Chương 3: Hương Men Nếp Non

Đêm lạnh ở trấn Lạc Thủy trôi qua trong tiếng dế rả rích bên bờ sông. Khi canh năm vừa điểm, sương mù còn giăng mắc bảng lảng trên những ngọn cau đầu ngõ, Diệp Khắc Khiêm đã rời giường, khoác lên mình tấm áo vải thô màu nâu sồng quen thuộc.

Trời vừa tang tảng sáng, sương mù từ dòng sông Lạc còn giăng mắc bảng lảng trên những ngọn cau đầu ngõ, Diệp Khắc Khiêm đã rời giường, khoác lên mình tấm áo vải thô màu nâu sồng quen thuộc. Chiếc khăn lau mồ hôi vắt hờ trên vai, đôi bàn tay nhuộm màu nước chàm chai sần khẽ vặn mở cánh then tre dẫn ra hậu viện.

Phía sau lưng ông, Diệp Thanh Nhàn trong chiếc yếm chàm thắt dải lụa xanh gọn gàng, tay xách chiếc làn mây đựng mấy vò nước tro rơm nếp mục, thoăn thoắt bước theo cha. Không khí sớm mai lạnh se sắt, nhưng vừa chạm chân xuống khoảng sân đất nện phẳng lì, mùi ngai ngái nồng đượm quen thuộc của lá chàm đã xộc vào cánh mũi, ấm áp và thân thương.

Dãy ba mươi sáu chiếc chum sành cổ truyền chôn nửa mình dưới đất đứng lặng lẽ thành bốn hàng ngay ngắn, nắp đậy bằng mê rổ đan mắt cáo phủ rơm rạ cẩn thận để chắn bụi mà vẫn giữ cho men thở. Khắc Khiêm bước đến hàng chum ở giữa, nơi đặt ba chiếc chum đầu đàn gánh vác toàn bộ mẻ men chủ lực của đợt tiến cống.

“Nhàn này,” Khắc Khiêm cất giọng trầm rành rẽ, cúi người gỡ chiếc nắp đậy đan bằng tre cật của chiếc chum lớn ở giữa, “gây men chàm kỵ nhất là hấp tấp. Con học cách xem nước trước hết phải dùng cái mũi, sau mới đến con mắt.”

Nói đoạn, ông với tay lấy chiếc gáo dừa có cán tre dài cắm ở mé giàn, khẽ khàng lướt nhẹ mặt nước sẫm màu. Bọt nước lăn tăn lay động, để lộ làn nước sánh đậm màu xanh đen tựa ngọc bích ẩn mình dưới lòng chum. Khắc Khiêm múc lên nửa gáo nước men, đưa ngang tầm ngực, nhắm mắt hít một hơi thật sâu. Một hương thơm dịu ngọt, ngai ngái thanh sạch, phảng phất men say như mùi rượu nếp cái hoa vàng ủ non quyện chặt vào đầu mũi.

“Hương men thuần lắm, không gắt, không nồng chua,” Khắc Khiêm mỉm cười, đôi mắt lộ rõ vẻ nhẹ nhõm sau những ngày thấp thỏm lo âu vì hịch lệnh của quan Trấn thủ. Ông nghiêng cán gáo đưa sang cho con gái, “Con ngửi thử xem, nếu nước men còn non thì mùi hăng hắc của lá cây vẫn lấn át; nếu thừa vôi thì mùi khét lẹt xộc thẳng lên trán. Chỉ khi men ngấu vừa độ, nó mới dậy hương nếp đượm như thế này.”

Thanh Nhàn đón lấy chiếc gáo dừa, cẩn thận hít một hơi rồi reo khẽ “Thưa cha, đúng là mùi thơm ngọt của rượu nếp mẹ nấu dịp Tết! Cha nhìn này, dưới ánh mặt trời vừa rọi qua kẽ lá bưởi, bọt chàm nổi lên sắc tím biếc ánh kim lấp lánh!”

Cô gái mười tám tuổi chỉ ngón tay thon nhỏ về phía vành gáo dừa. Những bọt khí li ti tụ lại thành từng cụm nhỏ xốp mịn, óng ánh sắc tím tựa như cánh hoa lục bình non phơi mình dưới nắng sớm. Men mẹ của ba chiếc chum chủ lực, đặc biệt là chum số bảy đặt sát mé rãnh thoát nước, đang ở vào thời kỳ sung mãn nhất. Với độ men này, chỉ cần qua vài lượt điều phối nước tro mục, từng thước lụa mộc dìm xuống sẽ ngậm no sắc biếc mà không sợ phai bạc qua mưa nắng phong sương.

“Tốt lắm,” Khắc Khiêm gật đầu hài lòng, đón lại chiếc gáo dừa rồi dặn dò, “Mẻ lụa tiến cống lần này gánh vác thanh danh trăm năm của Diệp gia. Chiều nay, đợi nắng đứng bóng, con giúp cha chắt thêm nửa vò nước tro rơm nếp mục hòa vào. Nhớ chắt qua ba lớp vải màn, đừng để một hạt tàn tro nào lọt xuống đáy chum làm đục cốt men.”

“Dạ, con nhớ kỹ lời cha dặn.” Thanh Nhàn ngoan ngoãn đáp lời, cẩn thận đậy lại chiếc nắp tre.

“Hai cha con chú Khiêm dậy sớm thế nhỉ? Chăm chút tỉ mẩn thế này, thảo nào mẹ cứ khen chú khéo tay nhất nhà!”

Một giọng nói vồn vã, hào sảng bất chợt vang lên từ phía cổng ngách lát gạch dẫn sang chái tây. Khắc Khiêm ngẩng đầu lên, thấy anh trai Diệp Thừa Tông đang sải bước đi tới. Hôm nay Thừa Tông mặc chiếc áo the màu xanh lá dong mát mắt, tay cầm chiếc quạt giấy gấp mép ngà voi, trên môi nở nụ cười tươi tắn lạ thường. Tuy nhiên, sắc mặt ông ta hơi tái, quầng mắt thâm quầng như thể đã thức trắng trọn vẹn một đêm dài.

Thanh Nhàn vội nghiêng mình vòng tay “Cháu chào bác cả ạ.”“Ừ, cháu Nhàn ngoan lắm,” Thừa Tông xua tay, ánh mắt lướt vội qua cô cháu gái rồi dừng lại trên ba mươi sáu miệng chum sành, vẻ bồn chồn khó giấu hiện lên nơi khóe mắt, “Chú Khiêm này, tôi lo việc giấy tờ xuất nhập tơ lụa ngoài phố mấy hôm nay sốt cả ruột. Nghĩ đến kỳ hạn hai mươi ngày của phủ Trấn thủ mà đêm qua trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Sáng nay rỗi việc, tôi tạt qua xem thử xem mẻ men cống phẩm tiến triển ra sao rồi.”

Thấy anh trai vốn quanh năm chỉ mải mê sổ sách và giao thiệp ngoài quán trà nay lại đích thân xuống tận xưởng bùn đất quan tâm việc nhà, Khắc Khiêm trong lòng dâng lên niềm cảm kích chân thành. Ông vội lau tay vào vạt áo thô, bước tới niềm nở “Cảm phiền anh cả nhọc lòng lo lắng. Ơn trời phật và phúc ấm tổ tiên, ba dãy chum men mẹ của xưởng dưới này đang độ ngấu đẹp nhất. Anh xem, bọt nổi tím biếc ánh kim, thơm lừng hương nếp.”

Thừa Tông bước tới gần mép chum sành, giả vờ cúi đầu nhìn ngắm, nhưng đôi mắt đảo quanh liên hồi, săm soi từng vị trí của dãy chum chủ lực. Bàn tay giấu sau ống tay áo the rộng khẽ siết lại, giọng ông ta ngập ngừng “Thế... thế bí quyết giữ cho cái men này nó bền màu, không bị biến tính là nhờ vào đâu hả chú? Tôi buôn bán tơ lụa bấy lâu, chỉ biết mua đi bán lại, chứ ngón nghề của tiên tổ truyền lại cho chú, tôi chẳng tường tận mấy.”

Khắc Khiêm thật thà, chẳng mảy may nghi ngờ chút dã tâm nào đang âm ỉ giấu kín trong nụ cười của anh ruột. Ông kéo Thừa Tông lại gần chiếc vò sành đựng nước tro, nhiệt tình giải thích “Dạ, thưa anh cả, cốt lõi chính là ở vò nước tro rơm nếp mục này đây ạ. Rơm nếp sau mùa gặt phải phơi đủ ba nắng giòn, đốt lấy tro mịn rồi ủ chum nước mưa qua nửa tuần trăng để lắng trong. Thứ nước tro ấy có vị chát nhẹ tự nhiên, vừa khéo giữ được cái nồng đượm để nuôi con men sống khỏe khoắn. Nếu thiếu nước tro mục, men sẽ lạt lẽo không bắt màu; nhưng nếu người làm vụng trộm hay bất cẩn, để lẫn một nhúm tạp chất lạ hay vôi sống chưa ngấu vào, thì tính nóng của nó sẽ đốt cháy sạch mầm men, nước sẽ sủi bọt xám xịt mà chết ngay tức khắc.”

Thừa Tông nghe đến hai chữ “vôi sống” thì sống lưng khẽ lạnh toát, bàn tay run lên khiến chiếc quạt ngà suýt rơi xuống đất. Ông ta vội gượng cười, tằng hắng một tiếng để che giấu nỗi chột dạ “À... ra là vậy. Nghề nhuộm quả thực công phu, sai một ly là hỏng cả mẻ lụa lớn.”

Thừa Tông vừa nói vừa chậm rãi dời gót chân, vờ như vô tình bước men theo lối đi hẹp lát gạch nghiêng giữa các hàng chum. Ông ta dừng lại ngay trước chiếc chum số bảy – chiếc chum lớn nhất nằm nép sát bức tường hoa và rãnh thoát nước ngầm rải sỏi. Đôi mắt đầy dao động của Thừa Tông kín đáo liếc nhìn then sắt cài rãnh nước bằng gang đã hoen rỉ bên dưới, rồi ngước lên đánh giá chiếc nắp mê tre nặng trịch.

“Thế chiếc chum số bảy này... là chiếc men mẹ tốt nhất đấy à chú Khiêm?” Thừa Tông buột miệng hỏi, giọng hơi run rẩy, “Nắp đậy đan bằng tre cật thế này có vẻ nhẹ, gió to hay mưa giông đêm hôm liệu có bị lật tung ra không?”

Khắc Khiêm cười xòa, bước tới vỗ nhẹ lên bờ miệng chum sành dày dặn “Anh cả khéo lo xa. Nắp đan mắt rổ tuy nhẹ nhưng bên trên em luôn chèn thêm một thanh gỗ lim chặn ngang, lại có rãnh thoát nước ngay cạnh nên nước mưa không bao giờ ngập vào được đâu ạ.”

“Ừ... cẩn thận thế thì tốt... rất tốt...”

Thừa Tông lẩm bẩm gật đầu, ánh mắt một lần nữa liếc thật kỹ rãnh thoát nước phủ đầy rong rêu dưới chân then sắt, ghi nhớ từng lối đi lối rẽ rồi vội vã thu quạt lại, rảo bước thoăn thoắt ra phía cổng ngách như thể sợ mùi hương nồng đượm của nước chàm sẽ vạch trần tâm can mình.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.