Chương 7: Trầm Tích Ba Mươi Năm

Hơi sương lạnh buốt trên mặt đầm hoang táp vào mặt, nhưng trong lòng Chử Đình Luân, ngọn lửa nghề của tổ tiên truyền lại dường như đang âm ỉ cháy bùng. Cụ tháo dải thắt lưng gai, vén vạt áo cánh nâu buộc gọn ngang hông, bước chân trần giẫm lên lớp cỏ lác lạo xạo rồi từ từ lội xuống làn nước tối thẫm. Bùn đáy ao nhuyễn mịn mơn man bàn chân, lạnh thấu da thịt, nhưng cụ Luân bước từng bước vững chãi như đang đi trên mảnh đất thân thuộc của chính nhà mình.

“Viễn, theo chân ông. Cẩn thận thụt hố sâu.”

Minh Viễn khẽ vâng một tiếng, tay cầm chắc chiếc sào tre thứ hai và cuộn chão gai, cẩn trọng dò dẫm từng bước sau lưng ông nội. Nước đầm ngập ngang ngực, râm ran buốt giá. Cụ Luân dừng lại ở giữa lòng vụng, nơi chiếc sào tre ban nãy cắm ngập lút. Đưa bàn tay chai sạn lướt dọc thân sào xuống tận đáy bùn ngấu, đầu ngón tay cụ khẽ chạm vào một v*t c*ng rắn như sắt nguội nằm im lìm dưới lớp phù sa ba tấc.

“Đây rồi.” Cụ Luân thở hắt ra một hơi, ánh mắt sáng rực trong bóng đêm. “Cháu lặn xuống buộc chão gai vào hai đầu thanh giằng gỗ. Phải thắt nút chữ công cho thật chặt.”

Minh Viễn gật đầu, hít sâu một hơi rồi lặn ngụp vào làn nước thẫm. Mặt nước khẽ xao động rồi phẳng lặng trở lại, chỉ còn vài bọt khí lăn tăn nổi lên. Cụ Luân đứng ngâm mình trong dòng nước lạnh, ngửa mặt nhìn vầng trăng thượng tuần lấp ló sau rặng tre đực đằng xa. Ba mươi năm trước, chính tay cụ cùng thân phụ đã chuyển những phiến gỗ nghiến nghìn năm từ rừng thẳm thượng du về đây, ém chặt dưới bùn lầy để dòng dưỡng khí của đất mẹ tôi luyện thớ gỗ. Ngày ấy, cụ chưa từng nghĩ sẽ có lúc phải dùng đến bảo vật này để đối đầu với sắt thép ngoại bang.

Mặt nước rẽ sóng, Minh Viễn ngoi lên, vuốt nước trên mặt, thở hổn hển: “Thưa ông, con buộc chặt cả hai đầu rồi!”

“Được lắm. Hai ông cháu ta cùng kéo!”

Cụ Luân luồn chiếc sào tre qua mối chão, hai bàn tay gân guốc ghì chặt thân sào. Tiếng cụ hô trầm ấm vang lên nhịp nhàng: “Một, hai… lên!”

Hai bóng người dồn hết sức bình sinh, cơ bắp cuộn lên dưới làn nước đêm. Dưới đáy đầm sâu, lớp bùn ngấu quánh chặt khẽ rạn ra một tiếng “bục” trầm đục. Khối gỗ nặng ngàn cân từ từ nhấc mình khỏi lòng bùn, rẽ nước trồi lên mặt đầm. Hai ông cháu hợp sức kéo dần từng khối gỗ nghiến vào bờ cỏ.

Dưới ánh trăng bàng bạc, thoi gỗ nghiến dài bốn thước, dẹp hai tấc hiện ra tr*n tr**. Lớp bùn đen trôi tuột theo dòng nước, để lộ thớ gỗ đanh quánh, nổi vân xoắn trôn ốc ánh lên sắc tím đen huyền ảo như đá thạch. Cụ Luân nhặt một hòn cuội dưới lòng sông, gõ nhẹ lên mặt thoi gỗ ba tiếng.

“Keng… keng… boong…”

Âm thanh phát ra thanh thoát, ngân vang và trong trẻo chẳng khác nào tiếng chuông khánh bằng đồng gióng giữa sân đình. Minh Viễn tròn xoe mắt, đưa tay sờ lên thớ gỗ mát rượi, không nén nổi sự kinh ngạc “Gỗ ngâm đáy nước tròn ba mươi năm mà không mục mủn chút nào, trái lại còn đanh chắc như ngọc thạch thế này ư ông?”

Cụ Luân cúi xuống xoa nhẹ phiến gỗ, chòm râu bạc rung rinh, trong mắt chan chứa nỗi tự hào khôn xiết:“Gỗ nghiến vốn tính chí dương, hấp thụ linh khí núi cao rừng thẳm. Khi đem ngâm dưới bùn ngấu đáy ao chuôm, hàn khí của đất nước làm tiêu biến toàn bộ nhựa sống non nớt, thớ gỗ co rút lại, quyện chặt thành một khối bền chắc muôn thuở. Kim khí rèn bằng lửa thì nóng nảy, dễ giòn gãy khi quá nhiệt. Còn gỗ ngâm bùn này đanh như thép nguội mà cốt cách lại thuần âm, triệt tiêu mọi ma sát nhiệt. Đó chính là gốc rễ của Thập Bát Long Cốt.”

Minh Viễn chăm chú lắng nghe từng lời, đôi mắt thanh niên bừng lên sự thấu hiểu. Cụ Luân thong thả rút con dao vót thép bản mỏng bên hông, đưa tay vạch lên thân gỗ nghiến những đường kẻ chéo dứt khoát “Con hãy nhìn kỹ. Cối xay lúa của tổ tiên ta không dùng trục ép thẳng thừng như máy sắt Tây Vực. Bộ dăm cối gồm đúng mười tám thoi răng trên, mười tám thoi răng dưới. Mỗi thoi dăm phải đẽo góc nghiêng theo hình cánh nhạn lướt gió. Khi hai vành cối áp vào nhau quay tròn, góc nghiêng cánh nhạn này sẽ khẽ miết nhẹ, lừa hạt thóc xoay nghiêng để lớp vỏ trấu tự tách bung ra như đóa hoa hé nở. Vỏ trấu bay đi mà mầm ngọc bên trong còn nguyên vẹn, hạt gạo không bao giờ bị dập gãy hay ám mùi khét. Đó là sự nâng niu, là đạo sống hòa hợp của người nông phu bãi bồi.”

Nhìn những đường nét chuẩn xác như khắc vào tâm khảm, Minh Viễn cảm kích cúi đầu “Cháu đã hiểu. Lấy nhu thắng cương, lấy sự khéo léo nâng niu thay cho sức nặng c**ng b*c. Con sẽ dốc lòng đẽo từng thoi dăm cho đúng góc cánh nhạn mà ông truyền dạy.”

Sau khi hai ông cháu khiêng đủ số thoi gỗ nghiến cần thiết về sân xưởng, cụ Luân khẽ lau vội giọt nước đọng trên trán rồi dắt cháu lên đồi gò sau làng. Giữa rặng tre đực đang reo phần phật trong gió đêm, cụ bước đi thong thả, dùng sống dao gõ vào từng thân tre để thẩm định.

“Vành cối đất nén muốn vững vàng thì cạp cối phải thật dẻo dai. Tre non thì giòn mục, tre quá già thì cứng gãy, chỉ có tre đực bánh tẻ hai năm tuổi, cật dày, mắt thưa mới đủ sức giữ chặt khối đất nén bên trong.” Cụ Luân dừng trước một bụi tre óng ả, chỉ tay: “Đốn khóm này. Vót cật tre mỏng ba phân, đan nong đôi ken dày như vảy cá chép.”

Hai ông cháu nhanh thoăn thoắt hạ tre, tiếng dao bổ nứa xoèn xoẹt giòn giã át cả tiếng côn trùng rỉ rả bờ sông. Đôi mắt lão thợ già nhìn từng lóng tre được chẻ ra, lòng tràn đầy niềm tin vào ngày đại hội thi tài.

Đang lúc cúi người bó những gióng tre đực, khóe mắt tinh tường của cụ Luân bỗng thoáng nhận ra phía sau bờ giậu dâm bụt rậm rạp có bóng người dập dờn ẩn nấp. Một tiếng cành khô gãy khẽ cùng tiếng chân lén lút vội vã trườn qua rãnh nước chạy về hướng đường mòn dẫn ra phố khách. Lão thợ cả khẽ nheo mắt nhìn theo làn bụi mờ mịt trong đêm, linh tính mách bảo tai mắt của dinh cơ họ Trần đã bắt đầu đánh hơi tới xưởng cối.

Cụ Luân cùng Minh Viễn gánh những lóng tre bánh tẻ óng ả về tới sân xưởng cối. Đêm đã về khuya, vạn vật xóm thợ Diên Cối chìm sâu trong giấc nồng sau một ngày lao động mệt nhọc. Cụ Luân ngồi xuống mép chõng tre, đưa tay bưng bát nước vối nguội định nhấp một ngụm nhuận giọng.

Bỗng nhiên, từ phía bãi ngâm tre đầu làng ven mép sông Hiến, một làn gió ngược thổi thốc tới, cuốn theo mùi dầu thông và bùi nhùi bén lửa bốc lên nồng nặc đến nghẹt thở.

Chưa kịp để hai ông cháu định thần, một vệt khói đen đặc quánh kèm theo ánh lửa đỏ lòm bùng lên ngùn ngụt nơi góc trời. Tiếng chó trong làng rộ lên sủa dữ dội xé toang màn đêm tĩnh mịch, cùng lúc ấy là tiếng la thất thanh của người tuần đêm vọng lại từ xa “Cháy! Cháy bãi tre rồi! Bà con ơi cứu hỏa!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.