Chương 10: Dấu Vết Năm 2000
Ánh đèn cực tím rọi vào góc mép tấm vải lanh cổ, nhuộm lên dòng chữ ký hiệu một sắc xanh lơ lạnh buốt. Bút tích “H.M.T — 18/09/2000” với hai nét gạch chân kép chếch ngược như vết dao khắc sâu vào tâm trí Kỳ.
Qua lớp cao su mỏng của chiếc găng tay dã chiến, đầu ngón tay Kỳ cứng đờ trên mặt bàn gỗ. Không gian phòng tối chái đông nhà xứ đặc quánh hơi lạnh, chỉ còn âm thanh hơi thở ngắt quãng đè nặng nơi lồng ngực cô. Suốt hai mươi năm qua, ký ức về buổi sớm mùa thu năm 2000 vẫn luôn đóng đinh trong tâm khảm đứa trẻ mười tuổi: bóng lưng người cha quẩy chiếc ba lô bạt bạc màu rời khỏi căn ngõ nhỏ ở Hà Nội, lời hứa sẽ trở về sau chuyến điền dã ngắn ngày, rồi chuỗi ngày bặt vô âm tín trước khi nhận bản kết luận lạnh lùng khẳng định ông tử nạn do trượt chân ngã xuống vực sâu ở Sơn La.
Bản báo cáo ấy hoàn toàn là một lời dối trá.
Tiến sĩ Hà Minh Thành chưa từng bỏ mạng dưới đáy vực Sơn La vào năm ấy. Ông đã đặt chân lên mỏm đá Mã Tâu này vào đúng ngày mười tám tháng chín năm 2000, tự tay đo vẽ tọa độ và ghi lại những sơ đồ giải phẫu thần kinh tỉ mỉ lên tấm vải lanh của người canh giữ.
Kỳ tắt công tắc đèn cực tím. Vệt sáng xanh lơ vụt biến mất, trả lại căn phòng cho bóng mờ nhờ nhợ hắt ra từ ngọn đèn bão đặt góc bàn. Cô cẩn thận cuộn tấm vải lanh vào lớp da hoẵng, dùng sợi gân thú buộc chặt lại rồi cất sâu vào ngăn đáy chiếc hòm sắt đựng tiêu bản hiện trường. Lòng bàn tay phải của cô khẽ co rút; vết rách dưới lớp gạc băng dường như đang nhói buốt theo từng nhịp đập của mạch máu.
Không thể chờ đợi thêm một khắc nào nữa. Kỳ cần một câu trả lời dứt khoát từ nơi xuất phát điểm của bản báo cáo tử nạn năm xưa.
Cô kéo chiếc va ly nhựa chống sốc màu cỏ úa từ gầm bàn ra, mở bốn chốt khóa kim loại. Bên trong là tổ hợp máy liên lạc vệ tinh dã chiến — thiết bị độc lập duy nhất có thể bắt sóng xuyên qua những dải núi đá vôi sừng sững của vùng cao nguyên. Kỳ dựng ăngten định hướng về phía bầu trời qua ô cửa sổ hẹp, gạt công tắc nguồn. Đèn tín hiệu màu hổ phách nhấp nháy, phát ra những tiếng rè rè ngắt quãng của sóng vô tuyến đang dò tìm vệ tinh địa tĩnh.
Khi đèn báo chuyển sang sắc xanh lục ổn định, Kỳ nhấc ống nghe bằng nhựa đen bóng, bấm dãy số đặt tại phòng làm việc riêng ở nhà của Giáo sư Phạm Đình Khang tại Hà Nội. Giáo sư Khang từng là bạn đồng sự thân thiết nhất của cha cô, người từng giữ trách nhiệm quản lý hồ sơ lưu trữ và sau đó phụ trách tổ công tác điền dã của Viện suốt nhiều năm.
Tiếng tút dài vang lên khô khốc qua màng loa, vọng lại sự cô quạnh giữa đêm khuya vùng núi. Sau hồi chuông thứ năm, đầu dây bên kia phát ra tiếng sột soạt của chăn đệm, tiếp đến là một giọng nói khàn đặc vì ngái ngủ nhưng lập tức chuyển sang cảnh giác “Alo... Tôi nghe đây. Ai gọi vào giờ này?”
“Cháu là Giang Kỳ đây, thưa chú Khang.” Kỳ lên tiếng, thanh âm phẳng lặng đến sắc lạnh.
Một khoảng lặng bất ngờ kéo dài bên kia đường truyền. Tiếng thở của vị giáo sư già dường như khựng lại giữa chừng. Phải mất một thoáng chần chừ, giọng ông mới cất lên, có phần ngập ngừng “Kỳ đấy à? Cháu đang ở Mã Tâu đúng không? Văn có báo về tình hình khảo sát sơ bộ chiều qua... Đêm hôm thế này có việc gì khẩn cấp mà phải dùng đến đường truyền vệ tinh?”
Kỳ siết chặt thân ống nghe, các khớp ngón tay trắng bệch ra “Cháu vừa tìm thấy bút tích của cha cháu. Ngay tại căn hầm ngầm dưới nhà thờ đá Mã Tâu. Chữ viết bằng mực huỳnh quang chống ẩm, ghi rõ ngày mười tám tháng chín năm 2000.”
Đầu dây bên kia hoàn toàn im bặt. Chỉ còn tiếng xào xạc của tạp âm đường truyền như gió rít qua rặng thông già.
“Chú Khang,” giọng Kỳ hạ thấp, đanh và lạnh như phiến đá ngoài sân, “năm hai nghìn, cơ quan thông báo cha cháu đi công tác Sơn La rồi mất tích, đến năm hai nghìn lẻ hai thì lập hồ sơ xác nhận tử nạn do rơi vực. Nhưng tại sao tên ông, chữ viết của ông và những tính toán giải phẫu của ông lại nằm ở đây, trên đồ hình của người canh giữ hầm đá?”
Một tiếng thở dài nặng nhọc, đượm vẻ bất lực vang lên qua ống nghe. Tiếng cốc nước va nhẹ vào mặt bàn gỗ ở đầu dây bên kia cho thấy vị giáo sư già đã ngồi dậy.
“Cháu... đã nhìn thấy nó rồi sao?” Giọng ông Khang run rẩy, những âm tiết chùng xuống như thể gánh nặng chôn chặt bấy lâu bị xới tung. “Chú từng hy vọng cháu sẽ không bao giờ phải bước chân đến mảnh đất đó.”“Cháu cần sự thật,” Kỳ cắt ngang, dứt khoát không để cảm xúc làm mềm đi lời nói. “Ai đã đưa cha cháu đến đây? Và tại sao Viện lại làm giả bộ hồ sơ tử nạn ở Sơn La?”
“Không ai ép ông Thành cả, Kỳ à,” tiếng ông Khang trầm đục, từng lời nhả ra chậm chạp. “Mùa thu năm hai nghìn, trong quá trình phân loại kho lưu trữ văn bản cũ thời thuộc địa chuyển giao lại, bố cháu vô tình tiếp cận một tập tài liệu mật của Viện Viễn Đông Bác Cổ viết năm một chín ba tư. Bản ghi chép đó nhắc đến căn hầm bát giác ở Mã Tâu và hiện tượng rung chấn lòng đất mà người Pháp gọi là ‘hơi thở của đá’. Ông Thành nhận ra sự nguy hiểm khôn lường nếu tầng địa chất ấy bị phá vỡ. Ông ấy không báo cáo lên hội đồng, mà âm thầm gom hết tài liệu liên quan, một mình đón xe ngược lên Hà Giang.”
Kỳ mím chặt môi, nghe tiếng gió rít bên ngoài cửa vách gỗ “Vậy còn cơ quan? Mọi người để ông ấy biến mất như thế?”
“Khi nhận ra ông Thành rời đi cùng tập tài liệu, Viện đã cử hai nhóm bí mật ngược lên Đồng Văn tìm kiếm,” ông Khang nói, giọng chùng xuống đầy ân hận. “Nhưng ông ấy đã cắt đứt hoàn toàn liên lạc, xóa sạch mọi dấu vết. Suốt hai năm trời, chúng ta không có một tin tức nào từ ông ấy. Đến cuối năm hai nghìn lẻ hai, một nguồn tin đặc biệt từ vùng biên giới gửi về thông báo... Tiến sĩ Hà Minh Thành đã qua đời tại Mã Tâu.”
“Qua đời thế nào? Ai gửi tin?”
“Bản thông tri được niêm phong từ cấp thẩm quyền cao nhất,” vị giáo sư già đáp, giọng cay đắng. “Nội dung chỉ vỏn vẹn mấy dòng: nhà nghiên cứu đã cống hiến thân mình cho sự an toàn của địa bàn biên ải, thi hài không thể hồi hương do yêu cầu bảo tồn nguyên trạng hiện trường. Để bảo đảm trật tự, tránh những đồn đoán hoang mang về địa tầng biên giới và bảo vệ cháu khỏi những rắc rối hay sự dòm ngó nguy hiểm, cấp trên đã chỉ đạo đóng lại cuộc điều tra dang dở bằng một bộ hồ sơ ngụy tạo. Kết luận ông Thành tử nạn do trượt chân ngã vực trong chuyến điền dã ở Sơn La... chỉ nhằm mục đích khép lại sự việc một cách danh chính ngôn thuận trên giấy tờ lưu trữ.”
Từng câu từng chữ như lưỡi dao cạo bóc trần hai mươi năm dối trá mà Kỳ phải gánh chịu. Đứa trẻ mười tuổi ngày nào đã lớn lên trong nỗi đau bị bỏ rơi, trong sự hoài nghi dày vò về cái chết không một manh áo liệm của cha, để rồi hôm nay nhận lại một sự thật tàn nhẫn: cha cô chưa từng ngã vực ở một xó xỉnh xa lạ nào. Ông đã chủ động chọn ở lại nơi này, biến mất khỏi cuộc đời cô để bước vào một giao ước thầm lặng với đá.
“Tại sao chú lại giấu cháu suốt ngần ấy năm?” Kỳ hỏi, giọng nói khô khốc, không còn chút hơi ấm.
“Đó là quy chế bảo mật đặc biệt, và cũng là... lời khẩn cầu cuối cùng của bố cháu trong mẩu giấy để lại trước khi đi,” ông Khang thở dài nghẹn ngào. “Ông ấy dặn lại: ‘Đừng bao giờ để con bé Kỳ dính líu đến Mã Tâu. Hãy để nó sống một cuộc đời bình yên.’ Nhưng số phận dường như không buông tha dòng họ các cháu. Kỳ này, nếu cháu đang ở đó... hãy cẩn trọng. Căn hầm đó không phải là nơi dành cho người sống.”
Kỳ không trả lời. Cô từ từ hạ tay xuống, ngắt đường truyền. Ống nghe rơi cạch lên giá đỡ kim loại.
Đèn tín hiệu trên máy vệ tinh lịm dần rồi tắt ngấm. Màn đêm trong gian phòng chái đông lại sụp xuống, tĩnh mịch đến mức nghe rõ tiếng gió lùa qua từng thớ đá tai mèo bên ngoài tường nhà thờ. Kỳ đứng bất động cạnh bàn làm việc. Cô không khóc, không có một giọt nước mắt nào rơi xuống. Đôi mắt nâu sẫm mở trừng trừng nhìn vào khoảng không mờ tối, hai bờ vai gầy run lên từng cơn kìm nén trước sự thật nghiệt ngã đang đè nặng lồng ngực.
Cánh cửa gỗ chái đông khẽ kẹt mở.
Trần Minh Văn bước vào, bước chân cẩn trọng không gây ra tiếng động lớn trên nền đá phiến. Trên tay anh là một chiếc ca men bốc khói nghi ngút, thoang thoảng mùi gừng tươi giã dập quyện với hương chát nồng của trà búp sao suốt. Văn nhìn quanh gian phòng, ánh mắt lướt qua tổ hợp máy liên lạc vệ tinh vừa tắt nguồn, rồi dừng lại trên gương mặt trắng bệch, vô hồn của Kỳ.
Anh không gặng hỏi một lời nào về cuộc gọi lúc nửa đêm. Văn lặng lẽ tiến lại, đặt chiếc ca men nóng xuống mặt bàn gỗ ngay trước tầm tay cô, rồi kéo chiếc ghế đối diện ngồi xuống trong sự cảm thông sâu sắc. Nhìn vẻ thất thần cùng đôi bàn tay nắm chặt đến run rẩy của cô, ánh mắt Văn lộ rõ sự thấu hiểu và xót xa trước những rạn nứt tinh thần mà cô đang phải trải qua.
Hơi nóng từ ca nước bốc lên phả vào mi mắt cay xè của Kỳ, nhưng không thể xua đi luồng hàn khí dường như đã ngấm sâu vào tủy sống.
Kỳ ngẩng lên nhìn Văn, giọng đanh lại nghẹn ngào “Họ đã lừa tao suốt hai mươi năm qua, và xác ướp thứ bảy dưới căn hầm đó... chính là cha tao.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
