Chương 40: Đèn Mỹ Nhân (8)
Đến giữa giờ Ngọ*, đám sai nha đã đào xới khắp sân vườn lẫn nền nhà của Trương Ngũ nhưng không phát hiện thêm thi thể nào khác nữa.
* Giữa giờ Ngọ tức 12 giờ trưa.
Tạ Dung, Thôi Dập và Chu Kỳ cũng hỏi thăm các hộ gia đình dọc theo con phố chính hướng Nam Bắc ở trong phường và mấy ngõ nhỏ dẫn đến nhà họ Thường và nhà họ Trần một lượt. Có một người họ Miêu nói rằng đã thấy Thường Ngọc Nương đi ngắm đèn một mình trên phố chính. Còn có một người phụ nữ họ Bàng bảo rằng đã thấy một chiếc xe ngựa mui xe đen sì đỗ ở đầu ngõ nhưng không để ý người đánh xe là ai.
Xe ngựa chuyên chở xác chết của phủ Kinh Triệu đã đến, đám người bèn giải nghi phạm Trương Ngũ, đưa hai bộ xương và chiếc tủ đựng đầy áo quần nữ về phủ Kinh Triệu.
Trịnh Phủ doãn mặt mày chù ụ, mới đầu tháng Giêng đã lòi ra hai bộ xương, coi bộ năm nay chẳng suông sẻ rồi. Ông Trịnh cảm thấy oan ức làm sao, vụ án này không biết xảy ra vào nhiệm kỳ của vị Phủ doãn nào, xảy ra từ bao nhiêu năm trước rồi, vậy mà bây giờ lại tính lên trên đầu của ông ta, thật là… ông Trịnh bỗng nhớ tới câu “chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn” Chu Kỳ từng nói, lời lẽ tuy hơi thô lỗ nhưng lại thấu đáo hết sức.
Cái tết Thượng nguyên rắc rối này! Trịnh Phủ doãn nhìn xe chuyên chở xác chết một cái rồi nói với Tạ Dung – Năm nào tết Thượng nguyên cũng xảy ra chuyện không may hết. Ta thực sự muốn dâng sớ lên Thánh nhân xin bỏ cái lệ giải trừ lệnh cấm đi đêm trong ba ngày này quá.
Chu Kỳ và Thôi Dập ở phía sau nháy mắt với nhau, ông Trịnh lại nói vuốt đuôi rồi đó…
Tạ Dung nghiêm túc nói – Hội ngắm đèn vào ba ngày Thượng nguyên là tập tục dân gian lâu đời. Giải trừ lệnh cấm đi đêm là một chính sách nhân đức có từ khi triều ta thành lập. Ông Trịnh làm vậy tuy là lo lắng cho an ninh của kinh thành, an nguy của bá tánh, nhưng e rằng bản tấu ấy khó được Thánh nhân phê chuẩn lắm ạ.
Trịnh Phủ doãn thuận thế thở dài, lắc đầu nói – Thì vậy đấy.
Nhìn Tạ Thiếu khanh lại đeo cái mặt nạ tốt tính và thấu hiểu lòng người, Chu Kỳ thầm cười nhạt trong bụng. Nàng bỗng cảm thấy kỳ quái làm sao: “Bên nào cũng đều là đồng liêu cả, cớ sao Tạ Thiếu khanh luôn nghiêm nghị, lạnh lùng với mình thế nhỉ? Cũng đâu phải kiểu ‘quen lâu chẳng cần giữ lễ’ đâu, mà ngay từ đầu Tạ Thiếu khanh đã như vậy rồi. Chu Kỳ lại nhớ tới ‘lần đầu gặp gỡ’ ở chợ Đông của hai người… Thôi kệ, tướng mạo của Tạ Thiếu khanh thế này, lúc tỏ ra lạnh lùng còn điển trai hơn cả lúc ‘tốt tính và thấu hiểu lòng người’ nữa.
Tạ Dung nói – Không giấu gì ông Trịnh, bấy lâu nay hạ quan cũng suy nghĩ về việc trị an trong dịp tết Thượng nguyên. Tuy không thể bỏ cái lệ giải trừ lệnh cấm đi đêm trong ba ngày này, nhưng chúng ta cũng nên làm gì đó.
– Cấm Quân bảo vệ kinh thành cũng có hạn, khó lòng bao quát hết thảy các phường. Chi bằng chúng ta chiêu mộ dân binh trong các phường đi ạ? Vào các dịp lễ tết, lúc dòng người đông đúc, nhà nhà ùa ra ngoài vui chơi như dịp Thượng Tỵ, Thượng nguyên, Trung Nguyên, Trùng Dương, dân binh có thể tuần tra những nơi dân chúng tụ tập đông đúc trong phường. Như vậy cũng có thể bù đắp khoảng trống của Cấm Quân.
– Hơn nữa, cũng nên chú trọng giáo hoá bá tánh, viết mấy bài vè trị an dễ nhớ, dễ thuộc để dán trong các phường. Trước dịp lễ tết, ra lệnh cho lính gác phường gõ trống truyền bá rộng rãi, nhắc nhở những ai chủ quan, cảnh cáo những kẻ định làm ác.
Không ngờ đằng sau cái vẻ qua loa lấy lệ của Tạ Thiếu khanh lại có biện pháp thực dụng như vậy, Chu Kỳ hơi kinh ngạc, rồi cảm thấy đây mới đúng là Tạ Thiếu khanh.
Trịnh Phủ doãn từ tốn gật đầu, cảm thấy ý tưởng này rất hay. Y lời nói của Tạ Thiếu khanh mà làm thì đỡ tốn công lại rất thực dụng. Quan trọng là vừa cho Thánh nhân thấy việc làm của phủ Kinh Triệu, lại vừa chặn miệng bọn đại thần trong triều, miễn cho họ cứ nói ông ta lúc nào cũng ru rú thu mình.
Trịnh Phủ doãn kéo tay Tạ Dung, mặt mày hiền từ, đang định nói gì thì nghe Thôi Dập ở phía sau nói – Quả là ý tưởng lớn gặp nhau. Trước đây A Chu cũng đề nghị dán bố cáo cảnh tỉnh ở các phường, Dập thấy ý ấy hay lắm ạ.
Lời định nói ra bị nghẹn lại trong cổ họng, Trịnh Phủ doãn ho húng hắng, ngoảnh lại nhìn Thôi Dập rồi nhìn sang Chu Kỳ. Tạ Dung cũng nhìn về phía Chu Kỳ.
Trịnh Phủ doãn dù sao cũng phải nể mặt Thôi Dập bèn khen một câu – Ồ? Ta chỉ biết Chu Tướng quân thông minh, giỏi võ thôi, không ngờ về mặt giáo hoá bá tánh cũng có cách nhìn hay như vậy đấy.
Chu Kỳ cười híp mắt, chắp tay cười nói – Hạ quan chỉ là tình cờ mới nghĩ ra được mà thôi, là tình cờ thôi ạ.
Nhìn bộ dáng bên ngoài khiêm tốn, bên trong đắc ý của nàng, Tạ Dung đột nhiên nhớ đến Phỉ Phỉ lúc ăn vụng thịt xong cũng tỏ vẻ điềm nhiên, híp mắt, vểnh đuôi và ve vẩy chóp đuôi như thể chẳng ai biết gì như vậy. Chàng nhìn cây roi ngựa được chạm vàng khắc bạc, có đốt xương và lông tơ sau lưng nàng. Quả nhiên nó cũng đang khẽ khàng đung đưa.
Trịnh Phủ doãn vốn chẳng thích Chu Kỳ lắm, không ưa dáng vẻ của nàng nên chỉ gật gật đầu coi như tán thưởng, rồi quay sang chân thành khen Tạ Dung là “tài hoa sánh ngang Tử Phòng*”.
* Nguyên văn “子房” (Tử Phòng) Là Trương Lương (chữ Hán: 張良; trước 250 TCN – 186 TCN),là danh thần khai quốc nổi tiếng thời nhà Hán. Ông thường được xếp vào hàng ngũ 10 đại quân sư kiệt xuất nhất lịch sử phong kiến Trung Quốc, đứng thứ 4 sau Khương Tử Nha, Tôn Vũ, Tôn Tẫn và đứng trên các bậc quân sư kiệt xuất khác như Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn.
Chu Kỳ bèn liếc mắt khen Thôi Dập, thầm cảm ơn người anh em này chỉ nói nửa câu đầu chứ không nói tuột ra hết những “lời cảnh tỉnh” đã soạn sẵn hôm trước của mình. Có thể tưởng tượng ra được sắc mặt của Trịnh Phủ doãn sẽ thế nào khi nghe được mấy câu “bỏ nhà theo trai chỉ là kế tạm bợ; cưới hỏi đàng hoàng mới là kế lâu dài”, “bỏ nhà theo trai là vui sướng nhất thời, bị trai ruồng bỏ thì nước mắt bời bời”, “kẻ dẫn cô đi trốn tuyệt đối không phải là tình yêu đích thực”. Bình thường nàng chẳng thèm quan tâm sắc mặt của ông Trịnh thế nào đâu, nhưng hôm nay còn phải ăn chực ở phủ Kinh Triệu nữa mà.
Thôi Dập tuy thường xuyên nói chuyện không suy nghĩ nhưng ở trước mặt người ngoài anh lại hết sức bảo vệ đồng bọn của mình. Sao mà kể cho ông Trịnh nghe mấy lời đùa giỡn giữa anh em với nhau được? Ông Trịnh này chuyện gì cũng cho là thật, chả biết hài hước là gì đâu.
Sau khi bàn giao nghi phạm và vật chứng xong xuôi, mấy người mới bắt đầu dùng bữa trưa muộn
Hôm nay Chu Kỳ đã ăn được bữa cơm do bếp công của phủ Kinh Triệu nấu. Không biết là bếp công của phủ Kinh Triệu nấu ngon hay là được hưởng xái của Tạ Dung với Thôi Dập, trên bàn không phải là một nồi hầm thập cẩm mỗi một vị mà có thịt có cá, còn có món chè lê ngọt nếp than nữa, mùa nào thức nấy, chẳng kém đồ ăn của lầu Phong Ngư là bao.
Có Tạ Dung nên Trịnh Phủ doãn cũng dùng cơm với mấy người. Trong lúc ăn cơm, mọi người bắt đầu bàn luận về tình tiết vụ án.
Trịnh Phủ doãn cũng đã xem các loại vật chứng, biết sơ sơ những phân tích trước đó của mọi người – Ta đã đọc bức thư kia rồi. Hành văn trôi chảy, chữ viết rất đẹp, có lẽ đúng là do một sĩ tử thi rớt nào đó viết. Nếu sĩ tử này là kẻ dụ dỗ, bắt cóc thật… một kẻ đọc bao nhiêu sách thánh hiền lại phạm pháp, làm việc ác như thế, quả là đáng chém.
Trịnh Phủ doãn nhìn về phía Tạ Dung – Ta thấy nét chữ này khác với phong cách thời nay, có hơi hướng của lối chữ trên văn bia thời Ngụy. Tử Chính thấy sao?
Dù sao cũng là người đã thi đỗ tiến sĩ, tất nhiên Trịnh Phủ doãn rất tinh tường mấy chuyện bút mực này. Tạ Dung gật đầu – Bố cục thoáng đãng, hàm súc thanh nhã, hình như là phỏng nét chữ của Tống tiên sinh thời Bắc Ngụy.
Trịnh Phủ doãn chỉ thấy chữ viết có hơi hướng của lối chữ trên văn bia thời Ngụy chứ chưa nhìn ra phong cách giống với “Tống tiên sinh”. Ông ta lập tức sai người đến phòng vật chứng lấy bức thư kia tới.
– Chúng ta cùng nhau nghiền ngẫm thử xem.
Thôi Dập chưa bao giờ giấu dốt, hỏi – Vị Tống tiên sinh này là ai vậy?
Hiếm khi thấy vị cấp dưới này của mình hỏi về chuyện học vấn, Trịnh Phủ doãn bỗng thấy vui mừng, vuốt râu nói – Văn bia thời Ngụy chia thành bốn loại. Đó là “Tạo tượng đề ký”, “Bi khắc”, “Ma nhai khắc thạch” và “Mộ chí”. Phần lớn người viết theo lối “Mộ chí” không để lại tên tuổi. “Lưu Hồng mộ chí”, “Vương Khiển mộ chí”, “Trương Kiều mộ chí” đều có bút pháp tương đồng. Có một người của triều trước đã khảo chứng và nói rằng người viết những Mộ chí này mang họ Tống, là hậu duệ của Tống Quốc công.
Nghe Trịnh Phủ doãn giải thích một câu đã kéo tới tận thời Xuân Thu Chiến quốc, kẻ cứ đi học là ngủ gật như Thôi Dập nghe mà ngơ ngác, bèn nhìn sang Chu Kỳ, kẻ cứ đi học là ngủ gật tới ch** n**c dãi y như mình.
Tuy không am hiểu điển tích, điển cố lắm nhưng Chu Kỳ lại là người tinh đời. Nhai hết đậu tằm rang trong miệng xong, nàng nhỏ giọng giải thích với Thôi Dập – Chẳng qua là tỏ vẻ cho có lai lịch thôi. Lúc tự mình sửa soạn lại gia phả, người thời nay thường thích nhận vơ tổ tiên. Lúc khảo chứng cho người khác, đương nhiên cũng sẽ không nặng bên này nhẹ bên kia, thể nào cũng gán cho người ta một vị tổ tiên có thân phận cao mới được.
Một người bình thường vô danh có phải mang họ Tống hay không còn chưa rõ nữa là chuyện tổ tiên cả ngàn năm trước của hắn…
Thôi Dập bật cười, quả là A Chu, lúc nào cũng có thể nhìn thấu những thứ hư ảo phù phiếm để hiểu rõ chân tướng.
Tuy giọng Chu Kỳ không to lắm nhưng ở chung một phòng, sao Trịnh Phủ doãn không nghe thấy được. Ông ta hơi mím môi nhưng vì kiêng dè thân phận của nàng nên cuối cùng chẳng nói gì cả.
Tạ Dung khẽ nhếch môi cười, thông minh thì có thừa đấy, chỉ là không thích học hành, miệng lại quá “hỗn”.
Sai nha mang bức thư vật chứng tới, Trịnh Phủ doãn đọc một lượt rồi chuyển qua cho Tạ Dung, sau đó là Thôi Dập và Chu Kỳ.
Chu Kỳ thực sự không rành mấy chuyện bút mực văn chương này. Nàng nhìn xa nhìn gần một phen, nhưng nhìn thế nào cũng chẳng tìm ra được manh mối gì cả. Có điều mùi mực này… Chu Kỳ khẽ nhíu mày.
Tạ Dung nói – Người thời nay chú trọng tờ thiếp, chẳng mấy người học theo bút pháp trên văn bia thời Nguỵ. Hồi tiên đế tại vị, có vị hoà thượng Hiển Minh viết “Trữ hoài thiếp”, nét chữ bay bổng, phóng khoáng, mang phong cách của “Thạch môn minh”, dấy lên cơn sốt chữ viết khắc trên đá một thời. Thế nhưng, người nghiên cứu “Mộ chí” lại rất hiếm. Trong số văn bia theo kiểu “Mộ chí”, văn bia của Hoàng gia là được tôn sùng hơn cả. Còn những văn bia do Tống tiên sinh khắc đều là của dòng họ bình dân.
Ngay cả Chu Kỳ và Thôi Dập nghe đến đây cũng hiểu phong cách của vị Tống tiên sinh kia thuộc loại “ngóc ngách”, người nghiên cứu cực ít, đoán chừng chả có mấy ai biết đến. Bảo sao vừa rồi Trịnh Phủ doãn lại vuốt râu đắc ý đến thế.
– Hết chương 40 –
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
