Chương 11: Sáu Mươi Gánh Nước Suối

Tiếng xì xào to nhỏ của đám thợ bạn bên vại nước rửa mặt dội vào tai Diệp Thừa Tông buốt nhói chẳng kém gì khớp xương đang sưng tấy. Dưới lớp áo nâu sồng thô ráp cọ sát vào da thịt, lưng ông ướt đẫm mồ hôi dù gió sớm từ ngọn núi Yên Sơn thổi về còn vương sương lạnh.

Thừa Tông siết chặt tay vào chiếc đòn gánh tre già. Mỗi bước dận xuống mặt đường rải đá dăm, mắt cá chân phải lại nhói lên như có mũi kim nung cắm thẳng vào thớ thịt. Đôi thùng gỗ rỗng lắc lư kĩu kịt theo nhịp chân tập tễnh. Đi ngang qua dãy sào phơi lụa, ông thấy rõ những ánh mắt dò xét, kinh ngạc của thợ thuyền và vài người xóm giềng gánh rau đi chợ sớm. Một gã trưởng nam họ Diệp xưa nay chỉ biết xênh xang áo lụa ngoắc tay sai bảo, giờ đây đầu trần chân đất, lầm lũi cúi gầm mặt bước đi trong tủi hổ.

Đường lên suối Yên Sơn dốc đứng, lởm chởm đá cuội và đất đỏ trơn trượt sau trận giông đêm trước. Lên đến bờ suối đầu nguồn, Thừa Tông th* d*c, hai đầu gối run rẩy khuỵu xuống bên bờ đá. Dòng nước suối trong văn vắt cuộn chảy qua rạn rêu xanh rì, tinh khiết và mát rượi. Ông run rẩy múc đầy đôi thùng gỗ, ghé vai gánh lên. Sức nặng của đôi thùng đầy ắp nước lập tức dìm bờ vai xuống, đòn gánh tre già uốn cong ken két.

“Ráng lên… Đây là nghiệp do mày tạo ra…”

Thừa Tông lẩm bẩm trong kẽ răng rớm máu vì cắn chặt môi. Vừa đi xuống dốc đất đỏ được chục trượng, chiếc chân phải trẹo sụp vào một hõm đất. Cả người ông mất đà ngã nhào, đôi thùng gỗ đổ ụp, nước suối mát lạnh xối ướt đẫm nửa thân mình, hòa cùng lớp bùn đỏ nham nhở. Đầu gối va vào đá sắc buốt đến tận óc, rách toạc da, rỉ máu tươi. Thừa Tông nằm sấp trên nền đất ẩm, lồng ngực phập phồng đau đớn. Có khoảnh khắc lòng kiêu hãnh phù phiếm xui khiến ông muốn buông xuôi, muốn vứt bỏ tất cả. Nhưng rồi hình ảnh đôi mắt sáng trong nghiêm cẩn của mẹ nơi từ đường và cái dập đầu xin tha mạng của Khắc Khiêm lại hiện lên, nóng rẫy như than hồng dí vào lương tâm.

Ông gượng chống tay, lập cập dựng thùng, tập tễnh quay ngược lên bờ suối múc lại từ đầu.

Từng gánh nước suối trĩu nặng lần lượt được Thừa Tông cõng về hậu viện xưởng Ngũ Nhã. Ông tự tay trút từng gáo nước vào lòng ba chiếc chum sành số sáu, số bảy và số tám. Lớp cặn vôi nung chết đọng dưới đáy chum bốc mùi ngai ngái nồng nặc, bám chặt vào từng thớ gốm sần sùi. Mỗi lần cúi người gập lưng dội nước thau rửa, bắp thịt toàn thân ông lại co rút đau đớn.

Đến chính ngọ, ánh mặt trời chói chang nung đốt đỉnh đầu. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ sân gạch nung. Thừa Tông vừa trút cạn gánh nước thứ ba mươi vào lòng chum số bảy thì mắt hoa lên, đất trời chao đảo. Đầu gối ông rã rời, cả thân hình hộ pháp đổ sụp xuống cạnh vách chum sành, ngực nghẹn ứ không hít nổi một ngụm khí trời.

Một bàn tay thô ráp, chai sạn nhưng rắn rỏi bất thần vươn ra đỡ lấy nách ông.

Thừa Tông giật mình ngước lên. Trước mắt ông là khuôn mặt sạm đen vì nắng gió của Diệp Khắc Khiêm. Người em trai không nói nửa lời oán trách, chỉ lặng lẽ dìu anh ngồi dựa lưng vào bóng râm dưới mái hiên nhà kho. Khắc Khiêm cúi người đặt xuống bên cạnh một chiếc bát sành bốc khói nghi ngút “Anh cả uống ngụm nước vối ấm này đi. Em có hòa thêm chút muối hạt cho đỡ hụt hơi.”

Thừa Tông run rẩy bưng bát nước vối, mùi thơm ngai ngái quen thuộc xộc vào cánh mũi. Nước mắt ông bỗng trào ra, lăn dài trên đôi má phủ đầy bụi đất và mồ hôi, rỏ từng giọt lộp độp vào lòng bát. Ông run giọng “Chú Khiêm… anh… anh hại chú suýt mất cả cơ nghiệp, sao chú còn…”

Khắc Khiêm không đáp, chỉ ngồi thụp xuống trước mặt anh trai. Đôi bàn tay nồng đượm màu chàm của Khiêm cẩn thận nâng bàn chân sưng vù của Thừa Tông đặt lên đùi mình. Khiêm mở bọc vải thô, lấy ra nắm lá ngải cứu sao dấm còn ấm nóng, tỉ mẩn đắp quanh khớp mắt cá chân tấy đỏ rồi dùng dải vải xô băng chặt lại. Vị cay ấm của ngải giấm thấm sâu xoa dịu cơn buốt nhức đang cào xé.

“Chuyện cũ mẹ đã phán xử, em không nhắc lại nữa,” Khắc Khiêm ngẩng đầu lên, ánh mắt trầm tĩnh như nước đáy giếng. “Nhưng muốn cứu mẻ lụa tiến cống, việc lau sạch ba chiếc chum này quan trọng lắm. Vôi nung ngấm sâu vào xương gốm, nếu chỉ dội nước suông thì men non thả vào bao nhiêu cũng chết bấy nhiêu.”

Nhìn cử chỉ ân cần cùng giọng nói chất phác của em trai, chút sĩ diện cuối cùng sót lại trong lòng Thừa Tông vỡ tan tành. Người anh cả từng coi thường thợ thuyền, từng tự phụ về tài giao thiệp ngoài phố bỗng thấy mình nhỏ bé và hèn mọn khôn cùng. Ông buông bát nước vối, nắm lấy cánh tay áo nâu của Khiêm, nghẹn ngào:“Chú chỉ cho anh đi… Phải làm thế nào mới sạch được vôi độc? Chú cứ bảo, anh làm được hết! Dù có lột hết da tay này, anh cũng phải rửa sạch cho bằng được!”

Khắc Khiêm nhìn sâu vào mắt anh trai, thấy rõ sự hối hận chân thành chứ không còn là nét đối phó lấm lét của hôm qua. Ông khẽ gật đầu, với tay lấy nắm xơ mướp già gác trên giàn “Anh cầm lấy nắm xơ mướp này. Khi cọ vách gốm, không được chà ngang mà phải đưa tay xoay tròn theo từng vòng xoắn ốc từ miệng xuống đáy. Chỗ nào cảm thấy ram ráp cặn trắng thì phải dùng nước suối dội liên tục, kỳ đến khi nào đầu ngón tay miết vào thấy trơn nhẵn như đá cuội suối Yên Sơn mới thôi.”

Buổi chiều hôm ấy, nắng rải vàng trên những giàn phơi. Không còn một Diệp đại gia kiêu kỳ phất quạt lụa, chỉ còn một người thợ nhuộm vụng về đang cong lưng quỳ bên miệng chum sành. Thừa Tông dùng xơ mướp già miết từng tấc gốm nung. Bàn tay vốn chỉ quen đếm tiền và nâng chén rượu giờ đây rát bỏng, da thịt rớm máu vì cọ sát vào thành gốm thô nhám. Nhưng ông không dừng lại. Hết cọ rửa, ông lại tập tễnh quẩy đôi thùng rỗng ngược dốc Yên Sơn múc nước.

Gánh thứ bốn mươi… năm mươi… rồi năm mươi chín.

Khi bóng hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ ối mặt sông Lạc, Thừa Tông trút nốt thùng nước của gánh thứ sáu mươi vào lòng chum số sáu. Nước suối xối tràn qua miệng xả ngầm, mang theo những vụn cặn vôi cuối cùng trôi sạch ra rãnh nước. Đáy ba chiếc chum sành nhẵn thín, bóng loáng, soi rõ từng gợn nước trong veo như mắt mèo.

Tiếng gậy trúc gõ đều đặn trên bậc đá xanh vang lên trầm ấm.

Lão thái quân Diệp Thục Đoan bước ra từ gian nhà chính, vạt áo nâu sồng phẳng phiu, mái tóc bạc cài trâm mun gọn gàng. Bà dừng lại trước ba chiếc chum men, cúi người đưa những ngón tay gầy guộc nhuốm vệt chàm xanh nhạt miết nhẹ dọc mép chum, rồi vục một gáo nước đưa lên mũi ngửi thử. Nước suối đầu nguồn không còn vương chút mùi vôi khét nồng, chỉ còn hương thơm thanh khiết của đất mẹ và vị ngọt lịm của sương núi.

Cụ Đoan ngẩng đầu nhìn Thừa Tông. Thân hình to béo của người con cả giờ đây lấm lem bùn đất, áo quần ướt sũng dính chặt vào người, hai bàn tay rướm máu và sưng đỏ, nhưng ánh mắt đã bớt đi vẻ láo liên bất an, chỉ còn lại sự nhẫn nại và thành khẩn.

Bà gật đầu, giọng từ tốn nhưng rành rọt “Lòng đất đã sạch, lòng người cũng tạm gột bớt bụi mờ. Khắc Khiêm, chuẩn bị rơm nếp mục mùa cũ, đêm nay bắt đầu công đoạn lọc tro để cứu lại mầm men!”

“Dạ, con xin vâng lời mẹ!” Khắc Khiêm chắp tay thưa.

Thừa Tông thở phào một hơi dài, đặt chiếc đòn gánh tre tựa vào cột hiên, cảm giác như trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng trên ngực suốt mấy ngày qua. Ông toan quay sang phụ em khiêng nong tro thì từ cổng ngõ sau xưởng, tiếng bước chân huỳnh huỵch dồn dập vang lên.

Một bác thợ bạn mặt cắt không còn hạt máu, hớt hải lao vào sân hậu viện, giọng lạc đi vì kinh hãi “Bẩm… bẩm Lão thái quân! Chú Khiêm ơi, nguy to rồi! Toàn bộ kho rơm nếp mục mùa cũ để dành nuôi men ngoài góc vườn… chẳng biết đứa nào khốn nạn đã đổ cả thùng nước cống thối vào, giờ ướt sũng, bốc mùi chua loét không thể nhóm lửa lấy tro được nữa rồi!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.