Chương 21: Bách Tính Đồng Lòng
Cả quảng trường ven sông thương cảng Phố Hiến im phăng phắc, muôn ánh mắt đều đổ dồn về cánh tay gầy guộc nhưng đanh chắc của cụ Chử Đình Luân đang giơ cao giữa thinh không. Cơn gió chiều từ mặt sông thổi thốc vào vạt áo nâu sồng bạc màu sương gió, làm bay bay chòm râu cước trắng như mây trời của bậc lão thợ tám mươi sáu tuổi.
Cụ Luân quay người lại, hướng về phía hương án nơi quan Khâm sai Lê Khắc Thuần đang ngồi uy nghiêm, vòng hai tay cung kính thi lễ rồi dõng dạc cất lời “Bẩm Khâm sai đại nhân! Thưa toàn thể bà con trăm họ! Tấm biển vàng triều đình ban cho là ơn sâu tựa thái sơn, bản khế ước lương thảo này là mối lợi vạn lượng bạc ròng. Thế nhưng, nếu họ Chử ta nhận lấy đặc quyền độc quyền quân lương ấy gom vào một túi, thì chẳng hóa ra lại biến làng Diên Cối thành một Trần Bá Hộ thứ hai, mượn cớ vinh danh để bóp nghẹt kế sinh nhai của hàng vạn bạn thợ khắp xứ Sơn Nam hay sao?”
Lời nói vừa buông xuống như tiếng sấm nổ giữa trời quang. Hàng vạn người dự khán dưới kỳ đài ồ lên kinh ngạc. Quan Khâm sai Lê Khắc Thuần khẽ nhướng đôi mày rậm, ánh mắt rực sáng vẻ chăm chú “Ý của Chử lão trượng là thế nào? Xin lão trượng cứ bày tỏ cho tỏ tường trước công đường!”
Cụ Luân ngẩng cao đầu, ánh mắt màu hổ phách sáng quắc, giọng ngân vang trầm hùng truyền khắp đôi bờ bến cảng “Lão xin khước từ đặc quyền độc quyền quân lương cho riêng họ Chử! Hạt thóc ngọc thực là của trời đất và mồ hôi trăm họ vun trồng, chén cơm thơm ngon phải thuộc về muôn dân. Hôm nay, ngay trước kỳ đài Phố Hiến, trước anh linh trời đất và sự chứng giám của quan lớn, lão xin công khai toàn bộ bí truyền ngàn đời của họ Chử: bản vẽ góc nghiêng cánh nhạn của mười tám thoi dăm nghiến Thập Bát Long Cốt và phép phối trộn đất sét gan gà, tro trấu cùng mật mía Tam Thổ Quy Nhất! Lão dâng tặng hết cho tất cả các phường cối khắp cõi Đại Việt, để bất cứ người thợ nào cũng có thể đóng được chiếc cối đất nén giữ mát phôi mầm, bóc sạch vỏ trấu!”
Một khoảng lặng sững sờ kéo dài trong hai cái chớp mắt, rồi cả quảng trường vỡ òa thành một cơn chấn động chưa từng thấy. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay của hàng ngàn phu phen, thợ thủ công và nông dân nghèo bùng lên vang dội như sóng triều vỗ bờ. Những người thợ cối từ các trấn xa xôi lặn lội về xem thi đấu nghẹn ngào rớt nước mắt, quỳ sụp xuống bái tạ tấm lòng biển trời của bậc đại tông sư.
Quan Khâm sai Lê Khắc Thuần rời khỏi ghế chủ tọa, bước nhanh tới đỡ lấy cánh tay cụ Luân, xúc động thốt lên “Chí công vô tư! Lòng dạ khoáng đạt như trời cao biển rộng! Bản quan phụng mệnh triều đình đi khắp cõi bờ, chưa từng thấy người nào đối diện với danh lợi bạc vàng tột bậc mà coi nhẹ tựa lông hồng như Chử lão trượng. Lời đề nghị của lão trượng, bản quan xin chuẩn y!”
Ánh mắt vị đại thần tam phẩm quét một vòng quanh kỳ đài, lớn tiếng hạ lệnh “Truyền ý chỉ của bản quan: Triều đình bãi bỏ quy chế độc quyền! Lập tức giao cho ty Lương Đốc phối hợp cùng cụ Chử Đình Luân thành lập mạng lưới các phường cối vệ tinh trên toàn trấn Sơn Nam, lấy thôn Diên Cối làm nòng cốt kỹ thuật và dẫn dắt tiêu chuẩn. Phường cối nào nắm vững kỹ nghệ đất nén, bóc vỏ giữ nguyên phôi mầm đều được nhận phần chia cung ứng cho kho quân lương quốc gia!”
Tiếng hoan hô lại dội lên như sấm dậy. Minh Viễn đứng bên cạnh ông nội, lồng ngực phập phồng niềm tự hào khôn xiết. Chàng hiểu rằng, chính sự buông bỏ này mới là đỉnh cao vĩ đại nhất của đời người thợ cả.
Cụ Luân mỉm cười, lại tiếp tục hướng về phía Khâm sai và dân làng:“Bẩm quan lớn, năm trăm quan tiền cược và ba mươi thỏi bạc ròng bồi thường từ thương đoàn ngoại bang, lão cùng cháu Viễn xin không giữ lại một đồng tiền kẽm. Số bạc tiền này, một phần dùng để dọn sạch tro tàn, dựng lại mái xưởng cho những bà con bị lửa thiêu ở bãi bồi; một phần dùng để nạo vét, mở rộng bãi ngâm tre chung cho cả vùng; số còn lại lập thành quỹ tương trợ, chu cấp cơm áo để truyền nghề đóng cối cho con em nông phu nghèo khó!”
“Cụ Chử vạn tuế!”
“Đức độ của cụ Chử sánh tựa non cao!”
Tiếng hô vang dội làm rung chuyển cả khúc sông Hiến. Giữa không khí hân hoan tột cùng ấy, tiếng chiêng đồng thị uy của nha môn đột ngột gióng lên ba hồi dõng dạc. Một viên đề lại áo lục bước ra mép sàn đấu, giương cao công văn có dấu triện đỏ chót, dõng dạc tuyên đọc bản án tối hậu “Phụng mệnh Khâm sai đại thần Lê Khắc Thuần, chiếu theo luật nước: Tội nhân Trần Bá Hộ buôn gian bán lận, câu kết sâu mọt ty Lương Đốc ép giá lúa non, dùng thủ đoạn phóng hỏa bãi tre và đút lót tráo đổi thóc tiến triều hòng trục lợi quốc gia. Nay tuyên phạt: Tịch thu toàn bộ dinh cơ, ruộng đất, kho tàng của Trần Bá Hộ xung vào công quỹ! Lập tức phát mãi điền sản lấy tiền bồi hoàn sòng phẳng cho những nông gia từng bị ép giá lúa non bấy lâu nay! Bản thân Trần Bá Hộ bị phạt trượng một trăm, đeo gông sắt nặng bốn mươi cân, tống ngục lưu đày biệt xứ nơi biên viễn trọn đời!”
Bốn tên lính lệ lực lưỡng áp giải Trần Bá Hộ bước ra. Gã phú thương béo tốt ngày nào nay xụi lơ như đống bùn nhão, áo gấm rách tơi tả, mặt mày xám ngoét không còn hột máu. Nghe tiếng bách tính hai bên đường căm phẫn thóa mạ và ném những nắm vỏ trấu vào mặt, gã chỉ biết gục đầu run lẩy bẩy, lê từng bước chân nặng nề trong tiếng xiềng xích va vào nhau loảng xoảng rồi bị giải thẳng vào cỗ xe tù bịt kín.
Hoàng hôn dần buông, ánh chiều đỏ quạch phủ lên mặt nước lấp lánh như dát vàng. Lúc cụ Luân cùng Minh Viễn chuẩn bị bước xuống bến để lên thuyền về làng, một bóng người cao lớn trong bộ âu phục dạ đen bạc phếch lẳng lặng tách khỏi đám đông bước tới. Đó là Pierre Dubois.
Hắn không còn vẻ ngạo mạn, trịch thượng với cây gậy batoong bịt bạc như trước. Cây gậy nay đã gãy, bàn tay phải của hắn buông thõng, ánh mắt xanh thẳm tràn ngập vẻ bàng hoàng xen lẫn kính cẩn. Trước sự chứng kiến của mọi người, viên kỹ sư Tây Vực từ từ cúi gập người, chắp hai tay lại theo đúng lễ nghi phương Đông hướng về phía cụ Luân “Thưa Chử lão hủ… à không, thưa Chử đại tông sư! Bản tôn… ta đã thua, thua tâm phục khẩu phục. Cỗ máy sắt của ta chỉ biết dùng sức nặng c**ng b*c nên tự nứt gãy bánh răng, còn vành cối đất nén của ngài lại dùng sự mềm mại, đầm chắc để che chở hạt mầm. Ngài không chỉ dùng đạo lý nhu thắng cương bẻ gãy cỗ máy sắt của ta, mà tấm lòng san sẻ tri thức cho muôn dân của ngài đã thực sự đánh bại sự ích kỷ của phường buôn chúng ta. Người thợ Đại Việt… thật đáng kính!”
Cụ Luân nhìn người khách phương xa, khẽ mỉm cười bao dung “Khách phương xa hãy nhớ lấy, sắt thép dẫu cứng rắn đến đâu cũng do bàn tay con người rèn nên, còn hạt gạo là ngọc thực của đất mẹ. Muốn mượn sức máy móc, trước hết lòng dạ phải biết nương theo lẽ tự nhiên và trân quý con người. Chúc ông thuận buồm xuôi gió khi trở về cố quốc.”
Pierre Dubois cúi đầu tạ từ thêm một lần nữa rồi lầm lũi bước xuống con thuyền buôn đang căng buồm chờ sẵn ở mép nước bến Hiến, nhổ neo xuôi về phía cửa biển trong bóng chiều tà.
Trên bến sông, đoàn thuyền lớn rực rỡ cờ hoa của làng Diên Cối đã dàn hàng tề chỉnh. Tấm biển vàng "Bách Nghệ Tinh Hoa" được đặt trang trọng ở mũi thuyền rồng, lấp lánh dưới ánh đuốc bập bùng. Cạnh đó, xấp giấy bản vẽ chi tiết góc nghiêng cánh nhạn của thoi dăm mười tám răng cùng công thức Tam Thổ Quy Nhất được bọc trong lụa đỏ, sẵn sàng gửi tới các phường thợ khắp vùng châu thổ.
Tiếng trống khẩu hòa cùng tiếng pháo tép reo vui lách tách nổ giòn giã trên mặt nước. Minh Viễn ghé vai cùng các chàng trai lực lưỡng nâng cần lái, còn Mai Nương đứng cạnh cha mỉm cười vẫy tay chào bách tính đôi bờ. Cụ Chử Đình Luân đứng ở mũi thuyền, ngắm nhìn đoàn thuyền rẽ sóng lướt đi trong tiếng reo hò vang dậy cả một khúc sông, lòng ngập tràn niềm tin về một vận hội mới ấm no, rạng rỡ đang mở ra cho khắp các làng nghề bách nghệ quê hương.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
