Chương 19: Lời Thú Nhận Nặng Như Đất Ướt
Gần hết buổi sáng, sau khi dỡ xong đợt gạch đầu tiên của vòm lò số một, Quốc Phương cùng Quốc Huy xếp các khối gạch chín vào lán cho ngay ngắn. Đến xế chiều, công việc dỡ gạch tạm vơi. Hoa và Thảo Nguyên lui vào gian bếp sau nhà lớn chuẩn bị bữa cơm tối. Tiếng lách cách xoong chảo cùng tiếng con bé thưa gửi ríu rít vọng ra, khiến gian nhà quạnh quẽ suốt năm năm bỗng đượm hơi ấm khói bếp.
Trên sân xưởng chỉ còn hai cha con. Quốc Phương phủi lớp bụi đỏ bám trên vạt áo, đưa mắt nhìn về phía chiếc bàn đá kê dưới gốc bàng già sát mé sông Vàm Cỏ Đông.
“Huy. Ra đây ngồi với tao một lát.”
Quốc Huy đang quét dọn quanh chân lò. Nghe tiếng cha gọi, anh khựng lại một nhịp rồi buông chổi, bước theo sau.
Chiếc bàn đá tròn xám xịt đặt dưới tán bàng xòe rộng. Gió chiều từ sông thổi thốc lên mát rượi. Dưới bến, con nước ròng đang rút, để lộ bãi bùn nâu sẫm nham nhở dấu chân chim. Mấy đợt sóng từ ghe máy ngoài luồng dội vào bờ, vỗ ì oạp vào mạn chiếc thuyền gỗ mục nát cột ghì nơi gốc bần nhiều năm không ai chèo tới.
Quốc Phương kéo chiếc đôn xi măng sứt góc ngồi xuống. Ông với tay nhấc ấm tích trong giỏ vải bông cũ, rót nước vào hai chiếc tách sành da lươn. Dòng nước trà mạn màu nâu sẫm chảy róc rách, bốc lên làn khói ấm và hương chát đượm quen thuộc.
Ông đẩy một tách về phía con trai “Uống nước đi.”
“Dạ, ba.” Quốc Huy ngồi xuống chiếc đôn đối diện, đón lấy tách sành nhưng chưa uống, đưa mắt nhìn ra mặt sông đỏ ngầu phù sa.
Quốc Phương không đụng vào tách nước của mình. Ông đan chặt mười ngón tay, đặt trên mặt bàn đá lạnh ngắt. Các khớp ngón tay to bè của người thợ cả quăng quật với đất và lửa hơi run lên một nhịp rất khẽ.
Năm năm qua, mỗi lần ngồi đối diện với Quốc Huy, giữa hai cha con luôn là bức tường dựng bằng sự câm lặng và những tờ giấy báo nợ ngân hàng. Thằng Huy trách cha cố chấp. Ông giận con toan tính, muốn bán mảnh đất bốn công. Nhưng sâu thẳm dưới những cơn gắt gỏng là bí mật đè nghẹt cuống họng mà ông chưa từng dám nói ra.
Mẻ gạch hai mươi lăm ngàn viên đã chín thấu đỏ au. Tiếng gõ gạch đanh chắc của con Nguyên ban sáng như lời nhắc nhở rằng món nợ nghề nghiệp đã trả xong, giờ là lúc ông phải trả món nợ máu mủ với những người còn sống.
Quốc Phương hít một hơi sâu, cất giọng khàn đặc “Đêm đó... tao giữ thằng Lâm ở lại.”
Bàn tay Quốc Huy đang bưng tách trà khẽ dừng lại giữa không trung. Mặt nước trà trong lòng tách hơi chao nhẹ.
Tiếng sóng vỗ ì oạp dưới mé thuyền cũ như dội thẳng vào màng nhĩ ông Phương, buốt nhói. Không gian quanh bàn đá đặc lại như một khối đất sét chưa nhào. Gom hết can đảm dồn nén suốt năm năm, Quốc Phương nói tiếp, từng lời nặng trịch “Lúc gần nửa đêm, nó chạy xuống lán tìm tao. Mặt nó cắt không còn hột máu. Nó báo con Nguyên lên cơn sốt co giật giữa đêm mưa, một mình con Hoa xoay xở không xuể, nó muốn lấy xe máy chở con nhỏ ra trạm xá huyện.”
Hai bàn tay ông siết chặt lại đến mức các khớp ngón trắng bệch.
“Tao gạt đi. Tao la nó. Tao nói mẻ gạch đang tới cữ ăn nhiệt, trấu đang bén ngọn, bỏ đi một bước là sụp lửa hư hết cả lò hai mươi lăm ngàn viên. Tao ép nó phải ở lại trực ca ba... Tao nghĩ con nít sốt rồi cũng qua. Tao không ngờ... vòm lò nứt sụp lúc hai giờ sáng. Tao giết thằng Lâm. Tao có tội với nó, có tội với má con nó, có tội với tụi mày.”
Nói xong, Quốc Phương cảm thấy toàn thân rã rời. Ông cúi gập người xuống, hai vai khòm run run, đầu cúi sát mặt bàn đá.Ông chờ đợi cơn thịnh nộ bùng lên từ đứa con trai cả. Năm năm qua, Huy gánh món nợ gần tám trăm triệu đồng trên vai, chịu đựng tính khí gắt gỏng của ông. Huy hoàn toàn có quyền oán trách người cha tàn nhẫn đã vì một mẻ gạch mà cướp đi mạng sống của đứa em ruột.
Nhưng không có tiếng đập bàn nào vang lên.
Chiếc tách sành chạm khẽ xuống mặt đá phát ra tiếng cạch nhỏ.
Quốc Huy thở ra một hơi thật dài.
“Con biết chuyện đó từ sáng hôm sau rồi ba.”
Quốc Phương bàng hoàng ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào gương mặt đứa con trai ba mươi tám tuổi.
Huy ngồi đó, giọng trầm xuống “Sáng bữa tai nạn, lúc công an với bà con xóm lò phụ bới gạch đưa thằng Lâm ra, con thấy chiếc xe máy của nó còn dựng ngay mé lán, chìa khóa vẫn cắm nguyên trong ổ, trên ghiđông còn móc cái áo mưa rách mà nó định mặc chạy về. Con hỏi chú Tình, chú Tình nói nửa đêm thấy hai cha con to tiếng trước cửa lò. Con hiểu tính ba. Ba coi lò gạch như mạng sống, ba đâu có ngờ tường lò mục mà nứt sụp... Ba không cố ý hại em.”
“Mày... mày biết hết rồi sao?” Quốc Phương hỏi, giọng thều thào.
“Dạ, con biết,” Huy nhìn cha, ánh mắt không hề oán hờn. “Con không nói vì con biết ba đã khổ sở hơn ai hết. Năm năm nay ba giam mình bên cái lò, ngày nào cũng nhìn vào ngọn lửa mà dằn vặt, con thấy hết. Ba tưởng con muốn bán đất là vì ghét ba sao? Con sợ ba cứ ngồi đây rồi chết mòn theo cái bóng của thằng Lâm.”
Hai cha con ngồi lặng bên nhau.
Gió sông lại thổi qua tán bàng xào xạc. Dưới sông, con nước ròng rút cạn đáy, để lộ dải phù sa lấp lánh dưới ráng chiều. Bức tường vô hình ngăn cách giữa hai người suốt nửa thập kỷ dường như đã tan biến theo dòng nước đỏ cuộn trôi.
Từ gian bếp sau nhà, tiếng Thảo Nguyên giòn tan vọng ra “Má ơi, cơm chín rồi nè!”
Quốc Huy khẽ mỉm cười. Anh chầm chậm đứng dậy, vươn bàn tay đặt lên bờ vai khòm của cha, vỗ nhẹ hai cái.
Anh nói khẽ “Tối nay cả nhà mình ngồi lại tính chuyện đất nghe ba.”
Huy quay lưng bước từng bước về phía bậc thềm nhà lớn, nơi ánh đèn vàng vừa bật sáng soi rõ lối đi.
Bên bàn đá dưới bóng cây bàng, Quốc Phương ngồi lại một mình giữa gió chiều lồng lộng. Ông nhìn xuống đôi bàn tay chai sần đặt trên đùi. Một giọt nước ấm nóng bất giác ứa ra nơi khóe mắt đầy nếp nhăn, rơi khẽ xuống mu bàn tay sạm đen vì khói lò, loang ra trên vệt đất sét nung đỏ thẫm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
