Chương 9: Đúc Vội Chìa Ma
Tiếng gió thu rít qua khe liếp xưởng rèn Vô Khuyết Trai mang theo hơi lạnh buốt giá từ phía hoa viên hồ Thái Dịch – nơi ván cờ sinh tử giữa Tiêu Chấn và Nghiêm Địch vừa chính thức xé toạc bức màn che đậy. Ngay khi vị ngự sử trẻ tuổi đĩnh đạc rời khỏi nhã các Phù Dung dưới sự bám riết của đám mật thám, cỗ xe ngựa rèm the đen của Hứa Viễn Khôn cũng lập tức lén lút rời cửa ngách phủ Tể tướng, hối hả hướng về phía ngoại ô tây thành.
Trong lúc đó, tại Liễu Thao phường, gió thu thổi ràn rạt qua những rặng liễu rủ ven sông đào. A Đoan vai quẩy đôi quang gánh củi khô, mặt mũi nhem nhuốc bồ hóng, chiếc nón rách sụp xuống che khuất nửa gương mặt lanh lợi. Đôi mắt cậu chăm chú dõi theo cỗ xe ngựa dừng bánh trước một gian lò đúc bí mật nằm lọt thỏm giữa con hẻm hoang vắng ngoại ô. Tiếng bễ lò phì phò rít lên từng chập, mùi than cháy nồng nặc át cả mùi rơm rạ mục nát.
Nấp sau đống củi xếp cao bên hàng rào nứa, A Đoan nhìn rõ mồn một cảnh tượng gã mật thám thân tín của Hứa Viễn Khôn cẩn thận rút từ trong bọc lụa ra cuộn bản vẽ da cừu – chính là bản vẽ then mộng giả mà bọn chúng cướp được từ Vô Khuyết Trai đêm trước. Tên thợ đúc cả đời quen gõ vạc đồng khúm núm nhận lấy, mở tung bản vẽ trên chiếc bàn gỗ ám khói, lập tức gọi năm gã thợ phụ đốt đuốc, thúc giục nổi lửa nấu đồng thau trong vội vã.
Nhận thấy hành tung của chúng đã đúng như dự liệu, A Đoan hạ thấp vành nón, thoăn thoắt gánh củi len lỏi qua ngõ hẹp, quay về xưởng rèn Vô Khuyết Trai.
Bên trong gian buồng kín phía sau lò rèn, ánh đèn dầu le lói tỏa ra quầng sáng vàng vọt, hắt bóng Lỗ Khắc Liêm in đậm lên vách đất. Trên bàn rèn phủ một tấm vải dạ sẫm màu, xếp la liệt các loại đục thép tinh xảo, giũa ba cạnh, kìm mũi nhọn và một chiếc kính phóng đại tròn bằng thủy tinh mài bóng viền đồng. Lão thợ già ngồi ngay ngắn, lưng thẳng như thân tùng, đôi bàn tay gân guốc nhẹ nhàng miết qua con dấu thép hình vuông chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay cái.
Tiếng then cửa cọt kẹt khẽ vang lên, A Đoan lách mình vào phòng, vội vã chốt chặt then ngang rồi bước nhanh đến bên bàn, giọng thì thào đứt quãng vì thấm mệt: — Sư phụ! Đúng như người đã liệu định, mật thám họ Hứa vừa đem cuộn da cừu đến lò đúc bí mật ở ngoại ô phía Tây thành. Con thấy bọn chúng đang hối hả thổi lửa, chuẩn bị khuôn cát để đúc một bộ chìa thau tám cánh.
Lỗ Khắc Liêm không ngẩng đầu, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười thâm trầm: — Hứa Viễn Khôn và Nghiêm Địch nắm đại quyền nhưng lại có tật giật mình. Hạn kiểm tra kho lương của triều đình chỉ còn hai ngày, cửa ngầm kho Long Hựu lại bị khối Bát Quái khóa chặt, chúng không thể không sốt ruột. Lũ chúng tưởng cướp được chân truyền then mộng, ắt sẽ dốc toàn lực đúc vội bộ "chìa ma" tám cánh theo sơ đồ đó để mưu toan mở kho trước giờ đại kiểm. Nhưng chúng đâu ngờ, hai cung Chấn và Tốn trên bản vẽ da cừu đã bị ta đảo ngược rãnh khuyết. Càng dùng sức vặn chìa ma, chốt nghịch luân càng nghiến chặt, tự giam mình vào lồng sắt.
Cụ khẽ hớp một ngụm trà nguội, ánh mắt chuyển sang lạnh buốt: — Chìa ma của chúng là mồi nhử dẫn xác, còn then chốt định tội nằm ở đây.
Nói đoạn, cụ Liêm cúi rạp người xuống mặt bàn, tay trái cầm chắc kính mài phóng đại, tay phải cầm mũi đục thép tôi dầu nhọn hoắt. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hạt sở, bề mặt con dấu thép được mài phẳng lì như gương soi.
Đây chính là con dấu ẩn sâu trong buồng nén lò xo của Bát Quái Nghịch Luân Tỏa – nơi sẽ tự động dập thẳng bằng áp lực hàng ngàn cân lên mặt đồng niêm phong khi then sập. Từng giọt mồ hôi rịn ra trên trán, chảy dọc theo những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày của lão thợ già bảy mươi hai tuổi, rồi tí tách rơi xuống mặt bàn gỗ mun.Cạch… cạch… cạch…
Tiếng búa gõ nhẹ như hơi thở, mũi đục thép bén ngọt ăn sâu vào từng thớ kim loại đặc quánh. Dưới mắt nhìn chuẩn xác của cụ Liêm, từng nét chữ chân phương nhưng đanh thép dần hiện lên rõ rệt: “Khang Minh nhị thập niên, Nhạn Môn Quan thập vạn thạch quân lương, Hộ Bộ Lang trung Nghiêm Địch mật thủ, Lỗ Tùng Ân thụ oan.”
Phía dưới dòng chữ oan khiên ấy, cụ Liêm tiếp tục vung mũi đục khắc sâu dấu ấn mật tự cùng bảng đối chiếu số liệu mười vạn thạch quân lương phương Nam hiện tại đang bị rút ruột. Bốn mươi năm câm nín, bốn mươi năm chịu đựng miệng lưỡi thế gian và nỗi đau xé lòng của kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh, toàn bộ oán hận và niềm tin công lý sắt đá được nén chặt vào từng nhát búa, từng nét khắc rướm máu.
A Đoan nín thở đứng bên cạnh, hai tay run run cầm đĩa đèn dầu che gió, không dám thở mạnh vì sợ làm lay động đường đục của sư phụ.
Gần nửa canh giờ trôi qua, tiếng gõ đục rốt cuộc cũng ngừng lại. Cụ Liêm buông búa, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở nặng nhọc. Cụ khẽ nâng con dấu thép lên ngang ngọn đèn, nheo mắt rà soát từng nét chữ khắc chìm sâu hoắm, sắc như lưỡi dao chém đá.
Vừa lúc đó, ngoài ngõ vang lên tiếng chim cú rúc ba tiếng ngắn một tiếng dài. A Đoan ghé mắt qua khe cửa sổ nhìn ra bến sông, rồi quay lại gương mặt thoáng nét căng thẳng: — Sư phụ, người của Tiêu ngự sử vừa bí mật bắn tin. Đoàn xe ngựa chở một vạn thạch cám mốc và cát vụn của Hứa Viễn Khôn đã rời bến sông, ngụy trang tập kết đầy đủ tại bìa rừng phong ngoài mười dặm. Tào Mậu Thuận đã bố trí xong lính gác Bộ Hộ giả mạo, chỉ chờ ám hiệu giờ Tý đêm rằm bốc dỡ vào kho Long Hựu.
Ánh mắt Lỗ Khắc Liêm sáng quắc như đuốc lò rèn. Cụ không hề tỏ ra nao núng, ngón tay cái thô ráp khẽ gạt nhẹ mạt kim loại còn vương trên bề mặt con dấu. Cụ ghé miệng thổi nhẹ một hơi.
Phù!
Mạt thép bay lả tả trong quầng sáng le lói, để lộ những dòng chữ tố giác đen nhánh, sắc lạnh và bất diệt. Lão thợ già cẩn thận lồng con dấu thép vào buồng nén lò xo lá bên trong khối then khóa dự phòng, nghe một tiếng tách giòn tan ăn khớp hoàn hảo vào then gài nghịch luân.
Cụ khẽ khép mi mắt, bàn tay già nua run rẩy chạm nhẹ lên bài vị con trai đặt khuất sau bức vách gỗ, cất giọng trầm khàn nghẹn ngào: — Tùng Ân, bốn mươi năm oan khuất sắp được giải rồi con ơi.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
