Chương 11: Mảnh Ghép Thứ Bảy

Chiếc thìa nhôm nhỏ tuột khỏi ngón tay Văn, rơi cạch xuống đáy ca men, làm nước trà gừng sánh mạnh ra mặt bàn gỗ.

Văn ngồi sững sờ. Đôi mắt sau cặp kính cận gọng đồi mồi mở to, trừng trừng nhìn vào gương mặt xám ngắt của người đồng nghiệp đối diện. Câu nói của Kỳ buông ra mỏng tang nhưng sắc đanh, chém đứt sự tĩnh mịch ngột ngạt đang bao trùm gian phòng chái đông nhà xứ.

“Mày... mày vừa nói cái gì cơ?” Giọng Văn khản đặc, chiếc thìa trong ca nước va vào thành kim loại lách cách khi ngón tay anh run rẩy chạm vào quai cầm. “Xác ướp thứ bảy... là chú Thành?”

Kỳ không chớp mắt. Cô ngồi bất động, hai cẳng tay đặt trên mặt bàn gỗ xù xì, những đốt ngón tay quấn gạc trắng đã rớm vệt máu sẫm. Hàn khí từ vách đá rỉ qua từng khe nẹp cửa, ngấm buốt qua từng thớ vải, nhưng ánh nhìn của cô lại phẳng lặng đến gai người “Tao không hề nhầm. Vết sẹo liền da dài một đốt ngón tay ngang sống mũi, cấu trúc xương hàm dưới hơi lệch về bên trái do chấn thương thời thanh niên, và cả những tính toán giải phẫu trên tấm vải lanh của cụ Páo... Tất cả đều là của cha tao.”

Văn nuốt khan một ngụm nước bọt. Anh đưa bàn tay thô ráp lên đẩy gọng kính, ánh mắt chùng xuống đầy vẻ bàng hoàng xen lẫn tự trách “Thực ra... sáng sớm hôm giám định sơ bộ, lúc anh Quang rọi đèn qua lớp vải lanh xám, tao đã ngờ ngợ khi thấy vết chấn thương sống mũi giống hệt bức ảnh lưu trong hồ sơ năm hai nghìn lẻ hai của Viện. Nhưng bản kết luận chú ngã vực tử nạn ở Sơn La đã nằm im gần hai mươi năm, làm sao tao dám tin người nằm dưới hầm đá này lại là chú...”

Kỳ gạt nhẹ ca trà gừng sang một bên, kéo chiếc hòm sắt tiêu bản về sát mép bàn. Cô mở khóa nắp hòm, lấy ra tập biên bản ghi chép hiện trường cùng các bản sao kết quả soi vi thể mà giám định viên Phan Đức Quang giao lại trước khi rời điểm khảo sát về thị trấn.

“Không chỉ có vết sẹo,” Kỳ nói, giọng đanh lại. “Mày hãy nhìn vào những chỉ số thực chứng này.”

Cô bật công tắc trên thiết bị thu phát vô tuyến dã chiến đặt ở góc bàn. Tín hiệu đường truyền vệ tinh rè rè chốc lát rồi bắt được liên lạc với đầu máy bên thị trấn Đồng Văn. Giọng của Phan Đức Quang vang lên qua loa ngoài, rành rọt giữa đêm thanh vắng “Kỳ đấy à? Tôi vừa hoàn thành loạt kiểm nghiệm đối chứng tại phòng lưu trữ mẫu.”

“Kết quả mẫu mô mềm và lớp dầu bảo quản ra sao rồi anh Quang?” Kỳ hỏi thẳng vào ống thu, không một lời đưa đẩy.

Đầu dây bên kia im lặng mất vài nhịp thở, chỉ có tiếng giấy tờ lật soạt “Rất khác thường, Kỳ ạ. Sáu mẫu mô cổ đều đã khô cứng thành đá, niên đại ngót một thế kỷ. Riêng mẫu mô của thi thể thứ bảy vẫn còn độ đàn hồi của sợi liên kết dưới da. Lớp quét trên vải lanh là tinh dầu pơmu phối trộn với sáp ong rừng, mức độ biến tính cho thấy quá trình tẩm liệm diễn ra vào khoảng mười bảy năm trước, tức là cuối năm hai nghìn lẻ hai.”

Kỳ liếc nhìn Văn. Gương mặt Văn căng cứng dưới ánh sáng hắt ra từ mặt bàn.

“Còn dấu vết giải phẫu thì sao?” Kỳ gặng hỏi tiếp.

“Đúng như nhận định ban đầu,” Quang khẳng định qua thiết bị đàm thoại. “Vết rạch dẫn lưu ở động mạch đùi được thao tác rất sắc gọn theo phương pháp ngoại khoa hiện đại. Người thực hiện nếu không có tay nghề y vụ cao, thì ắt hẳn phải làm theo chỉ dẫn nghiêm ngặt của một người am hiểu sâu về giải phẫu.”“Tôi hiểu rồi. Cảm ơn anh Quang.”

Kỳ bấm nút ngắt kết nối. Gian phòng chái đông rơi lại vào khoảng im ắng, chỉ còn tiếng gió luồn qua khe ngói máng kêu u u như tiếng thở dài từ lòng núi.

Kỳ mở cuốn sổ tay điền dã năm 2000 của cha, lật đến những trang bị xé dở rồi đặt cạnh bản vẽ cuộn da hoẵng của cụ Giàng A Páo. Dưới ánh sáng tập trung của chiếc đèn huỳnh quang cầm tay, từng nét chữ nghiêng quen thuộc của Tiến sĩ Hà Minh Thành hiện lên rõ mồn một bên cạnh các đồ hình bát giác.

“Mày nhìn đi, Văn,” Kỳ miết ngón tay lên mặt giấy toan. “Năm một chín một hai, Cố Moreau và cụ Páo lập Hội Canh Giữ, dùng năm sinh mệnh của các bô lão họ Giàng trấn áp khe nứt nhưng để khuyết ghế thứ bảy cho “kẻ sẽ đến sau”. Cố Moreau mất năm một chín ba mốt, ngồi vào ghế số một. Suốt bảy mươi năm sau đó, vị trí thứ bảy vẫn trống trơn, khiến mạch giữ suy yếu dần.”

Văn gật đầu, vầng trán nhíu chặt “Tháng Chín năm hai nghìn, chú Thành đọc tài liệu mật của trường Viễn Đông Bác Cổ rồi một mình lên Mã Tâu...”

“Không chỉ khảo sát,” Kỳ tiếp lời, thanh âm đanh thép. “Cha tao nhận ra khe nứt đang cựa mình. Nếu không có một người mang ý thức thế chỗ vào chiếc ghế trống, luồng hạ âm sẽ xé toạc thung lũng. Cuối năm hai nghìn lẻ hai, biết bệnh phổi nan y vô phương cứu chữa, cha tao đã chủ động bước xuống hầm mười hai bậc đá. Ông không hề ngã vực ở Sơn La. Ông tự vạch thông số dẫn lưu cho thi thể mình, để người bản địa tẩm liệm bằng dầu pơmu rồi ngồi vào ghế thứ bảy, dùng chính sinh mệnh để khóa miệng vực... và bảo vệ tao.”

Sự thật tr*n tr** phơi bày khiến gian phòng chái đông như bị rút cạn dưỡng khí.

Văn lặng người. Mười năm công tác cùng nhau, anh chỉ quen với một Hà Giang Kỳ lạnh lùng, luôn dựng vách ngăn với mọi người. Giờ đây, nhìn đôi vai gầy kìm nén và bàn tay quấn gạc rớm máu của cô, Văn thấu hiểu nỗi đau đớn bị bỏ rơi suốt hai mươi năm mà cô phải gánh chịu.

Anh vươn tay qua bàn, ngập ngừng rồi phủ bàn tay ấm áp lên mu bàn tay lạnh buốt của Kỳ. Lần này, Kỳ không rút tay lại.

“Kỳ này,” Văn trầm giọng. “Hai mươi năm qua, mày sống trong nỗi đau nghĩ rằng chú nhẫn tâm bỏ rơi gia đình. Mày chôn chặt nỗi hờn tủi đó để gồng mình tồn tại. Nhưng hôm nay, mọi thứ đã rõ ràng.”

Văn nhìn thẳng vào mắt Kỳ, kiên định “Tao gạt bỏ hết mọi quy chế hành chính lẫn nỗi sợ kỷ luật. Tao cũng không bận tâm hạn chót của ban chỉ huy mở đường nữa. Chú Thành đã dâng hiến cả tính mạng cho mảnh đất này, chúng ta không thể để họ dùng thuốc nổ phá hủy căn hầm. Tao sẽ sát cánh cùng mày đến cùng. Chúng ta sẽ đưa sự thật ra ánh sáng.”

Một thoáng chấn động khẽ lướt qua đôi mắt nâu sẫm của Kỳ. Bờ môi cô mím chặt, đầu ngón tay khẽ siết lại trong lòng bàn tay Văn như một lời giao kết thầm lặng.

Đêm càng khuya, cái buốt giá cao nguyên càng ngấm sâu qua thớ áo. Ngoài cửa gỗ, bóng ngôi nhà thờ đá Mã Tâu sừng sững in trên nền trời mù sương, câm lặng như một nhân chứng thế kỷ.

Kỳ rút tay về, kéo cuốn sổ công tác dã chiến lại gần. Lòng bàn tay phải nhói buốt, vệt máu mới rỉ qua lớp gạc mỏng thấm một chấm đỏ lên góc giấy trắng. Nén cơn đau, ngón tay cô ghì chặt chiếc bút chì bấm, viết từng nét chữ đanh thép “Cha không hề bỏ rơi tôi; cha đã chọn làm người canh giữ thứ bảy, và người nắm giữ bí mật của ông chính là Linh mục Phúc.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.