Chương 3: Sóng Gió Nơi Bến Đò
Cụ Ý nhìn chằm chằm vào bắp tay trái đang rớm máu tươi của đứa con thứ, đôi mày nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm. Vải áo chẽn của thằng Hưng bị cào rách một mảng lớn, vệt máu thẫm quyện với cát mịn bến sông đỏ lòm một bên sườn.
Thẩm Văn Hưng đứng tựa lưng vào mép phên nứa, hai hàm răng nghiến chặt trèo trẹo vì uất nghẹn.
Thẩm Văn Hưng đứng tựa lưng vào mép phên nứa, ngực phập phồng như ống bễ lò rèn, từng luồng hơi thở phì phò phả ra nóng rực. Cụ Ý dằn giọng “Đứng thẳng cái lưng lên! Chưa chết thì chưa phải gào. Rốt cuộc ngoài bến đò xảy ra chuyện gì, nói cho ra đầu ra đũa xem nào!”
Thẩm Văn Hưng nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, căm phẫn nghiến răng trèo trẹo “Sáng nay con vừa chống sào đưa chuyến khách buôn chuối sang bờ bắc, vừa quay mũi thuyền về thì thằng Ba Búa cùng ba đứa đao búa bên Mã gia nhảy bổ ra chặn đầu đò. Chúng nó quẳng chiếc cọc sắt xuống bùn, giở giọng trịch thượng bảo từ rằm này trở đi, mỗi chiếc đò cập bến Vôi phải nộp thêm năm mươi đồng tiền kẽm thuế cọc bến. Đò nhà mình đóng cọc ở doi cát bấy lâu nay có bao giờ tốn tiền xâu tiền bãi kiểu ấy đâu! Con cãi lại mấy câu, thằng Ba Búa liền vung then gỗ đập thẳng vào đầu đò, toan tháo dây dong thuyền con đi. Con giằng lại thì bị cái móc sắt của nó cào rách toạc cánh tay! Nếu con không vơ lấy mái dầm hoa dâu dọa đập vỡ sọ nó ra, dễ gì con thoát được về đây với mẹ!”
Nghe đến đó, Thẩm Văn Triệu đứng nép góc buồng bỗng run bắn người. Ông lật đật bước ra, mặt xám ngoét như tro tàn, hai tay xua lấy xua để “Ối chú hai ơi là chú hai! Chú nóng nảy thế khéo rước vạ vào thân! Mã Bá Hộ có em họ làm lại mục ở huyện nha, chân tay thì đông như rươi, dây vào chúng nó chỉ thiệt thân thôi. Hay là… hay là nhà mình nhịn đi một bước. Nó đòi năm mươi đồng thì gom góp nộp cho xong chuyện, đò còn giữ được mà chở khách kiếm hạt gạo qua ngày chứ…”
“Anh im cái mồm đi!” Thẩm Văn Hưng trừng mắt, gân cổ đỏ tía tai, quát thẳng vào mặt anh trai: “Nhịn à? Mỗi chuyến đò ngang chở được mười mạng khách, chắt bóp trừ tiền hao mòn chỉ thu về vài ba đồng tiền kẽm, anh bảo lấy đâu ra năm mươi đồng cúng cho chúng nó? Anh nhát gan thì chui xó bếp mà núp, đừng có mở mồm dạy tôi chịu nhục!”
“Tôi… tôi cũng vì cái nhà này…” Thẩm Văn Triệu lắp bắp, co rúm người lại, đôi mắt ầng ậng nước nhìn sang mẹ cầu cứu.
Hai anh em kẻ gầm gừ giương mắt ếch, người run rẩy rụt cổ như gà mắc mưa, làm cho gian nhà tranh vốn dĩ ngột ngạt lại càng thêm chao đảo bởi những tiếng cãi vã đay nghiến. Dưới nền đất, Tú Anh vẫn ngồi bệt ôm gối, nước mắt ngắn dài sụt sùi không dám thở mạnh.
“Cốp!”
Một tiếng gõ khô khốc nện thẳng xuống nền đất nén. Cụ Ý giộng mạnh đầu gậy tre, chòm tóc bạc rung rung theo từng nhịp thở dồn. Đôi mắt già nua quắc lên tia nhìn sắc bén như mũi dao cạo, đảo qua hai người con trai khiến cả gian nhà lập tức im bặt.
“Đã xong chưa? Hay hai thằng chúng mày muốn vác dao chém nhau cho rảnh nợ rồi dâng bến cho Mã gia nó nuốt trọn?”
Cụ Ý chống gậy bước tới trước mặt Thẩm Văn Hưng, giơ tay vỗ mạnh một cái vào bả vai lành lặn của anh “Thằng Hưng! Mày tưởng mày vung dầm dọa liều là mày giỏi giang, là mày trượng nghĩa đấy phỏng? Cái dũng của mày là cái dũng của con trâu đực húc bừa! Thằng Ba Búa nó cố tình khích tướng để mày động thủ, chỉ chờ mày giáng một dầm trúng người nó là quân Mã gia có cớ gông cổ mày lôi lên huyện đường gán cho cái tội đả thương người, tịch thu luôn con đò gỗ! Đầu óc mày để đâu mà dễ sập bẫy trộm cướp thế hả?”
Thẩm Văn Hưng cúi gằm mặt, hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực, bàn tay nắm chặt mép áo buông dần ra.
Cụ Ý lại quay phắt sang Thẩm Văn Triệu, ánh mắt lạnh băng ghim chặt vào khuôn mặt nhợt nhạt của con cả:“Còn anh Triệu! Cả đời anh chỉ biết rụt cổ như con rùa rúc mai! Nhịn một bước là lùi một bước, nhưng với ngữ sài lang hổ báo như Mã gia, mày lùi một bước nó sẽ lấn mười bước. Hôm nay mày cắn răng nộp năm mươi đồng tiền cọc, ngày mai nó đòi một quan tiền bến, ngày kia nó đuổi cả họ Thẩm xuống sông làm ma đói! Mày nhu nhược cam chịu không phải là hiền lành, mà là hèn hạ rước họa diệt thân!”
Thẩm Văn Triệu cắn môi, xấu hổ sụp mí mắt xuống, hai bàn tay đan vào nhau bấu đến trắng bệch.
Đúng lúc ấy, ngoài bờ rào vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch. Thằng bé Khôi trạc mười hai tuổi hớt hải lao vào sân, trên trán mồ hôi nhễ nhại, hai bàn tay nhỏ xíu bốc chặt một nắm lá xoang tươi lẫn cỏ mực đã được giã nát bằng đá. Nó nhào tới cạnh cha, miệng líu lo thở không ra hơi “Thầy ơi! Con… con hái được lá cầm máu cho thầy rồi đây! Vừa rồi ngoài bến con nghe lỏm bọn thằng Ba Búa kháo nhau, chúng nó bảo dằn mặt thầy xong thì trưa nay kéo người ra chiếm luôn cái chòi rạ bỏ hoang của nhà mình ngoài bến Vôi để làm chòi canh đò!”
Thằng bé vừa dán nắm lá xanh rì lên vết rách rướm máu trên cánh tay Thẩm Văn Hưng, vừa ngước đôi mắt tròn xoe lên nhìn cụ Ý “Bà nội ơi, cái chòi rạ rách ấy ngày trước ông nội dựng để trông lưới, mấy năm nay bỏ không cho cỏ dại phủ kín mít, chúng nó mà chiếm mất thì nhà mình hết chỗ đặt chân ngoài bến sông đấy ạ!”
Lời thằng bé như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu mọi người. Cụ Ý đứng sững giữa gian nhà, ngực phập phồng kìm nén một hơi thở dài. Giấc mộng thoại bản lại hiện về mồn một: kiếp trước, cũng từ việc mất chiếc chòi rạ nơi bãi bồi, mất luôn chân đò ngang, cả nhà họ Thẩm rơi vào cảnh khốn cùng túng quẫn, để rồi con bé Tú Anh mù quáng đâm đầu vào cửa phủ làm lẽ mọn, kéo theo cả dòng họ chìm trong biển máu.
Không thể để vết xe đổ ấy lặp lại thêm một bước nào nữa!
Cụ Ý dứt khoát xoay người, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mấy khuôn mặt đang hoang mang lo sợ “Anh Triệu, xách cái chổi rơm với đôi sọt tre ra đây! Con Anh, lau ngay cái mặt lem luốc đi, thay manh áo vải thô rồi cuốn tóc lên cho gọn gàng. Thằng Hưng băng chặt vết thương lại, dắt thằng Khôi vác rựa theo tao!”
Thẩm Văn Triệu ngơ ngác hỏi “Bẩm mẹ… mẹ định dắt cả nhà đi đâu bây giờ?”
“Ra bến Vôi!” Giọng cụ Ý sang sảng đanh thép, âm vang khắp mái rạ xơ xác. “Ra dọn sạch cái chòi rạ bỏ hoang ấy! Bọn chúng muốn cướp đất cướp bến thì người nhà họ Thẩm phải cắm cọc giữ lấy bến. Bắt đầu từ ngày mai, không ngồi xó nhà ăn chực nằm chờ nữa. Cả nhà này sẽ ra bến sông kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt chân chính!”
Cả buổi chiều hôm ấy, bến Vôi huyên náo bởi tiếng liềm phạt cỏ dại sột soạt và tiếng dọn dẹp huỳnh huỵch. Dưới sự đốc thúc nghiêm khắc của cụ Ý, mái chòi rạ xiêu vẹo bám đầy bụi bặm qua bao năm tháng đã được quét dọn phong quang, từng chiếc cọc tre lung lay được đóng lại chắc chắn bên mép nước.
Màn đêm buông xuống bến sông Nhật Lệ, mang theo ngọn gió lành lạnh thổi qua rặng bần. Trăng đầu tháng khuyết một nửa, treo lơ lửng như chiếc lưỡi liềm bạc tỏa ánh sáng mờ ảo xuống khoảnh sân đất xóm Bến Vôi.
Trong nhà, tiếng ngáy mệt nhọc của hai đứa con trai sau một ngày lao lực xen lẫn tiếng thút thít khe khẽ của Tú Anh đã dần chìm vào tĩnh mịch.
Cụ Ý khẽ khàng mở then cửa, một mình chống gậy tre chậm rãi bước ra sau vườn. Gió đêm lùa qua tán lá chuối rậm rạp phát ra những tiếng xào xạc bí ẩn. Cụ bước từng bước vững chãi qua những gốc cây rậm rạp ẩm ướt, rồi dừng chân trước một mô đất xốp phủ đầy lá mục ở góc khuất nhất của khu vườn.
Nhìn mô đất đen thẫm nằm im lìm dưới ánh trăng, đôi bàn tay đồi mồi của cụ khẽ run lên. Nơi đây, dưới lớp đất sét ẩm ướt này, là bí mật gia truyền đã bị chôn vùi suốt ba mươi năm qua, cũng chính là lối thoát duy nhất để cụ cứu lấy cái nhà này khỏi bàn tay hung tàn của bão táp số mệnh.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
