Chương 11: Câu Hỏi Lúc Rạng Sáng

Thảo Nguyên mở mắt khi mùi khói trấu nồng đượm quen thuộc len vào cánh mũi.

Cảm giác ấm sực bao bọc lấy vai. Cô bé nhận ra tấm bạt cũ sờn mép phủ kín người, được chèn kỹ dưới bắp chân để chắn gió sông lùa qua vách. Dưới nền đất lạnh, thanh sắt cời tro nằm ngay ngắn cạnh vạt áo.

Trời đã rạng sáng. Gió từ nhánh Vàm Cỏ Đông thổi vào lán phơi từng cơn mát rượi, xua bớt hơi nóng hầm hập hắt ra từ vách lò số một.

Cách vài bước chân, ông Phương vẫn ngồi bất động bên máng nạp. Lưng ông hơi khòm, chiếc áo bà ba màu xám đẫm mồ hôi đã se lại trong gió sớm, để lộ vệt muối trắng đục. Một bàn tay buông trên gối, tay kia đặt hờ trên cán que sắt cời tro đặt ngang máng, mắt nhìn vào khoảng không trước mặt.

Thảo Nguyên chống tay ngồi dậy. Cô cẩn thận gỡ tấm bạt ra, đứng lên rồi gấp lại ngay ngắn thành từng nếp vuông vức, đặt lên mặt chiếc bàn gỗ cạnh cột lán.

Cô bước nhẹ về phía vách lò, chân không phát ra tiếng động trên nền tro mịn. Từ lỗ quan sát nhỏ khoét trên vách bùn, luồng nhiệt phả thẳng vào mặt khiến cô nheo mắt.

Sắc lửa bên trong đã hoàn toàn thay đổi.

Không còn là màu đỏ tươi lắt lay lúc mới nhóm hay sắc cam đỏ hừng hực nửa đêm. Bên trong vòm gạch, ngọn lửa đã chuyển sang màu vàng cam rực rỡ. Ánh lửa vàng đượm, sáng như mật ong trên than hồng, phủ đều từng khe hẹp giữa những kiêu gạch. Hai mươi lăm ngàn viên gạch mộc dường như đang tự phát sáng từ ruột đất, không chút khói đen.

Thảo Nguyên đứng lặng, chăm chú nhìn vào lỗ tròn nhỏ.

Nét chữ mực xanh trong cuốn sổ dưới gầm giường hiện rõ trong tâm trí cô: “Mẻ gạch đẹp nhất là khi lửa sang màu vàng cam. Sắc lửa đó vừa đằm vừa đượm, giống ráng chiều trên sông Vàm Cỏ, nhìn một lần nhớ cả đời. Ngày tía dạy tao nhìn màu lửa đó, tao mới biết tía thương tao dữ lắm.”

Ba cô từng đứng đúng chỗ này. Ba cô từng nhìn ngọn lửa này để hiểu lòng người cha ít nói của mình.

Cô bé ngoảnh sang nhìn ông nội.

Dưới ánh sớm rọi qua mái lá, bóng lưng ông Phương in thẫm lên nền đất. Tóc ông lốm đốm bạc, vương bụi trấu xám. Bàn tay to bè, dày cộm vết chai sần và vệt bùn sét ăn sâu kẽ móng, đang nắm hờ chiếc que sắt cời tro đặt ngang máng.

Năm năm qua, bóng lưng ấy luôn quay về phía cô.

Mỗi bữa cơm, ông ngồi đầu bàn, lặng lẽ như khối đá. Ông ăn nhanh, mắt nhìn vào chén cơm, chưa từng hỏi cô việc học, chưa bao giờ nhìn thẳng vào mắt cô quá vài giây. Cả nhà nín thở theo sự im lặng ấy. Má cô đi về như chiếc bóng, chú Huy cắm cúi với các khoản nợ, còn tên của ba cô biến thành vùng cấm kỵ không ai dám nhắc tới.

Thảo Nguyên nhớ đêm mưa tháng Tám năm 2019. Năm đó cô mới bảy tuổi, người sốt hầm hập rồi lên cơn co giật. Trong cơn mê man, cô nghe tiếng má khóc nấc, tiếng đập cửa dồn dập và mưa quất xối xả trên mái tôn. Sáng hôm sau tỉnh lại ở trạm xá, cô không thấy ba đâu nữa. Người ta xầm xì về vòm lò sụp lúc hai giờ sáng, nói ba cô kẹt lại dưới đống gạch vỡ vì giữ mẻ nung.

Nhưng những lời xầm xì không lấp được khoảng trống trong lòng cô. Từng dòng nhật ký của ba viết về nghề, về ông nội cứ trở đi trở lại. Đêm đó ba biết con gái sốt nặng, má một mình không xoay xở nổi. Ba thương cô như vậy, cớ sao lại ở lại lò cho đến lúc chết?

Có những điều nếu không hỏi thẳng, cả đời này cô sẽ mãi là đứa trẻ đứng ngoài rìa nỗi đau của người lớn.Thảo Nguyên hít một hơi sâu, luồng khí đượm mùi trấu cháy và bùn sông tràn ngập lồng ngực. Cô bước tới bên cạnh máng nạp, dừng lại cách ông nội chừng nửa bước chân.

Ông Phương không ngẩng đầu lên. Bàn tay ông khẽ cựa quậy, mũi que sắt cời nhẹ vài vụn trấu đen rơi xuống rãnh thông khí phía dưới.

Cô bé nhìn thẳng vào sườn mặt gầy guộc hằn sâu những nếp nhăn của ông, hỏi “Hôm đó ông có giữ ba con ở lại không?”

Thanh que sắt trên tay ông Phương khựng lại giữa không trung.

Gió sông đang thổi ào qua lán bỗng như lặng ngắt. Tiếng trấu cháy lách tách trong vòm lò dường như đặc quánh lại sau vách bùn dày. Không khí xung quanh lạnh toát dù hơi nóng vẫn không ngừng phả ra.

Thảo Nguyên đứng yên, hai tay buông thõng bên hông. Cô không chớp mắt, không nói thêm lời nào. Câu hỏi khi nãy vang lên phẳng lặng, không hờn giận hay trách móc, chỉ đơn thuần muốn biết sự thật bị chôn vùi suốt năm năm.

Bàn tay cầm que sắt của ông Phương run nhẹ. Những đường gân nổi cộm trên mu bàn tay sạm nắng giật từng hồi. Quai hàm ông bạnh ra, khóe miệng mím chặt thành một đường thẳng đanh.

Ông dán mắt vào đống trấu dưới đáy máng, không nhìn cô, không nói một lời phân bua. Sự im lặng kéo dài, nặng trịch quấn chặt lấy hai ông cháu.

Một tiếng thở hắt ra rất khẽ qua kẽ răng ông Phương, nghe khô khốc như tiếng lá tràm gãy dưới chân.

Bàn tay ông từ từ nới lỏng. Chiếc que sắt trượt khỏi ngón tay, rơi nghiêng trên đống trấu mịn mà không phát ra một tiếng động nào.

Ông Phương chống hai bàn tay thô ráp lên đầu gối, chầm chậm đứng dậy. Đốt sống lưng ông kêu lên một tiếng lách cách khô khan. Ông không nhìn Thảo Nguyên, cũng không ngoái lại nhìn màu lửa vàng cam đang rực sáng qua lỗ quan sát trên vách lò.

Ông xoay người, bước đi.

Bước chân ông nện trên nền đất mấp mô, kéo lê từng nhịp chậm chạp ra khỏi lán, băng qua khoảnh sân đầy bụi gạch rồi đi thẳng về phía căn nhà lớn. Tấm lưng hơi còng trơ trọi dưới ánh sớm. Cánh cửa gỗ khép hờ sau lưng ông, để lại một khoảng tối sâu hun hút.

Thảo Nguyên đứng nhìn theo bóng lưng ấy cho đến khi cánh cửa khép hẳn lại.

Cô bé không đuổi theo, cũng không gọi với lại. Cô chậm rãi bước tới mép máng trấu, kéo chiếc ghế đòn gỗ thấp lại gần rồi ngồi xuống đúng vị trí ông nội vừa rời đi.

Hơi nóng từ lỗ quan sát vẫn phả ra hầm hập, nhuộm vàng khuôn mặt và vầng trán dồ của cô bé. Bên trong buồng đốt, ngọn lửa vàng cam bùng lên rực rỡ như ráng chiều trên sông. Thảo Nguyên đặt hai bàn tay lem tro trấu lên gối, nhìn đăm đắm vào luồng sáng ấm sực ấy. Lòng cô trĩu nặng như mang thêm một gánh bùn dính chặt, nhưng ánh mắt phẳng lặng lạ thường.

Cô không hề hối hận vì đã hỏi câu hỏi đó.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.