Chương 16: Hai Mươi Mốt Lượt Nhúng
Lời dặn rành rẽ của bà nội dưới ánh trăng rằm như hồi chuông xua tan đi màn u uất nặng nề từng đè nặng lên Diệp gia suốt nửa tháng qua. Đêm ấy, Diệp Thanh Nhàn gần như không chợp mắt. Mùi thơm ngai ngái nồng đượm của men chàm sống lại tựa hồ ngấm vào từng nhịp thở, giục giã cô bé mười tám tuổi thức dậy từ khi tiếng gà gáy canh tư còn chưa kịp cất lên trên rặng tre đầu ngõ.
Thời hạn khảo hạch của quan Trấn thủ chỉ còn vỏn vẹn bốn ngày. Khu sân phơi rộng thênh thang và gian hậu viện của phường nhuộm Ngũ Nhã bừng lên không khí làm việc rực lửa và khẩn trương chưa từng thấy.
Trên chiếc sập gụ đặt nơi hiên rộng nhìn ra sân phơi, Lão thái quân Diệp Thục Đoan ngồi thẳng lưng, tay lần từng đốt gậy trúc, đôi mắt tinh tường lặng lẽ dõi theo từng bước chân của con cháu. Ngay giữa sân, những hàng sào tre ngà thẳng tắp đã được lau sạch bóng sương đêm, sẵn sàng đón nhận những dải lụa mộc dệt từ tơ tằm Bảo Lộc trứ danh.
Thanh Nhàn xắn cao hai ống tay áo chàm, buộc gọn dải yếm lụa sau lưng, cẩn trọng bưng chiếc nong tre đựng cuộn lụa mộc trắng ngà tiến về phía miệng chum số bảy. Bên cạnh cô, cha cô – Diệp Khắc Khiêm – đang cùng Diệp Thừa Tông dùng dầm gỗ khuấy nhẹ lớp bọt tím biếc ánh kim. Men chàm sau một đêm ngậm trọn hơi ấm lò than củi dẻ nay bừng lên sung mãn, dâng từng lớp bọt mịn màng như nhung.
“Nhàn, lại đây con.” Khắc Khiêm ngoảnh lại, giọng ông trầm ấm mà rành rẽ. “Muốn nhuộm được sắc xanh biếc của tổ tiên, trước hết phải hiểu tính nết của tấm lụa tơ tằm và lòng chum chàm mẹ. Lụa Bảo Lộc sợi mảnh mà dẻo dai, nếu vội vã dìm mạnh sẽ làm gãy nếp tơ. Phải nương theo làn nước.”
Thanh Nhàn gật đầu thật khẽ, đưa mắt nhìn sang bác cả. Dù mắt cá chân phải vẫn còn sưng tấy sau tai nạn cứu kho lá hôm giông bão, bước đi còn tập tễnh, nhưng Diệp Thừa Tông không hề ngồi nghỉ một khắc nào. Ông cẩn thận đỡ lấy một đầu mép lụa mộc, phối hợp nhịp nhàng cùng Khắc Khiêm.
Hai người đàn ông – một ngăm đen sương gió, một vừa trút bỏ vẻ hào nhoáng để khoác lên mình manh áo thô nâu sồng – cùng nhau từ từ hạ dải lụa dài vào lòng chum chàm mẹ. Thanh Nhàn đứng bên, hai bàn tay khẽ giữ lấy phần thân lụa để dải tơ không bị xoắn vặn.
Lụa mềm mại lặn sâu dưới đáy chum sành thẫm đượm. Từng thớ tơ tằm chìm trong nước men đặc sánh, uống trọn tinh chất của nước tro rơm nếp nương và men rượu nếp cẩm. Khắc Khiêm thắp một nén hương nhỏ c*m v** ống tre bên cạnh chum để tính thời khắc.
“Ngâm đủ một tuần hương, không được thừa một khắc, cũng chẳng được thiếu nửa phần nhang,” Khắc Khiêm căn dặn, ánh mắt chăm chú nhìn tàn tro đỏ rực rơi xuống. “Ngâm non thì hạt chàm chưa kịp bám vào ruột tơ; ngâm già quá thì chất tro làm se mặt vải.”
Khi tàn hương vừa rụng trọn vẹn, Khắc Khiêm và Thừa Tông cùng luồn tay xuống đáy chum, nhẹ nhàng nâng dải lụa lên khỏi mặt nước sánh đặc. Nước chàm chảy róc rách qua kẽ ngón tay, róc dần xuống miệng chum.
Thanh Nhàn nín thở nhìn vào tấm vải ướt sũng. Khác hẳn với màu chàm tím biếc trong chum, dải lụa vừa vớt lên lại mang một sắc vàng ánh xanh kỳ lạ, nhàn nhạt và ngỡ như lạc điệu. Cô thoáng ngỡ ngàng, đôi mắt mở to “Cha ơi, sao lụa lại ngả màu vàng úa thế này?”
Khắc Khiêm khẽ mỉm cười, còn Thừa Tông đứng bên cạnh thì khẽ cất lời, giọng trầm lắng mang đầy vẻ chiêm nghiệm “Cháu đừng vội lo. Ngày xưa ông nội dạy bác, sắc chàm giấu mình kín đáo lắm. Nó cần gió của trời, nắng của đất thì mới chịu mở lòng.”
Quả đúng như lời người bác cả, khi hai anh em vắt nhẹ tay cho ráo bớt nước rồi cùng Thanh Nhàn mang dải lụa trải rộng trên sào tre ngà, một điều kỳ diệu đã diễn ra ngay trước mắt cô gái trẻ. Ngọn gió sớm từ dòng sông Lạc thổi thốc vào khoảng sân phơi, mang theo hơi ẩm tinh khiết và ánh nắng ban mai rực rỡ rọi xuống từng sợi tơ.Chỉ trong chớp mắt, sắc vàng ánh xanh nhàn nhạt trên mặt lụa bắt đầu biến chuyển. Nó thẫm dần lại, chuyển sang sắc xanh đọt chuối non, rồi rất nhanh sau đó hóa thành màu lam biếc dịu dàng, óng ả dưới ánh mặt trời tựa như có bàn tay vô hình vừa phết lên một lớp men ngọc bích. Thanh Nhàn thốt lên khe khẽ, ngón tay run run chạm vào vạt lụa mát rượi, lòng tràn ngập niềm khâm phục khôn xiết đối với ngón nghề trăm năm của tiên tổ.
“Đây mới chỉ là lượt nhúng non đầu tiên thôi con,” Khắc Khiêm bước tới bên con gái, vừa thoăn thoắt vuốt phẳng nếp vải trên sào tre vừa từ tốn giảng giải. “Bí quyết giữ tiếng cho phường nhuộm Ngũ Nhã nằm ở chỗ: phải nhúng đi vắt lại đủ hai mươi mốt lượt nước chàm từ non đến già. Mỗi một lượt nhúng xong đều phải đợi lụa ráo hẳn sương gió, ngậm no ánh nắng rồi mới đem nhúng tiếp lượt sau. Lượt non mở đường cho hạt chàm chui vào lõi tơ; lượt già kết đọng sắc thắm; lượt cuối khóa chặt màu xanh vào xương tơ tủy lụa. Nhờ thế, dải lụa Diệp gia dẫu dầm mưa dãi nắng trăm năm cũng không hề phai sắc.”
Nghe lời cha, Thanh Nhàn khắc sâu từng lời vào tâm khảm. Những ngày tiếp theo, hậu viện Diệp gia quay cuồng trong nhịp lao động miệt mài mà tĩnh tại.
Từ lượt nhúng thứ năm, thứ mười, rồi đến thứ mười lăm, tấm lụa tơ tằm cứ thế đậm dần lên. Cứ sau mỗi lượt ngâm trong chum men rồi đem phơi gió, sắc xanh lại thẫm thêm một bậc, từ màu lam khói nhạt chuyển sang màu da trời mùa thu, rồi lắng sâu thành màu biếc thẳm của rặng núi Yên Sơn sau cơn mưa ngâu.
Thanh Nhàn theo sát từng bước chân của hai người đàn ông. Cô nhận ra một sự thay đổi sâu sắc ở người bác cả. Thừa Tông không còn bóng dáng của một kẻ hào hoa rỗng tuếch, thích xun xoe áo the hoa mỹ ngày nào. Ông khập khiễng gánh từng thùng nước giếng trong vắt để tráng lại vải sau mỗi lần phơi khô, cẩn thận nâng niu từng vạt vải ướt với vẻ mặt thành kính lạ thường. Đôi bàn tay vốn quen lần chuỗi hạt ngọc bích nay đã nhuốm một màu chàm xanh thẳm rửa không sạch, những vết trầy xước vì cọ xơ mướp đáy chum nay in hằn những vệt xanh lam tựa hệt đôi bàn tay của cha cô và bà nội.
Nhìn bác cả quỳ gối bên chậu gỗ, nâng vạt lụa lên áp nhẹ vào má để kiểm tra độ mịn của sợi tơ, khóe mắt Thanh Nhàn chợt cay xè vì xúc động. Những vết nứt toác vì lòng tham và cờ bạc đã được giọt mồ hôi chân chính của sự hối cải hàn gắn lại. Nếp nhà gia phong, cốt nhục thuận hòa mà bà nội hằng mong mỏi đã thực sự trở lại dưới mái nhà ba gian hai chái này.
Đến xế chiều ngày thứ tư, khi vầng dương bắt đầu ngả bóng về phía tây, rọi những tia nắng vàng sẫm cuối ngày xuống khoảng sân phơi, lượt nhúng thứ hai mươi mốt – lượt nhúng định mệnh – cũng chính thức hoàn tất.
Dưới sự chứng kiến nghiêm cẩn của Lão thái quân Diệp Thục Đoan, Khắc Khiêm và Thừa Tông cùng nhau nâng tấm lụa ra khỏi sào tre, căng rộng giữa sân nhà.
Cả hậu viện như nín thở. Tấm lụa tơ tằm Bảo Lộc dài ba trượng bừng lên một sắc xanh lục thủy thẳm sâu, óng ả và huyền ảo tựa như một dải ngọc bích mềm mại được kéo lên từ đáy sông Lạc. Mặt lụa phẳng phiu không một tì vết, mềm như mây mà dày dặn, tỏa ra mùi hương dịu ngọt, thanh khiết của rơm nếp và thảo mộc núi rừng.
“Tuyệt phẩm… Đúng là sắc chàm Thanh Ba Ngũ Nhã của cụ tổ truyền lại rồi!” Thừa Tông nghẹn ngào thốt lên, hai cánh tay run rẩy nâng dải lụa, những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán hòa cùng giọt nước mắt rưng rưng.
Bà nội khẽ gật đầu, nụ cười hiền hậu nở trên gương mặt đầy nếp nhăn “Lụa đã thành, lòng người đã thuận. Cơ nghiệp họ Diệp ta…”
Lời bà chưa kịp dứt thì từ phía cổng lớn dẫn vào xưởng nhuộm bỗng vang lên những tiếng đập cửa dồn dập tựa sấm ran. Tiếng then gỗ rung lên bần bật hòa lẫn với tiếng chửi bới ồn ào và giọng cười the thé quen thuộc đầy hiểm ác của Tào Khắc Vĩnh vọng vào “Mở cửa! Người họ Diệp đâu cả rồi, mau mở toang cửa xưởng ra! Hạn chót trả bạc đã điểm, hôm nay các người không giao ba trăm lượng bạc trắng cùng khế ước xưởng nhuộm Ngũ Nhã ra đây thì đừng hòng có kẻ nào bước chân ra khỏi đất Lạc Thủy này!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
