Chương 3: Tiếng Mõ Đêm Ở Thôn Đồi

Ngón tay Trực siết chặt mép tờ công văn vừa nhặt. Trên nền tờ công văn đánh máy ố vàng, con dấu tròn đỏ thắm của Ủy ban nhân dân huyện Bình Lạc và chữ ký nghiêng sắc lạnh của Phó Chủ tịch thường trực Trần Khắc Viêm như nhát dao chém ngang sự yên bình thôn xóm.

Hoàng Bá Đạt cuống quýt bước tới, bàn tay đeo nhẫn vàng chìa ra định giật lại tờ giấy, miệng cười gượng gạo “Ấy chết, cái này là văn bản lưu hành nội bộ của Ủy ban huyện, cô văn thư sơ ý kẹp lẫn vào… Phiền anh Trực trả lại cho tôi.”

Trực từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt ông quắc thước sau đôi tròng kính lão đồi mồi, sắc lạnh khiến bàn tay của Đạt rụt phắt lại giữa chừng không trung.

“Đồng chí Đạt giải thích thế nào về bản kế hoạch này?” Trực hỏi, giọng trầm đục mà đanh thép. “Đoàn thanh tra của Ngân hàng Nhà nước tỉnh vừa mới đặt chân tới huyện, chưa kịp đối chiếu sổ sách kế toán, ai cho phép các đồng chí xua quân đi cưỡng chế, bắt giữ tài sản của bà con ngay trong rạng sáng mai?”

Mồ hôi lấm tấm túa ra trên trán Đạt, làm trôi đi lớp phấn nhờn nhợt trên gương mặt đẫy đà. Hắn nuốt nước bọt đánh ực, lắp bắp “Dạ… báo cáo anh Trực, đây là chỉ thị cấp bách của Huyện ủy và anh Ba Viêm nhằm chống thất thoát vốn ngân sách. Bà con xã viên nợ nần dây dưa kéo dài, nếu không kiên quyết răn đe thì Quỹ tín dụng lấy gì thanh toán…”

“Chống thất thoát hay bức ép nhân dân vào bước đường cùng?” Trực đanh thép ngắt lời, gấp đôi tờ công văn lại rồi đút thẳng vào chiếc cặp da simili sờn góc của mình. “Khi chưa có kết luận thanh tra chính thức, mọi hành vi kê biên tài sản của dân đều vi phạm kỷ cương pháp luật. Tờ công văn này tôi sẽ lưu giữ trong hồ sơ công tác của đoàn. Còn bây giờ, đề nghị đồng chí Giám đốc cho mở cửa gian kho xép của Phòng Nông nghiệp. Đoàn chúng tôi cần bắt tay vào việc ngay.”

Trước uy lực sắt đá của người cựu binh già, Đạt đành ngậm bồ hòn làm ngọt, hậm hực vẫy tay gọi nhân viên đưa chìa khóa rồi lủi thủi rút lui cùng đám tay chân.

Gian kho xép của Phòng Nông nghiệp huyện nằm khuất sau rặng xoan già trơ trụi lá, tường gạch tróc vôi loang lổ vết ẩm mốc, nền đất nện ẩm ướt bốc lên mùi ngai ngái của rơm mục và bao tải cũ.

Hoàng Thị Loan nhanh nhẹn quét sạch mạng nhện trên xà gồ gỗ lim, lau sạch mặt chiếc bàn gỗ mộc dài. Cô cẩn thận đặt chiếc hòm tôn đựng con dấu kiểm soát bọc nhung và cuốn sổ nhật ký công tác bìa cứng vào góc khô ráo nhất, vặn then khóa kỹ.

Ở góc bàn đối diện, Lê Quốc Anh chong ngọn đèn dầu, dùng giẻ mềm lau từng hạt của chiếc bàn tính gỗ mun nhẵn bóng. Trước mặt anh là tập danh sách trích sao ba trăm hai mươi hộ nợ quá hạn do Quỹ tín dụng giao nộp.

Trực ngồi xuống chiếc ghế gỗ cập kênh, cúi người xoa bóp bắp chân phải. Vết sẹo mảnh đạn pháo năm 1954 lại bắt đầu phát nhức buốt dữ dội khi từng luồng gió bấc cuối đông lùa qua khe liếp cửa sổ. Ông tháo cặp kính lão đồi mồi, nhìn sang người thanh tra viên trẻ tuổi “Cậu xem qua tập danh sách sơ bộ chưa, Quốc Anh?”

Quốc Anh ngừng gảy bàn tính, đẩy gọng kính cận lên sống mũi, vẻ mặt đầy ngờ vực “Thủ trưởng Trực, cháu phát hiện ra một điểm bất thường sơ đẳng đến khó tin. Toàn bộ ba trăm hai mươi hộ xã viên thuộc bốn hợp tác xã Đồng Tâm, Minh Khai, Tiền Phong, Hòa Bình trong danh sách này đều có số tiền vay tròn trĩnh một triệu, một triệu rưỡi, hai triệu đồng chẵn. Tuyệt nhiên không có lấy một số lẻ vài trăm đồng hay vài hào chi mua phân bón, thuốc trừ sâu hay giống lúa thực tế.”

Trực gật đầu, ánh mắt ông đăm chiêu nhìn tàn bấc đèn leo lét “Đó chính là kẽ hở của những kẻ ngồi bàn giấy ngụy tạo chứng từ. Thời Khoán 10, người nông dân trung du chắt bóp từng xu từng hào. Họ vay vốn dựa trên định mức từng sào ruộng, từng cân thóc giống CR203 hay từng bao phân lân nung chảy. Đã là chi cho sản xuất nông nghiệp thì số liệu không bao giờ tròn vo phẳng phiu như đếm tiền chẵn. Bút toán này là sản phẩm ngụy tạo trắng trợn.”

Đúng lúc ấy, cánh cửa kho xép khẽ cọt kẹt lay động. Nguyễn Thị Nhàn, Kế toán trưởng Quỹ tín dụng, rụt rè nép sau khe cửa, ngập ngừng không dám bước vào. Người phụ nữ ba mươi sáu tuổi quấn chiếc khăn len cũ màu tro úa, hai tay run run bưng chiếc giỏ nan đựng ấm tích nước chè xanh bốc khói nghi ngút. Nước da cô xanh xao thiếu máu, hai quầng mắt thâm đen vì mất ngủ kinh niên.

“Cô Nhàn đấy à? Vào đây đi cô,” Trực cất giọng trầm ấm, kéo chiếc ghế đẩu lại gần.

Nhàn khẽ khàng bước vào, đặt ấm nước lên bàn, giọng nghẹn ngào trong gió rét “Cháu… cháu thấy các chú dọn dẹp gian kho lạnh lẽo quá, nên đun vội ấm chè xanh mang sang để các chú uống cho ấm lòng.”

Loan vội rót nước ra mấy chiếc bát sứ Hải Dương, đưa tới tay Nhàn một bát. Nhưng Nhàn không cầm. Đôi mắt kinh hãi của cô dán chặt vào tập danh sách nợ khống đang mở toang trên bàn làm việc của Quốc Anh. Bàn tay gầy guộc chằng chịt vết gân xanh của cô run bần bật, môi mấp máy như muốn giãi bày điều gì nghẹn ứ nơi cổ họng:“Chú Trực ơi… thực ra… ba trăm hai mươi hộ đó… không phải họ muốn…”

“Khẹc! Khẹc!”

Tiếng ho khan ráo hoảnh cất lên ngoài cổng cơ quan, kèm theo ánh đèn pin quét loang loáng qua khe liếp cửa sổ kho xép. Bóng hai gã đàn ông mặc áo bông dày lởn vởn đứng tựa vào cột cờ ngoài sân.

Nhàn giật thót mình, mặt cắt không còn giọt máu. Cô hốt hoảng thụt lùi lại phía sau, líu lưỡi “Cháu… cháu phải về ngay kẻo hai đứa nhỏ ở nhà ngóng mẹ!”

Không đợi ông Trực kịp giữ lại, người đàn bà khốn khổ đã quay đầu lao vụt ra ngoài, hòa lẫn vào bóng đêm đen kịt giữa làn mưa phùn buốt giá.

Quốc Anh nhìn theo bóng Nhàn, cau mày “Chị ấy chắc chắn đang nắm giữ sự thật nhưng bị đe dọa, thủ trưởng ạ.”

Trực im lặng nhấp một ngụm chè xanh nóng. Vị đắng chát đọng lại nơi đầu lưỡi rồi dần chuyển sang vị ngọt hậu, hệt như những cay đắng mà người ngay thẳng phải nếm trải trước khi tìm ra ánh sáng công lý.

Thời gian nhích dần về khuya. Cả gian kho xép chìm trong tĩnh mịch, chỉ còn tiếng lách cách của bàn tính gỗ mun và tiếng ràn rạt của gió mùa đông bắc đập vào rặng cọ ven đồi.

Bất chợt, một âm thanh lạ xé toang màn đêm u tịch.

“Cắc… cắc… cắc… cắc!”

Tiếng mõ tre đầu thôn gõ dồn dập, gấp gáp như giục giã, rồi tiếng chiêng đồng khua liên hồi, tiếng tù và bằng sừng trâu rúc lên từng hồi thảm thiết từ phía triền đồi Hợp tác xã Đồng Tâm vọng rách màn mưa lạnh buốt. Đó là thanh âm báo động khẩn cấp của làng quê khi xảy ra hỏa hoạn, vỡ đê hay có biến loạn lớn.

“Rầm!”

Cánh cửa gỗ kho xép bị xô bật ra. Một thanh niên là cán bộ nông nghiệp xã người ướt sũng bùn đất đỏ hớt hải lao vào, ngã quỵ xuống mép cửa “Cán bộ ơi! Bác Trực ơi! Nguy to rồi!”

Người thanh niên thở hổn hển, lồng ngực phập phồng dữ dội, giọng lạc đi vì kinh hoàng “Đội đòi nợ của Quỹ tín dụng không chờ đến sáng đâu! Thằng Đạt phái hơn chục tên bảo vệ mang gậy gộc, thừng chão bí mật ập vào xóm Đồi từ nửa đêm rồi! Chúng đang phá cổng chuồng trâu nhà ông Cả Vạn, định tròng dây lôi con trâu mộng kéo cày đi để cấn nợ khống! Ông Cả đang vác đòn gánh liều mạng với chúng nó ngoài sân bùn!”

Cả gian phòng chấn động. Loan thảng thốt ôm chặt lấy chiếc hòm tôn kiểm soát, mắt rơm rớm hoảng sợ. Quốc Anh vùng đứng dậy, nắm chặt chiếc bàn tính gỗ, quai hàm bạnh ra giận dữ.

Giữa tiếng mưa ràn rạt quất vào tàu lá cọ xao xác, tiếng gào thét uất nghẹn của người già và tiếng trẻ con khóc thét xé lòng từ xóm Đồi theo gió bấc dội về dồn dập.

Không một giây do dự, Trực nén cơn đau buốt ở bắp chân, vơ vội chiếc áo Tô Châu bạc màu khoác lên vai, tay xách cây đèn bão “Quốc Anh, mang theo quyết định thanh tra và biên bản công tác! Đi ngay!”

Bóng người cựu binh già khập khiễng lao nhanh ra màn đêm giông gió buốt giá, hướng về phía triền đồi đang bốc lên ngọn lửa căm hờn của nhân dân.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.