng không nghe những lời đồn nhảm trong dân gian – …
Chẳng hiểu sao nhớ đến lời Chu Kỳ trêu ghẹo Thôi Dập là “đọc nhiều sách có ích lắm đấy”, Trịnh Phủ doãn bất giác chau mày liếc Chu Kỳ một cái.
Thấy Chu Kỳ lại tỏ vẻ khiêm tốn, Trịnh Phủ doãn lại cảm thấy hai bên huyệt thái dương bắt đầu đau âm ỉ.
Giang Vi Chi hỏi – Sao quý nhân phát hiện ra hầm ngầm đó của tôi vậy?
– Tuy nét chữ trong bức thư Giang lang sai người gửi đến nhà họ Trần và “Vãng sinh chú” trên bình phong khá tương đồng, nhưng chữ trong thư thì khoảng cách lớn, có nét nối, giữa các nét bút có vẻ tuỳ ý và qua loa, còn “Vãng sinh chú” thì nghiêm cẩn và trang trọng hơn nhiều, vả lại nét ngang có vẻ bằng hơn, nhiều nét tròn giấu mũi bút thoạt trông có vẻ như đang xót thương. Nét chữ của Tống tiên sinh vô cùng ngay ngắn, mang vẻ kính trọng đối với chuyện sinh tử. Trong bức thư kia chỉ có vỏ ngoài của Tống tiên sinh, còn “Vãng sinh chú” này mới có được linh hồn giống trong bút pháp của ông ấy.
Tạ Dung nhìn Giang Vi Chi, hỏi – Có phải vì anh xây hầm ngầm đó là để nhốt những người sẽ bị chôn sống nên khi viết chữ lên bình phong mới động lòng trắc ẩn không?
Giang Vi Chi khẽ nhếch môi cười.
– Hoặc là chuyện chôn sống này khiến anh vô cùng đau khổ?
Nụ cười của Giang Vi Chi phai dần.
– Hôm qua biết được tên của anh, ta đã cảm thấy hơi kỳ lạ. Trong Thị tộc chí chép, tộc Giang đặt tên theo ngũ hành, cứ năm đời là một vòng lặp lại. Thế nhưng tên anh lại là ngoại lệ.
Giang Vi Chi thoáng sầm mặt lại.
– Suy đoán của ta có hơi mạo phạm, lỡ có sai, mong anh bỏ quá cho. Có lẽ anh không phải là con vợ cả, thậm chí còn không được xem là con vợ lẽ đứng đắn nữa…
Giang Vi Chi sầm mặt, nói – Đủ rồi!
Một hồi lâu sau, Giang Vi Chi chầm chậm thở ra một hơi, vẻ mặt bình tĩnh trở lại – Đúng vậy, bà thân sinh của tôi là tình nhân của tiên phụ. Hồi tôi còn bé, tiên phụ qua đời, vị phu nhân kia đồng ý nhận tôi là con cái họ Giang với điều kiện mẹ tôi phải tuẫn táng theo tiên phụ.
Giang Vi Chi cười khẩy – Bà mẹ xuất thân thấp hèn, kiến thức nông cạn của tôi lại thật sự đồng ý…
Trong đầu Giang Vi Chi lờ mờ hiện lên dáng vẻ khinh thị và chán ghét của vị phu nhân kia: “Mi xuất thân là con hát, mi muốn cho nó theo mi làm một đứa tiện dân à? Mi tưởng được trả tự do sẽ thật sự là lương dân chắc? Chỉ cần mi chết đi, ta sẽ cho nó vào gia phả, thừa nhận nó là con cháu của tộc Giang”.
Hắn còn nhớ vẻ mặt do dự, chùn chân, khóc sụt sùi của mẹ, còn có linh cữu của cha, bọn nô bộc xô đẩy và cả biểu cảm thờ ơ của anh cả.
Giang Vi Chi lại nhớ tới lời nói anh cả đã nói mấy năm nay lúc mình đi thi: “Trong thế hệ này của tộc Giang ta, chỉ mình em là học hành có tương lai hơn cả. Hiện giờ không phải thời tiến cử ra làm quan, cũng không thể hưởng lệ tập ấm, muốn vào triều làm quan thì chỉ có đường khoa cử mà thôi. Gánh nặng chấn hưng danh tiếng của tộc Giang trông cậy vào em”.
Thế mà mỗi lần nghe tin hắn thi rớt thì vẻ mặt kia…
– Năm xưa thì ép mẹ tôi tuẫn táng, bây giờ lại ép tôi phải chấn hưng danh tiếng của tộc Giang gì chứ? Cớ gì tôi phải chấn hưng danh tiếng của tộc Giang? Tôi chỉ là con trai của một con hát mà thôi, danh tiếng tộc Giang ra sao thì kệ xác nó!
Giang Vi Chi nói liền một hơi rồi cười phá lên.
Thấy dáng vẻ như điên như dại của hắn, Trịnh Phủ doãn toan ra lệnh cho người kéo hắn xuống thì Tạ Dung khẽ nhấc tay ngăn lại – Trong sổ sách của anh có hai đơn hàng giao dịch vào mùa đông năm ngoái. Tuy không thấy ghi “đèn mỹ nhân” nhưng hàng hoá được liệt kê và số tiền phía sau lại không khớp nhau. Chuyện này là sao?
Trịnh Phủ doãn nhíu mày.
– Đó là hai đơn hàng đầu tiên của bọn tôi. Vị khách nọ muốn mua hai cô gái trẻ đẹp cho anh trai hắn, thế là bọn tôi bắt đại hai kỹ nữ ở hẻm Bắc trong phường Bình Khang tới… Cái tên “mỹ nhân nâng đèn” thực ra cũng do vị khách đó gợi ý, chẳng qua là chưa kịp ghi vào sổ mà thôi.
Chuyện đã đến nước này, Giang Vi Chi không đợi ai hỏi mà tự khai tên của hai kỹ nữ và thân phận khách hàng kia ra luôn.
Sau đó lại thẩm vấn đám nô bộc của nhà họ Giang mãi đến chiều mới xem như xong. Trịnh Phủ doãn và Thôi Dập phải lo liệu những việc còn lại: điều tra về hai kỹ nữ bị hại, truy bắt khách mua về quy án và đưa ba cô gái về phường Thường An. Chu Kỳ dặn riêng sai nha đưa mấy cô gái về nhà thì nên nói năng thế nào, hy vọng đường đời sau này của các cô ấy suông sẻ hơn đôi chút.
Ra khỏi phủ Kinh Triệu, Chu Kỳ xoay người leo lên ngựa, gió thổi tung mái tóc và áo choàng của nàng.
Nhìn bầu trời có vẻ hơi u ám, Chu Kỳ híp mắt, hỏi – Theo anh vì sao nhiều nạn nhân sau này lại trở thành ác nhân?
Nàng chỉ than thở một câu vậy thôi, nào ngờ Tạ Thiếu khanh lại trả lời thật.
– Có lẽ vì lúc bị hại không được ai giúp đỡ. Sau đó họ thấy oán hận nên mới trả thù chăng?
Chu Kỳ gật gật đầu.
Thấy nàng vẫn chau mày như trước, Tạ Dung ôn tồn nói – May mà có nhiều nạn nhân được giúp đỡ và cũng có nhiều nạn nhân trở thành người ngăn chặn cái ác.
Chiếc xe của phủ Kinh Triệu tiễn Thường Ngọc Nương và chị em nhà họ Trần về nhà đã lăn bánh ra khỏi cửa phủ nha. A Phương ngồi bên cửa sổ xe vẫy vẫy tay chào Chu Kỳ, trông cô đã khá hơn nhiều. Chu Kỳ nhìn vào thùng xe thấy A Hạnh nhoẻn miệng cười để lộ hai chiếc răng khểnh. Còn Thường Ngọc Nương ngồi ở mạn bên kia, trên người vẫn khoác chiếc áo choàng của Chu Kỳ, tuy trông cô ấy vẫn tiều tuỵ nhưng có lẽ vì được tâm trạng chị em Trần thị truyền cảm nên khoé môi cũng thoáng nét cười.
Chu Kỳ cũng cười, vẫy tay với họ – Bảo trọng.
Tạ Dung cũng mỉm cười nhìn theo.
Dõi theo chiếc xe đi về hướng Nam một chốc, Chu Kỳ đột nhiên giục ngựa đuổi theo, ghé sát vào thành xe nói gì đó rồi phi ngựa trở về.
Tạ Dung nhìn nàng.
– Tôi nói với A Phương là Tiền Tam Lang kia không đáng tin, không xứng với em ấy, bảo em ấy đá hắn đi.
Tạ Dung thoáng ngẩn ra rồi quay đầu sang chỗ khác.
Thấy khoé miệng chàng mỉm cười, Chu Kỳ đắc ý hẳn lên – Khà khà, tôi từng phụ mấy bà thím đánh chồng trên phố nữa cơ. Chắc kiếp trước tôi là cây gậy chuyên đi chia rẽ uyên ương thật rồi.
Trần Tiểu Lục đi đằng sau làu bàu – Sau đó bị mấy bà thím đó đuổi theo mắng cho.
Tạ Dung với La Khải đều bật cười.
Chu Kỳ cũng cười – Cũng có người cám ơn tôi chứ bộ.
– Sáng nay bác Đường kho giò heo, giờ này chắc là được rồi đó.
Tạ Dung nói bằng giọng điệu bâng quơ như đang bàn chuyện “hôm nay hơi lạnh, mai có khi lại ấm hơn một chút”.
Chu Kỳ nào có thèm để ý giọng điệu đó thế nào, cười khì khì nói – Tuyệt lắm, tuyệt lắm.
– Hết chương 44 –
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
