Chương 13: Bí Quyết Men Rượu Thuốc

Cơn gió lạnh thổi qua rặng tre ngà sau vườn mang theo hơi buốt giá. Đứng bên hiên nhìn mặt nước chum số bảy vẫn đen thẫm, lạnh ngắt và phẳng lặng tựa mặt gương vỡ, Lão thái quân Diệp Thục Đoan khẽ lắc đầu.

Diệp Thừa Tông đứng chôn chân bên cạnh, đôi môi tái nhợt run rẩy, hai bàn tay thô ráp quắp chặt lấy vạt áo nâu sồng. Cạnh đó, Diệp Khắc Khiêm quỳ gối một bên miệng chum, ngón tay run run nhấc chiếc gáo gỗ ra khỏi làn nước không một gợn sóng, trong đáy mắt ánh lên nỗi hoang mang tột độ.

Cụ Đoan chống gậy trúc bước chậm rãi tới mép chum, khẽ thở dài “Đừng rối. Nước tro nếp nương tuy sạch và ngọt hậu, nhưng trận mưa bão dạo trước làm hơi ẩm ngấm sâu vào lòng đất. Lại thêm vôi nung tích tụ khí lạnh độc địa dưới đáy chum suốt mấy ngày, mầm men non vừa trút vào liền bị nghẽn mạch sinh khí, co cụm lại như con tằm gặp sương muối. Men chết thì dễ, cứu men sống mới là chỗ thử thách lòng người.”

Khắc Khiêm ngẩng lên, giọng khản đặc “Thưa mẹ, thời hạn phủ Trấn thủ ấn định chỉ còn chín ngày. Nếu mầm men không chịu cựa mình trước tối mai, nước chàm sẽ chua hỏng, cả mẻ lụa tiến cống coi như lỡ dở…”

“Trời chưa sập thì không được buông tay.” Cụ Đoan cất giọng trầm tĩnh, ánh mắt sâu thẳm tựa làn nước mùa thu. “Theo mẹ vào nhà trong.”

Cụ quay người, bước từng bước vững chãi qua bậc tam cấp dẫn vào gian nhà chính ba gian hai chái. Mùi trầm hương thoang thoảng quyện cùng mùi gỗ lim trăm năm khiến không gian u uất ngoài sân dần lắng lại. Cụ Đoan đi thẳng tới góc hương án, rút chùm chìa khóa đồng gỉ sét dắt nơi thắt lưng, mở chiếc rương khảm xà cừ cổ kính. Từ sâu dưới đáy rương, bà nâng ra một chiếc tráp gỗ mun đen bóng viền mây cuộn, bên trong đặt cuốn sổ bọc giấy bản đã ố vàng theo năm tháng.

Đó là cuốn tâm pháp bách nghệ nhuộm chàm do chính tay phụ thân bà truyền lại từ thuở hàn vi lập nghiệp bên bến Lạc Thủy.

Lần giở từng trang giấy mỏng mảnh vương mùi bồ kết khô, cụ Đoan dừng lại ở một trang vẽ hình bầu rượu gốm cùng những vị thảo mộc đồi núi. Cụ ngước mắt nhìn ba người con cháu vừa bước vào cửa, nghiêm giọng truyền bảo “Gia pháp đời trước có ghi, khi gặp năm hàn khí vượng làm men nghẽn mạch, phải dùng phương rượu thuốc kích khởi. Lấy quế chi thượng hạng đập dập dẫn hỏa, phối cùng hoa hồi khô thung lũng để phá tan hàn khí, ủ với men làm từ gạo nếp cẩm nương. Cốt rượu cất ra vừa cay nồng vừa ngọt đượm, rót vào chum chàm sẽ như ngọn lửa ngầm đánh thức mầm men non đang ngủ say.”

Nói đoạn, bà quay sang nhìn cháu gái và người con thứ “Khắc Khiêm, con cùng cháu Nhàn ra kho thuốc bắc gia truyền gom đủ ba lạng quế chi và năm đóa hoa hồi thơm đậm nhất. Nhặt sạch cuống lá, sao vàng hạ thổ trên chảo gang rồi cho vào nồi gốm chưng cất lấy đúng ba tuần rượu đặc. Nhàn khéo tay, con gạn lấy phần nước cốt trong nhất, chớ để lẫn chút tro than nào.”

“Dạ, con đi làm ngay!” Khắc Khiêm cùng Thanh Nhàn đồng thanh thưa, vội vã lui ra gian kho đông chuẩn bị chảo lò.

Trong gian phòng chính chỉ còn lại cụ Đoan và Diệp Thừa Tông. Người con cả cúi gằm mặt, hai bờ vai so lại trong manh áo thô mỏng, vết trầy xước nơi đầu gối rỉ máu sau những chuyến gánh nước hôm qua vẫn còn tấy đỏ.

Cụ Đoan nhìn Thừa Tông, giọng nói không còn vẻ gay gắt của đêm tra vấn nơi từ đường, mà chùng xuống, ấm áp lạ thường:“Thừa Tông.”

“Dạ… con xin nghe lời mẹ răn dạy.” Thừa Tông giật mình quỳ sụp xuống chiếu cói.

“Đứng dậy đi.” Cụ Đoan khẽ phất tay. “Mẹ giao cho con một việc then chốt nhất đêm nay. Rượu thuốc có ấm, men chàm có hồi sinh được hay không, tất cả trông cậy vào hơi ấm quanh chum sành. Lát nữa Khắc Khiêm gạn rượu xong, con phải nhóm bốn lò than củi dẻ chung quanh ba chiếc chum số sáu, số bảy và số tám. Than phải đỏ đượm không khói, cách đáy chum vừa đúng hai gang tay. Con phải ngồi canh thâu đêm suốt sáng, không được để tàn lụi, cũng tuyệt đối không được để lửa bốc ngọn làm nứt vách sành. Nhiệt độ của buồng ủ men phải luôn ấm áp, đều đặn tựa như hơi thở của người mẹ ôm ấp con thơ. Con có giữ trọn được ngọn lửa ấy không?”

Nghe từng lời mẹ dặn dò giao phó vận mệnh cả xưởng nhuộm vào tay mình, cổ họng Thừa Tông nghẹn ứ. Suốt mấy ngày qua, ông nếm trải tủi nhục, đớn đau da thịt, nhưng trong lòng luôn sợ mẹ và em trai vĩnh viễn coi mình như kẻ tội đồ bị gạt ra ngoài lề. Giờ đây, nhìn đôi mắt bao dung của mẹ già bảy mươi tám tuổi, Thừa Tông nghẹn ngào, hai bàn tay rướm máu vì cọ rửa chum siết chặt “Mẹ… con xin đem cả tính mạng ra thề trước vong linh cha! Con sẽ không rời lò than nửa bước, quyết không để tắt một đốm lửa nào!”

Đêm buông xuống bến Lạc Thủy rét ngọt. Gió hun hút lùa qua khe cửa liếp, nhưng khu bể ủ men hậu viện Diệp gia lại bừng lên sắc đỏ hồng ấm áp.

Bốn lò than củi dẻ được kê ngay ngắn quanh ba chiếc chum sành lớn. Thừa Tông ngồi bệt trên chiếc đòn gỗ thấp, khoác manh áo nâu sồng đẫm mồ hôi. Chân phải bị trẹo mắt cá buốt nhức từng cơn mỗi khi trở mình, nhưng ông cắn răng chịu đựng, hai mắt đỏ hoe vì khói và mệt mỏi vẫn chăm chú dõi theo từng đốm lửa. Tay ông thoăn thoắt cầm kẹp sắt gắp từng thỏi than đượm, khẽ gạt tàn tro xám, chêm thêm từng thanh củi khô để giữ hơi nóng phả đều vào thân chum sành dày dặn.

Bên cạnh, Khắc Khiêm cẩn thận bưng âu gốm đựng thứ rượu thuốc màu nâu hổ phách bốc khói nghi ngút. Mùi quế chi the ấm quyện chặt với hương thơm ngọt lịm của nếp cẩm và hoa hồi xua tan hoàn toàn cái lạnh ẩm mốc của đêm đông. Thanh Nhàn một tay che vạt áo chắn gió, một tay soi ngọn đèn bão để cha thao tác.

“Bác cả, bác nhích lò than góc tây lại gần chum số bảy thêm nửa tấc,” Khắc Khiêm khẽ nhắc, giọng trầm ấm đầy tin cậy. “Chum mẹ vách dày hơn, cần hơi ấm ngấm sâu vào tận đáy.”

“Được, chú cứ để đấy cho anh!” Thừa Tông vội đáp lời, cẩn trọng dùng kẹp xê dịch lò than, động tác thuần thục dẫu mồ hôi trên trán rỏ tong tỏng xuống nền gạch.

Khắc Khiêm nghiêng âu gốm, dùng chiếc chén mắt trâu múc từng thìa rượu thuốc nóng hổi, men theo bốn góc thành chum rưới từ từ xuống lòng nước thẫm. Từng dòng rượu ấm chảy tràn trên vách sành, mang theo sinh khí thảo mộc lan tỏa vào khối nước chàm đang câm lặng.

Cụ Đoan ngồi trên chiếc chõng tre kê gần hiên, khoác tấm chăn dệt từ sợi bông thô, lặng lẽ dõi theo hai người con trai. Một người dốc lòng truyền ngón nghề gia bảo, một người cần mẫn chịu thương chịu khó chuộc lại lỗi lầm; những câu gọi nhau “anh cả”, “chú Khiêm” mộc mạc vang lên giữa tiếng củi than nổ lách tách. Nỗi u uất, nghi kỵ từng phủ bóng đen lên mái nhà họ Diệp dường như tan biến vào màn đêm, nhường chỗ cho dòng chảy ấm nồng của tình cốt nhục.

Thời gian trôi chậm chạp qua từng tuần trà. Tiếng mõ cầm canh ngoài đ**m vọng về báo hiệu đêm đã chuyển sang canh tư.

Gió bấc ngoài sông Lạc rít từng hồi qua rặng chuối, nhưng buồng ủ men vẫn ấm áp lạ thường. Mùi rượu nếp cái cùng hương quế hồi thơm lừng ngào ngạt bốc lên, quyện đặc khắp khoảng sân hậu viện. Thừa Tông hai mắt thâm quầng, đôi môi nứt nẻ vì sức nóng của lò than, nhưng ánh nhìn vẫn không rời vách chum sành nửa khắc.

Bỗng nhiên, từ sâu trong đáy chum số bảy, một tiếng “ục… ục” trầm đục vang lên, phá vỡ sự tĩnh mịch của đêm thâu. Tiếp đó là những tiếng réo nhỏ li ti, lách tách tựa như mầm cây đội đất đâm chồi giữa mùa xuân.

Cả Khắc Khiêm, Thừa Tông và Thanh Nhàn cùng nín thở, đồng loạt ghé sát mặt vào mép chum, tim đập dồn dập nhìn xuống mặt nước đen thẫm mờ ảo dưới ánh đèn bão.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.