Chương 4: Khẩu Lệnh Giữa Sân Bùn

Mưa phùn quất rát mặt giữa luồng gió bấc ràn rạt từ triền sông Lô thổi về. Biên Hữu Trực dắt chiếc xe đạp Thống Nhất lao nhanh ra cổng kho xép Phòng Nông nghiệp. Bắp chân phải nhức buốt dữ dội vì vết sẹo mảnh đạn pháo năm xưa, nhưng bước chân người cựu binh già không hề chậm lại.

Phía sau, Lê Quốc Anh khoác chéo túi bạt đựng tài liệu kiểm toán, tay giữ chặt chiếc bàn tính gỗ mun bên sườn, hối hả đạp bám sát. Hoàng Thị Loan ôm chiếc hòm tôn con dấu bọc kín trong mảnh vải mưa, gò lưng đạp theo. Cậu cán bộ nông nghiệp xã dẫn đầu, ngọn đèn pin con cóc leo lét rọi lên vệt bùn đỏ quánh đặc của con đường liên thôn. Đất đỏ trung du gặp nước mưa nhão nhoét, bết chặt lấy khe chắn xích khiến xích líp kêu lạo xạo từng chặp nặng trĩu.

Càng tiến gần xóm Đồi thuộc Hợp tác xã Đồng Tâm, tiếng mõ tre dồn dập cùng tiếng tù và sừng trâu rúc lên thê thiết càng dội rõ vào tai Trực. Giữa bóng tối mịt mùng, vài ngọn đuốc nứa bốc khói cay xè ở góc đồi cọ, chập chờn rọi vào khoảng sân đất trước căn nhà tranh xiêu vẹo.

Trực quăng chiếc xe đạp vào bụi rào dâm bụt ven đường, xách cây đèn bão bước phăng qua chiếc cổng ngõ ken tre đã bị đạp gãy gục.

Giữa khoảng sân bùn lầy thụt tới mắt cá chân, một con trâu mộng to lớn đang thở phì phò dữ dội. Sợi thừng thắt thòng lọng siết chặt lấy gốc sừng và vành mũi trâu, khiến bọt mép và máu rỉ ra nơi khóe miệng con vật. Bốn gã đàn ông mặc áo bạt màu chàm đang ghì chặt đầu dây thừng, gót chân cày sâu vào bùn đất, ra sức lôi giật con trâu về phía cổng ngõ.

Ngay trước cửa chuồng trâu, một bóng người gầy guộc đứng sừng sững chắn ngang. Đó là một lão nông lưng còng, râu cằm bạc lởm chởm, chiếc áo tơi lá cọ rách tả tơi khoác trên bờ vai trần đỏ au màu nắng gió. Đôi chân trần khẳng khiu bấm chặt xuống bùn đỏ, hai mắt ông long lên sòng sọc đầy căm hờn. Bằng bàn tay phải cụt hai ngón trỏ và giữa, lão nông nắm chặt chiếc đòn gánh tre đực ngả màu cánh gián, vung lên vun vút cản đường “Bước qua đây tao đập vỡ sọ! Con trâu này là mạng sống của cả nhà tao, là bát cơm của mấy đứa cháu mồ côi! Hợp tác xã giao khoán ruộng, tao nuôi nó từ lúc bằng con bê, chúng mày dựa vào đâu mà nửa đêm xông vào cướp trắng?”

“Bắt trâu cấn nợ là lệnh của cấp trên! Giấy trắng mực đen rành rành ra đấy, ông già chớ ngoan cố!”

Tên cầm đầu đội đòi nợ — gã mặt choắt khoác áo xám khói, tay cầm chiếc gậy gỗ bọc sắt — quát the thé, hất hàm ra hiệu cho ba tên đàn em lăm lăm gậy gộc “Giật cái đòn gánh! Đè cổ nó xuống bùn cho tao! Dám chống đối lệnh thu nợ của huyện thì cho rũ xương trong buồng giam!”

Ba gã chồm tới, vung gậy toan bủa vây người nông dân già. Ông lão nghiến chặt răng, chiếc đòn gánh tre rít lên trong không khí, quyết liều mạng để giữ con trâu kéo cày.

“Dừng tay lại!”

Một tiếng quát vang lên sang sảng, đanh gọn như khẩu lệnh thép trên chiến trường.

Biên Hữu Trực bước phăng tới, thân hình cao gầy chắn thẳng vào khoảng trống giữa những ngọn gậy gộc và chiếc đòn gánh tre của lão nông. Ngọn đèn bão giơ cao soi rõ bộ quân phục Tô Châu bạc màu và khuôn mặt cương nghị. Ánh mắt quắc thước sau cặp kính lão đồi mồi quét qua từng khuôn mặt đám đòi nợ, khiến lũ tay chân bất giác chùn bước, hạ những khúc gậy xuống mé đùi.

Quốc Anh và Loan lập tức xốc tới đứng hai bên ông Trực. Quốc Anh rút từ cặp tài liệu ra bản quyết định có dấu đỏ tươi, giơ cao trước quầng sáng.

Gã cầm đầu đội đòi nợ lùi lại nửa bước, nhưng rồi cậy thế đông người, gã gằn giọng “Ông là ai mà dám cản trở công vụ? Đây là việc thu nợ của Quỹ Tín dụng Nông nghiệp theo lệnh Ủy ban! Liệu hồn thì xê ra!”

Trực không hề chớp mắt. Ông bước lên một bước, bước chân khập khiễng nện chắc nịch xuống nền bùn đỏ “Tôi là Biên Hữu Trực, Trưởng đoàn thanh tra Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Vĩnh Phú! Trên tay cán bộ của tôi là Quyết định thanh tra đặc biệt số hai mươi mốt do Giám đốc Chi nhánh tỉnh ký ban hành. Nhân danh quyền hạn của đoàn thanh tra Nhà nước, tôi hạ lệnh đình chỉ ngay lập tức hành vi cưỡng chế bắt giữ tài sản này!”

Gã mặt choắt biến sắc, lúng búng trong họng “Nhưng… Giám đốc Đạt và Phó Chủ tịch huyện đã có lệnh cưỡng chế…”“Anh Đạt hay anh Viêm cũng không được phép đứng trên pháp luật!” Trực ngắt lời bằng giọng đanh thép. “Pháp luật Nhà nước nghiêm cấm việc xua người mang gậy gộc ập vào nhà dân giữa đêm khuya khoắt để cưỡng đoạt tài sản! Muốn kê biên phải có bản án hiệu lực của Tòa án, có cơ quan thi hành án chủ trì cùng đại diện chính quyền xã và Viện Kiểm sát lập biên bản ban ngày. Các anh đang hành xử như một toán thảo khấu, chà đạp lên kỷ cương phép nước!”

Lời lẽ đanh thép của Trực rạch ròi từng căn cứ pháp lý khiến đám đòi nợ run rẩy nhìn nhau, ngọn đuốc trên tay khẽ chao đảo.

Đúng lúc ấy, ngoài ngõ vang lên tiếng chân chạy rầm rập trên đất nhão. Hơn ba mươi bà con xã viên xóm Đồi, tay cầm cuốc xẻng, đòn càn và những bó đuốc nứa bốc khói ngùn ngụt ùa vào chật kín sân. Tiếng hô căm phẫn dậy lên như sóng trào “Cán bộ tỉnh nói chí phải!”

“Cướp trâu nửa đêm là quân giặc cướp!”

“Đừng hòng cướp con trâu mộng của ông Cả! Muốn dắt trâu đi thì bước qua xác cả làng này!”

Vòng vây của bà con khép chặt lại. Khí thế phẫn nộ bốc lên từ những gương mặt sạm đen lấm lem bùn đất, từ những đôi mắt rực lửa căm hờn của những người cùng khổ bị dồn vào chân tường.

Thấy cán bộ thanh tra tỉnh sừng sững che chở cho dân, lại thấy hàng chục lưỡi cuốc xẻng lấp loáng dưới ánh đuốc vây bọc, gã cầm đầu đội đòi nợ mặt mày xám ngoét. Biết không thể dùng vũ lực uy h**p, gã nghiến răng giật sợi dây thừng vứt toẹt xuống bùn “Được… các người nhớ lấy! Để xem đoàn thanh tra các ông che chở cho lũ chây ì này được bao lâu!”

Dứt lời, gã vẫy tay ra hiệu cho đồng bọn nháo nhào lủi qua cổng ngõ, tháo chạy vào màn mưa đêm buốt giá giữa tiếng la ó dậy trời của bà con xã viên.

Sóng gió tạm lắng. Con trâu mộng thoát khỏi sợi thòng lọng oan nghiệt, khẽ thở phì phò rồi ngoan ngoãn tiến lại, dụi cái đầu ướt sũng vào mạn sườn người chủ già.

Chiếc đòn gánh tre đực trên tay lão nông từ từ hạ xuống mép hiên, rơi đánh “cạch” trên thềm đất nện. Lão run rẩy đưa bàn tay cụt hai ngón lên quệt mồ hôi quyện nước mưa trên trán, ngực phập phồng th* d*c sau cơn sinh tử. Ông ngước nhìn người cán bộ già đang ân cần cúi xuống nhặt chiếc đòn gánh dựng lại bên cột nhà.

Dưới ánh đuốc bập bùng hòa cùng quầng sáng ngọn đèn bão, từng đường nét trên gương mặt người cựu binh hiện ra rõ mồn một: vết sẹo mảnh đạn dài nơi thái dương phải, đôi mắt sáng quắc thước sau gọng kính đồi mồi, chiếc áo Tô Châu bạc màu sờn cổ áo, và trên ngực áo là chiếc huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ bằng đồng đã ngả màu thời gian.

Lão nông bỗng sững sờ. Đôi con ngươi đùng đục của ông mở to, bờ môi thâm tím run rẩy bần bật “Vết sẹo này… chiếc huy hiệu này… Có phải… có phải chú Trực? Trực 'pháo binh' đồi C1 đấy không?”

Biên Hữu Trực giật mình, bước vội lại gần. Ông nâng chiếc đèn bão soi sát gương mặt gầy guộc đầy vết rạn chân chim của người nông dân, rồi nhìn xuống bàn tay phải bị cụt mất ngón trỏ và ngón giữa. Ký ức về những ngày khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt năm 1954 dưới chân đồi C1 bất thần dội về như bão lửa trong tâm can Trực “Anh… anh Cả Vạn? Khẩu đội trưởng Cả Vạn!”

“Trực ơi! Đúng là chú rồi!”

Chiếc áo tơi lá cọ rơi tuột xuống chân. Bàn tay cụt hai ngón chai sạn của người lính già Điện Biên run rẩy chộp lấy hai bàn tay Trực, siết chặt như sợ tuột mất một điểm tựa cuộc đời. Trong khóe mắt trũng sâu của người nông dân cả đời lam lũ, hai dòng nước mắt nóng hổi trào ra, lăn dài trên đôi gò má nứt nẻ vì giá rét.

Nắm chặt bàn tay cụt ngón của người đồng đội cũ, ông Cả Vạn run rẩy thốt lên trong nước mắt “Trực ơi, cả đời tao chỉ biết cày ruộng đánh giặc, tao có vay một xu nào của quỹ đâu mà họ gán nợ một triệu hai trăm ngàn đồng!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.