Chương 19: Nghi Lễ định Danh
Sương núi bảng lảng trôi qua rặng thông già khi Kỳ cùng Linh mục Phúc rảo bước xuống dốc đá về phía nhà thờ Mã Tâu. Ba nén nhang bên nấm mộ gió của cha hãy còn đượm đỏ, nhưng thời gian cho mảnh đất này không còn nhiều.
Kỳ đẩy cánh cửa gỗ lim bước vào gian thánh đường, luồng khí ngột ngạt lập tức ập tới. Dưới bệ thờ gian phụ, Trần Minh Văn túc trực bên máy đo địa chấn, mắt đỏ ngầu sau cặp kính dày. Đứng tựa vách đá phiến là Vàng A Sình trong bộ áo lanh chàm, hai tay ôm chiếc bát gốm đựng đầy rượu ngô men lá. Cạnh ông, Lý A Mẩy cẩn thận nâng khay đồng đặt sáu dải vải lanh cổ và cuộn da hoẵng đồ hình.
Một hồi rung chấn ngầm dội lên theo chu kỳ mười tám giây, làm mặt sàn đá rung lắc dữ dội. Bụi vữa rơi lả tả từ vòm trần.
“Rượu ngô trên miệng khe đã bốc cạn,” Vàng A Sình ngước nhìn Kỳ, giọng đanh như sắt. “Đá dưới hầm đang thở gấp. Không làm lễ định danh ngay, vết nứt sẽ toác đôi quả núi.”
Kỳ chạm tay vào túi áo ngực dã chiến — nơi dải vải lanh thứ bảy cùng chiếc đồng hồ quả quýt hoen ố đang nằm yên. Ánh mắt cô phẳng lặng, rũ sạch những dằn vặt hai mươi năm qua “Chúng ta xuống hầm.”
Văn xách hộp trắc địa bám theo sau. Từng người bước xuống mười hai bậc đá phiến. Càng xuống sâu, hơi nóng mang mùi khoáng chất lưu huỳnh càng bốc lên nồng nặc, xung đột với khí lạnh buốt giá vốn có của căn hầm ngầm rộng tám mét.
Dưới ánh đèn huỳnh quang, bảy chiếc ghế đá nguyên khối xếp thành vòng tròn hướng tâm giữa không gian bát giác. Bảy pho thi thể mặc lễ phục chàm lai áo dòng thâm vẫn ngồi thẳng tắp, những ngón tay đan chặt tạo thành mắt xích liên tục. Giữa tâm hầm, khe nứt tự nhiên đã toác rộng hơn hai đốt ngón tay. Từ đáy vực tối om, luồng hạ âm dội lên từng đợt rền rĩ, cuộn theo tiếng thì thầm bằng tiếng Pháp cổ và thổ ngữ Mông Đen: “Kẻ đến tìm xương là ai?...”
Lý A Mẩy chững lại một nhịp thở trước làn áp lực vô hình. Kỳ khẽ đặt tay lên vai cô gái trẻ trấn an, rồi ra hiệu cho Vàng A Sình.
Trưởng thôn bước tới trước năm chiếc ghế của các tiền nhân dòng họ Giàng. Ông quỳ một gối xuống nền đá buốt giá, hai tay nâng cao bát rượu ngô thơm nồng men lá rừng.
Bằng chất giọng Mông Đen cổ trầm đục, từng âm tiết thoát ra từ lồng ngực Sình vang dội “Hỡi cụ Giàng A Páo, người dẫn dắt dòng họ! Hỡi cụ Giàng A Lử, cụ Giàng Mí Chá, cụ Giàng A Súa, cụ Giàng Vàng Dơ! Trăm năm trước, các cụ uống chén thuốc độc, đan tay giữ lấy chân móng Mã Tâu. Máu và thân xác các cụ đã nằm lại để giữ yên cho thung lũng. Giao ước xưa nay đã trọn vẹn. Con cháu họ Giàng dâng chén rượu ngô tạ đất, mở tay người gác cổng, đưa hương linh tổ tiên trở về với đỉnh núi!”
Lý A Mẩy cất giọng dịch xướng bằng tiếng Kinh, thanh âm trong trẻo vang khắp vòm hầm.
Sình nghiêng bát, rưới một vòng rượu ngô dọc theo mép đá bao quanh năm pho thi thể họ Giàng. Giọt rượu chạm đá nóng xèo xèo bốc hơi, hòa cùng mùi chu sa và nhựa thông tạo nên làn khói lam nhạt. Đáy vực sâu dưới chân khẽ chuyển động, tiếng ken két tạm lắng lại trong chốc lát.
Linh mục Lê Công Phúc tiến lên trước chiếc ghế đá thứ nhất. Nâng chuỗi hạt gỗ trên tay, đôi mắt ông dừng nơi vạt áo chùng thâm của vị linh mục tiền nhiệm đã an nghỉ gần một thế kỷ. Cha Phúc làm dấu thánh giá, cất lời kinh nguyện Latinh trầm ấm “Requiem aeternam dona eis, Domine, et lux perpetua luceat eis... Lạy Chúa nhân từ, xin đoái thương hương linh Cố Étienne Moreau cùng những con người của vùng đất này. Họ đã dâng hiến thân xác nơi lòng đất lạnh để che chở cho giáo dân và thung lũng suốt trăm năm. Gánh nặng canh giữ nay đã hoàn tất. Xin ban cho người nằm xuống sự an nghỉ đời đời trong ánh sáng cứu rỗi.”
Lời kinh nguyện dứt, Cha Phúc cúi đầu thật sâu trước thi thể Cố Moreau. Luồng sóng hạ âm từ đáy vực không còn hung bạo mà chuyển thành những xung động nghẹn ứ, như một sinh thể đang lắng nghe và chờ đợi mảnh ghép sau cùng.Kỳ hít một hơi sâu, bước vào tâm căn hầm bát giác. Đứng trước miệng khe nứt đang bốc khói mỏng, đối diện với vòng tròn bảy chiếc ghế đá, vóc dáng mảnh khảnh của cô nổi bật giữa quầng sáng đèn huỳnh quang.
Cô lấy dải vải lanh thứ bảy mang nét chữ của cha ra khỏi túi ngực, nâng ngang tầm mắt. Bằng thẩm quyền nghiên cứu nhân học và tư cách của đứa con gái tìm lại cội nguồn, Kỳ cất tiếng dõng dạc xướng danh từng người canh giữ “Trước đất trời và lịch sử Mã Tâu, chúng tôi chính thức định danh sự hiện diện của những người canh giữ!
Vị thứ nhất: Linh mục Étienne Moreau, sinh năm 1871 tại Lyon, nước Pháp, qua đời năm 1931 tại Mã Tâu, người thiết kế thánh đường và đồng sáng lập Hội Canh Giữ!
Vị thứ hai: Cụ Giàng A Páo, sinh năm 1865 tại Mã Tâu, thủ lĩnh bản địa đồng sáng lập Hội Canh Giữ năm 1912!
Vị thứ ba: Bô lão Giàng A Lử, sinh năm 1868 tại Mã Tâu, người hiến thân năm 1912!
Vị thứ tư: Bô lão Giàng Mí Chá, sinh năm 1870 tại Mã Tâu, người hiến thân năm 1912!
Vị thứ năm: Bô lão Giàng A Súa, sinh năm 1872 tại Mã Tâu, người hiến thân năm 1912!
Vị thứ sáu: Bô lão Giàng Vàng Dơ, sinh năm 1875 tại Mã Tâu, người hiến thân năm 1912!”
Âm vang đanh thép của Kỳ dội vào vách đá, từng lời rành rọt đè bẹp những dao động ngầm. Cô bước thẳng tới trước chiếc ghế đá thứ bảy ở hướng bắc.
Nhìn vào lớp vải lanh xám phủ kín khuôn mặt của cha, cô đặt bàn tay trần lên bờ vai khô gầy của pho thi thể. Giọng cô rung lên nhưng tràn đầy niềm kiêu hãnh “Và vị thứ bảy: Hà Minh Thành — nhà khoa học, người canh giữ tự nguyện! Sinh năm 1952 tại Hà Nội, người đã chọn ở lại nơi này vào mùa đông năm hai nghìn không trăm lẻ hai để khóa chặt vòng tròn hiến sinh, bảo vệ bình yên cho cao nguyên và tương lai của thế hệ sau!”
Khi cái tên “Hà Minh Thành — nhà khoa học, người canh giữ tự nguyện” dội vang khắp căn hầm, luồng hạ âm đang rung chuyển dữ dội dưới lòng đất đột ngột lắng dịu. Câu hỏi thì thầm tra vấn dai dẳng suốt một thế kỷ qua kẽ đá hoàn toàn im bặt, như thể tâm thức cổ xưa của lòng đất sau trăm năm chờ đợi nay đã được thỏa nguyện bởi sự công nhận và ghi danh của con người.
Trong làn khói trầm mỏng manh thoảng hương sáp ong và nhựa thông, hai mép đá sắc nhọn của khe nứt dưới sàn hầm bắt đầu chuyển dịch. Những thớ đá vôi từ từ khép chặt lại, gắn khít vào nhau như một vết sẹo tự nhiên của địa tầng. Luồng khí nóng bức bối tan biến, nhường chỗ cho bầu không khí tĩnh lặng, thanh thản bao trùm lên bảy pho thi hài.
Kỳ đứng lặng, khóe mắt cay xè nhưng bờ môi nở nụ cười nhẹ nhõm. Trên bảy chiếc ghế đá quanh tâm hầm, đôi bàn tay đan chéo của bảy xác ướp khẽ chùng xuống trên gối đá như hoàn tất trọng trách thế kỷ.
Đúng lúc đó, từ trên đầu mười hai bậc thang đá, tiếng bước chân rầm rập của đội công binh vang lên gấp gáp, cùng tiếng reo hân hoan của một người lính truyền tin báo rằng quyết định bảo tồn chính thức của Ủy ban tỉnh đã tới nơi.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
