Chương 8: Vết Rạn Khăn Tay
Gió đông rít từng hồi qua khe liếp cửa Thượng Thực Cục, mang theo hơi lạnh buốt giá thấu xương. Bóng dáng Tạ Hoài Chu đã khuất sau lối mương ngầm ẩm ướt, để lại một mình Ân Thục Cẩm giữa trù phòng rộng lớn và tịch mịch.
Bà lão bảy mươi chín tuổi khẽ thở dài, bước chậm rãi về phía bếp than. Khớp gối nhức buốt vì gió lạnh đầu đông, nhưng nỗi bất an trong lòng bà còn buốt giá hơn ngàn lần sương tuyết ngoài kia. Bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc, cầm que cời gạt nhẹ lớp tàn tro xám, châm thêm mấy thanh than mộc không khói để giữ lấy hơi ấm lay lắt.
Đôi mắt đùng đục của bà nhìn đăm đăm vào ngọn lửa than đỏ rực. Theo thói quen, bàn tay gầy guộc run rẩy đưa lên cổ tay trái, nhưng chỉ chạm phải khoảng trống lạnh ngắt. Chuỗi hạt bồ đề đã trao cho Diệp Đào phòng thân, như gửi gắm một nửa tính mạng của bà theo bước chân đứa trẻ nhỏ dại giữa đêm đen đầy rẫy gươm giáo cấm quân.
Thời gian trôi qua nặng nề như từng giọt nước trong đồng hồ nước của Nội Thị Tỉnh. Đã hơn hai tuần hương. Tiếng ủng sắt của lính tuần tra nện cồm cộp ngoài hành lang thỉnh thoảng vọng vào khiến tim bà thắt lại. Thượng Thực Cục lúc này tựa như ốc đảo cô độc giữa cạm bẫy, chỉ cần một sơ suất nhỏ, tính mạng bao con người và cơ hội rửa oan cho mẫu tử Thuận phi sẽ tan thành mây khói.
“Bồ Tát phù hộ cho con bé bình an...”
Ân Thục Cẩm lẩm bẩm cầu nguyện, hai bàn tay chai sần đan chặt vào nhau. Đột nhiên, từ phía cửa ngách nhỏ chuyên dùng để chuyển tro than ra ngoài vang lên tiếng cào khẽ khàng, tựa như móng vuốt của một con mèo hoang cào vào then gỗ.
Bà giật mình đứng dậy. Dù tuổi cao, bước chân bà lúc này lại nhanh nhẹn lạ thường. Ân Thục Cẩm rón rén tới cạnh cửa, nép sau tấm bình phong gỗ lắng tai nghe. Ngoài tiếng gió gào thét chỉ có tiếng th* d*c đứt quãng quen thuộc.
“Sư phụ... là con...”
Tiếng thì thầm yếu ớt truyền qua khe cửa. Ân Thục Cẩm vội vàng rút chốt then cài bằng gỗ, hé mở cánh cửa vừa đủ một người lách qua.
Một luồng gió tuyết thốc vào trù phòng cùng bóng người ngã nhào vào lòng bà. Ân Thục Cẩm nhanh tay đỡ lấy, lập tức khép chặt cửa lại và cài then cẩn mật.
Dưới ánh đèn dầu lay lắt, cảnh tượng trước mắt khiến trái tim bà thắt lại vì đau xót. Diệp Đào quỳ sụp dưới sàn, toàn thân run rẩy. Bộ y phục vải thô rách bươm, ống tay áo và đầu gối toạc từng mảng lớn, dính đầy bùn than và tuyết bẩn. Đáng sợ nhất là đôi bàn tay của con bé: những ngón tay vốn chỉ quen nhào bột, xắt rau nay chằng chịt vết cào xước sâu hoắm, máu ứa ra hòa lẫn bụi đen, lạnh ngắt và cứng đờ. Thế nhưng, giữa hai bàn tay đẫm máu ấy, con bé vẫn ôm chặt vào ngực chiếc khăn tay vải thô bọc kín một vật rắn đanh.
“Sư phụ... con mang về được rồi...” Diệp Đào run rẩy chìa chiếc khăn tay ra, hai hàm răng va vào nhau lập cập, đôi mắt ứa lệ nóng.
“Đào nhi, con khổ quá rồi!” Ân Thục Cẩm nghẹn ngào đỡ đệ tử ngồi lại gần bếp than. Bà đón lấy bọc khăn tay đặt lên bàn gỗ mộc, rồi nhanh chóng múc một gáo nước ấm từ chiếc nồi đồng đang sôi lăn tăn trên bếp.
Bà lấy khăn vải sạch lau đi lớp than bùn trên mặt và khóe mắt con bé, rồi nhẹ nhàng nâng đôi bàn tay rướm máu lên. Ân Thục Cẩm lấy từ ngăn kéo tủ gỗ một hũ cao mỡ trăn ngâm hoàng liên, tỉ mỉ thoa đều lên từng vết thương rách da thịt, rồi dùng dải vải xô mềm băng bó cẩn thận cho đệ tử.
Uống xong ngụm nước gừng ấm do sư phụ đưa cho, Diệp Đào mới dần lấy lại hơi thở. Con bé ngước nhìn bà, giọng nói vẫn còn run rẩy “Sư phụ, vừa bước ra khỏi rãnh thoát tro than, con suýt đâm sầm vào đuốc cấm quân. Con phải nằm bẹp dưới rãnh than ngập nước đá buốt tận tủy sống, nín thở chờ chúng đi qua. May nhờ có chiếc lệnh bài của Tạ ngự y giấu trong ngực áo, con mới giữ được bình tĩnh...”
Diệp Đào nuốt nước bọt, kể tiếp trong nỗi hãi hùng:“Bãi phế liệu phía sau Cung Chế Cục nằm lọt thỏm sau bức tường đổ, lối vào bị lấp bằng bụi gai mắt mèo rậm rạp. Con phải cắn răng trườn bò qua khe tường hẹp, gai nhọn cào rách hết da thịt. Đêm tối như mực, tuyết lại phủ kín đống sành sứ vỡ, con phải dùng tay không mò mẫm từng mảnh nhọn trong đống phế phẩm để tìm cho đúng màu men ngọc bích hoa mai...”
Nghe đứa trẻ mười sáu tuổi kể lại nỗi gian nan, sống mũi Ân Thục Cẩm cay xè. Bà vỗ nhẹ lên vai đệ tử “Con đã làm rất tốt. Trời cao có mắt, ân tình này Thượng Thực Cục và Thuận phi nương nương đời đời không quên.”
Ân Thục Cẩm cẩn thận gỡ từng nút thắt của chiếc khăn tay đẫm bụi than. Bên trong là năm sáu mảnh sứ vỡ sắc nhọn. Đó là mảnh vỡ của chiếc đĩa nung hỏng: lớp men lục biếc phủ trên bề mặt bóng mờ, mép vỡ để lộ cốt đất xám xịt, xốp ráp. Nhờ kinh nghiệm bảy mươi năm trong trù phòng, bà nhận ra ngay lớp men này chưa đạt tới độ chín của lửa lò cao nhiệt, thiếu hẳn vẻ trong trẻo của đồ sứ ngự dụng, rõ ràng là dấu vết của mẻ gốm bị rút lửa sớm, cố tình nung thiếu nhiệt.
“Đào nhi, mang cho ta hũ giấm thanh ủ ba năm ở góc chạn.” Ân Thục Cẩm trầm giọng dặn dò.
Diệp Đào vội vã khập khiễng bước tới chạn bếp, mang lại một hũ sành nhỏ. Giấm thanh ủ lâu năm sóng sánh màu hổ phách, khi mở nắp liền tỏa ra vị chua nồng gắt gao.
Ân Thục Cẩm nhặt mảnh sứ lớn nhất đặt vào chiếc đĩa đồng trũng lòng. Bà múc một muỗng giấm thanh nhỏ, từ từ tưới đều lên bề mặt men ngọc bích. Vị chua đậm đặc men theo các đường vân nứt rạn li ti bao phủ trọn vẹn lớp men gốm.
Sau đó, bà rút từ tay áo ra chiếc muỗng bạc gia truyền chạm khắc hình hoa sen. Bàn tay già nua nhưng vững chãi dùng mép muỗng bạc nhẹ nhàng cạo miết lên bề mặt men đang ngâm trong giấm thanh.
Chỉ sau mấy hơi thở, một cảnh tượng rùng mình liền diễn ra ngay trước mắt hai thầy trò.
Dưới sự kích phát của chất chua từ giấm thanh, lớp men ngọc bích vốn trơn láng bỗng chốc sủi lên những bọt khí nhỏ li ti màu xám nhạt! Từng mảng men mỏng manh bị vị chua bào mòn, bong tróc như vảy cá mục, hòa tan vào dòng giấm chua tạo thành một thứ nước đục ngầu, nhờn nhợt.
Khi Ân Thục Cẩm nhấc chiếc muỗng bạc lên, mép muỗng chạm vào dòng nước chua lập tức chuyển sang màu xám đen xỉn màu than củi. Cùng lúc đó, một làn khói mỏng bốc lên từ lòng đĩa đồng, phả vào không khí mùi lưu huỳnh nồng nặc khét lẹt, tanh tưởi đến nghẹt thở.
“Mùi này...” Diệp Đào kinh hãi bịt mũi, mắt mở to kinh ngạc. “Đúng là mùi khét trên vệt máu đen của Nhị hoàng tử hôm đại thọ!”
“Không sai.” Đôi mắt Ân Thục Cẩm đanh lại, lồng ngực già nua dâng lên nỗi phẫn nộ. “Chất chua của thanh mai hay giấm thanh đều có công năng bóc tách khoáng vật nung dở. Kẻ thủ ác đã trộn bột thạch tín và lưu huỳnh vào lớp men rồi nung thiếu nhiệt. Bánh nóng ngấm nước thanh mai chua tiếp xúc với đáy đĩa sẽ rút trọn chất độc này vào ruột bánh, biến món ăn thành chén thuốc độc đoạt mạng!”
Bà dùng mảnh vải sạch gạt bỏ lớp nước giấm đục ngầu, lật ngược mảnh sứ lớn nhất lại để soi dưới ánh đèn dầu. Khi lau sạch lớp muội than bám ở phần đế đĩa, một vết rạn nứt sâu hoắm hiện ra, để lộ nửa phần con dấu triện khắc chìm của thợ lò ngự dụng còn sót lại sau ngọn lửa non “Lò số bảy Lưu Đại Thành”.
Nhìn con dấu son đỏ ẩn hiện dưới vết nứt sành sứ, ánh mắt Ân Thục Cẩm ngưng đọng như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông giá rét. Manh mối của Cung Chế Cục rốt cuộc đã lộ diện, nhưng người thợ gốm mang tên Lưu Đại Thành này rốt cuộc là đồng mưu hay chỉ là một con tốt thí mạng sắp bị diệt khẩu chốn thâm cung?
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
