Chương 16: Bảy Lời Tuyên Thệ
Kỳ buông cổ tay Văn. Vết rách sâu trong lòng bàn tay phải cấn vào lớp gạc mỏng nhức buốt từng cơn. Văn lùi lại nửa bước, ánh mắt đã lấy lại vẻ điềm tĩnh cần có của một người làm thực địa lâu năm. Anh khẽ gật đầu, kéo khóa chiếc ba lô dã chiến như một lời cam kết thầm lặng.
Cửa gỗ gian phụ kẽo kẹt mở. Vàng A Sình bước vào cùng Lý A Mẩy theo đúng tín hiệu khẩn Kỳ vừa phát ra để triệu tập cuộc họp kín. Mặt người trưởng thôn sạm đen như tạc từ đá tai mèo, trên vai khoác chiếc túi dệt bằng sợi lanh thô. Mẩy đi ngay phía sau, ghì chặt tập sổ ghi chép dã chiến, đôi mắt trũng sâu quầng thâm sau một đêm dài thức trắng cùng những trang tư liệu cổ.
“Mặt đất dưới chân rung mạnh hơn rồi,” Sình nói bằng giọng trầm đục, từng lời dứt khoát như nhát rìu chém vào gỗ. “Đoàn xe cơ giới dưới đèo đang dọn bãi. Họ sắp đặt mìn.”
Kỳ không để lãng phí một giây nào. Cô bước tới bên chiếc bàn đá xám, trải phẳng cuộn da hoẵng của dòng họ Giàng, chặn bốn góc bằng những mẩu đá phiến sứt mẻ. Cạnh đó, bản vẽ trắc địa đồ hình bát giác cùng cuốn sổ biên niên da bò mở sẵn dưới ánh sáng nhập nhoạng của buổi sớm trên đỉnh đèo.
“Chúng ta không còn thời gian,” Kỳ chỉ đầu ngón tay trỏ trái vào tâm đồ hình, nơi tám trục quy tụ về khe nứt không đáy. “Rung chấn sàn hầm xuất hiện theo chu kỳ mười tám giây. Mạch giữ đang rạn nứt vì vị trí thứ bảy bị lay chuyển khi tôi tiếp cận thi hài của cha tôi đêm qua. Muốn lập hồ sơ chứng minh giá trị bất khả xâm phạm của di tích trước khi chị Cúc hết quyền hạn can thiệp, chúng ta phải làm rõ bản chất của giao ước năm 1912.”
Vàng A Sình bước tới sát mép bàn đá. Bàn tay to bè, nứt nẻ vì sương muối của ông miết chậm rãi lên những đường vẽ hình học cổ xưa, ánh mắt đăm chiêu “Cụ Páo năm xưa để lại lời truyền: người canh giữ không chỉ ngồi xuống bằng xương thịt. Lời thề của họ quấn chặt nơi cổ tay phải. Bảy người, bảy dải lanh niêm phong. Khi người sống chưa đọc được lời thề ấy, đá sẽ không bao giờ chịu ngủ yên.”
Kỳ nhìn thẳng vào mắt người trưởng thôn “Vậy thì phải xuống hầm lấy chúng ra.”
Bốn người nhanh chóng chuẩn bị, bật đèn pin đội đầu. Ánh sáng vàng quét dọc hành lang, dẫn lối qua bậc cửa vòm bằng đá phiến. Kỳ đi đầu, cẩn trọng bước xuống mười hai bậc đá dẫn sâu vào lòng đất.
Hơi lạnh buốt và không khí khô khốc dưới hầm lập tức thốc ngược lên mặt. Mùi nhựa thông quyện bột chu sa cùng sáp ong rừng đặc quánh trong không gian kín, lẫn luồng khí ngai ngái bốc lên từ kẽ nứt trung tâm. Dưới sàn hầm bát giác rộng tám mét, vết rạn đã toác rộng chừng hai đốt ngón tay, chạy dài cắt đôi mặt đá xám.
Bảy chiếc ghế đá nguyên khối sừng sững xếp thành vòng tròn hướng tâm. Bảy thi hài ngồi thẳng lưng, hai tay từng đan chéo vào nhau nay hơi chùng xuống do rung chấn địa tầng.
Văn dừng lại cạnh chân cầu thang, nhanh chóng đặt chân đế máy đo địa chấn xuống mặt sàn phẳng, mắt dán chặt vào biểu đồ dao động đang nhảy nhót từng vệt nhọn hoắt. Kỳ, Sình và Mẩy bước vào khoảng trống giữa các ghế đá.
“Bắt đầu từ ghế số một,” Kỳ ra hiệu, giọng hạ thấp nhưng đanh gọn.
Cô tiến lại gần thi thể Cố Étienne Moreau an vị từ năm 1931. Khung xương khoác áo chùng thâm lồng thổ cẩm Mông Đen vẫn ngồi ngay ngắn. Sình rút con dao quắm nhỏ bên hông, mũi dao sắc lẹm khẽ lách qua lớp nhựa sáp khô giòn bám chặt quanh cổ tay phải của thi hài.
Lớp sáp ong pha bột chu sa bong ra từng mảng vụn như vỏ cây thông mục. Kỳ đeo găng tay mỏng, cẩn trọng gỡ dải vải lanh xám quấn ba vòng quanh khớp xương khô quắt. Thớ lanh dệt tay thô ráp, mép viền nhuộm chàm đã ngả màu xám tro sau gần một thế kỷ.
Mẩy đứng bên cạnh, soi luồng sáng đèn pin vào mặt trong của dải vải. Những dòng chữ viết bằng mực chu sa đỏ thẫm hiện rõ dưới lớp bụi thời gian “Chữ Latinh và chữ Pháp thời Cố Moreau,” Mẩy thì thầm, giọng khẽ run.
Họ lần lượt di chuyển qua ghế số hai của cụ Giàng A Páo và bốn vị bô lão họ Giàng: Giàng A Lử, Giàng Mí Chá, Giàng A Súa và Giàng Vàng Dơ. Từng dải vải lanh quấn quanh cổ tay phải của các bậc tiền nhân được gỡ ra cẩn trọng. Lớp mô khô quắt hằn sâu những vệt lằn của sợi lanh, minh chứng cho việc họ đã giữ chặt tư thế này suốt nhiều thập kỷ dưới lòng sâu.
Sáu dải vải lanh được trải ngay ngắn lên tấm toan trắng đặt trên sàn đá. Mẩy quỳ một gối, dùng kính lúp cầm tay rà soát từng ký tự. Đôi mắt cô gái mở lớn, bờ môi mím chặt rồi khẽ rung lên:“Chị Kỳ... đây hoàn toàn không phải là những câu niệm chú dị đoan. Mặt trong ghi rõ tên tuổi, dòng tộc, và lời thề của từng người trước trời đất.”
“Em đọc đi,” Kỳ nói, ánh mắt kiên định.
Mẩy hít một hơi sâu, giọng đọc vang lên đều đặn giữa vòm đá lạnh ngắt “Dải thứ hai của cụ Giàng A Páo ghi bằng chữ Mông Đen cổ: ‘Ta là Giàng A Páo, người con của núi đá Mã Tâu. Ta cùng bốn người anh em họ Giàng xin dâng thân xác này cho đất, mượn xương thịt làm chốt cài, mượn ý chí làm dây buộc. Giữ cho vực sâu không mở miệng, giữ cho đá không nuốt nương ngô, giữ cho con cháu ngàn đời sau còn có đất để dựng nhà.’ Các dải của cụ Lử, cụ Chá, cụ Súa, cụ Dơ... đều lặp lại lời thề máu ấy, cam đoan tự nguyện bước vào giấc ngủ vĩnh hằng.”
Mẩy chuyển qua dải vải lanh thứ nhất của Cố Moreau “Phần đầu là dòng lời thề bằng tiếng Latinh cổ: ‘Custodiamus in aeternum’ — Nguyện cùng canh giữ đến muôn đời,” Mẩy dịch nhanh, rồi tiếp tục đọc trọn vẹn đoạn văn tiếng Pháp của Cố Moreau: “‘Trước nhan Chúa và trước sự tĩnh lặng của cao nguyên, tôi xin hòa lời cầu nguyện của mình vào lời thề của những người anh em Mông Đen. Thân xác này ở lại nơi đây để cùng họ gác cổng vực sâu, biến sự sống thành bức tường ngăn cơn thịnh nộ của lòng đất. Nguyện xin bình an cho vùng đất này đến muôn đời.’”
Tiếng đọc của Mẩy dứt, không gian hầm ngầm như lắng xuống. Bản chất của Hội Canh Giữ đã phơi bày trọn vẹn: không có sự mê muội u tối, chỉ có sự cam kết tự nguyện hiến sinh để bảo vệ thung lũng khỏi thảm họa đứt gãy địa chất.
Kỳ quay gót, bước chậm rãi về phía chiếc ghế đá thứ bảy ở hướng bắc.
Trước mắt cô là thi thể của cha — Tiến sĩ Hà Minh Thành. Khác với sáu xác ướp tiền triều, lớp vải lanh nơi cổ tay phải của ông không phủ nhựa chu sa, mà buộc bằng nút thắt kép dã chiến rất chặt — nút thắt nghiệp vụ quen thuộc cha từng dạy cô ngày đầu làm quen với khảo sát thực địa.
Lồng ngực Kỳ thắt lại. Cô quỳ xuống bên cạnh chân ghế đá, tháo chiếc găng tay bên phải.
Đầu ngón tay trần của Kỳ chạm vào thớ vải lanh thô ráp. Vết rách nơi lòng bàn tay cô cấn mạnh vào gờ đá phiến, nhói buốt, nhưng cô không rút tay về. Từng nếp gấp dần được nới lỏng. Mùi tinh dầu pơmu dịu nhẹ, phảng phất chút hương thảo mộc rừng thoảng ra từ cổ tay người cha quá cố.
Dải vải lanh thứ bảy mở ra, không có chữ Latinh hay chữ Mông Đen cổ.
Đập vào mắt Kỳ là những dòng chữ Quốc ngữ viết bằng mực đen ngòi sắt không phai. Nét chữ nghiêng đều, gãy góc dứt khoát — nét bút thân thuộc trên những trang nhật ký điền dã năm 2000, trong từng bức thư gửi về từ vùng biên suốt thời thơ ấu “Tôi nằm lại nơi đây để con gái tôi và mảnh đất này không bao giờ phải chìm vào tăm tối.”
Mặt chữ như nhòe đi trước mắt Kỳ.
Cô quỳ bất động giữa sàn đá lạnh ngắt. Hai mươi năm nghi ngờ, nỗi oán giận âm ỉ vì ngỡ bị cha bỏ rơi, những ngày tháng cô độc đối diện bản báo cáo ngụy tạo ở Sơn La... tất cả tan biến trước hai mươi mốt từ ngắn ngủi này. Cha cô không hề trốn chạy. Ông đã chọn bước xuống mười hai bậc đá này, dùng chính sinh mệnh để thế chỗ vào mắt xích bị khuyết, bảo vệ thung lũng và che chắn cho cuộc đời cô.
Kỳ áp dải vải lanh vào ngực, hai bàn tay run rẩy ghì chặt mảnh vải thô ráp thấm đẫm nét chữ của cha. Mùi dầu pơmu ngấm qua thớ áo, mang lại hơi ấm chở che sau hai mươi năm đằng đẵng cách biệt. Lực siết nơi lồng ngực ép chặt lòng bàn tay phải, máu nơi vết rách dường như ngừng chảy, mép da nơi lòng bàn tay dường như se miệng lại trong sự tĩnh lặng sâu thẳm giữa lòng đất.
Bất chợt, một đợt rung chấn mạnh dội ngược từ vòm trần xuống sàn đá, làm rơi lả tả những mảng vữa vôi mục.
Từ ngoài sân thánh đường, xuyên qua lớp sương mù dày đặc và mười hai bậc đá phiến, tiếng động cơ máy ủi của đoàn thi công đã gầm rú dữ dội. Tiếng xích sắt nghiến trên mặt đá tai mèo rền vang như sấm dậy, báo hiệu hạn chót bốn mươi tám giờ chỉ còn lại vài tiếng ngắn ngủi.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
