Chương 16: Gãy Răng Bánh Sắt

Mảnh kim loại sắc lẹm găm phập xuống sàn gỗ lim, bốc lên một làn khói mỏng khét nghẹt. Tiếng kim loại cọ xát ken két nghiến vào màng nhĩ chói óc, rợn người như móng vuốt cào trên đá tảng.

Đứng trước giàn máy đang rung lắc dữ dội, Pierre Dubois hoảng loạn tột độ. Gã vứt phắt chiếc gậy batoong sang một bên, lao tới chộp lấy gáo gỗ múc nước từ thùng lạnh hắt thẳng vào ổ trục sắt đang đỏ lựng.

“Xèo… xèo!”

Làn khói nước sôi bùng lên mù mịt, phả ra luồng khí nóng rát mặt. Cụ Chử Đình Luân đứng bên chõng tre khẽ lắc đầu, trong mắt lão thợ già tám mươi sáu tuổi ánh lên vẻ xót xa cho một kẻ dại dột về tính kim khí. Cụ thấu suốt đạo lý của sắt thép ngàn đời: gang thép gặp nhiệt nung đỏ mà đột ngột dội nước lạnh thì thớ kim loại co rút tức thời, sinh ra nội lực xé toạc, khiến kết cấu trở nên giòn vụn cục bộ.

Cụ Luân bước từng bước vững chãi ra mép kỳ đài, khoanh hai tay trước ngực, giọng nói hào sảng ngân vang át cả tiếng ồn ào “Dừng tay lại, khách phương xa! Càng dội nước, cỗ máy của các người càng chóng vỡ vụn mà thôi!”

Pierre Dubois quay phắt lại, mắt vằn tia máu: “Lão già, ngươi biết cái gì? Máy móc của ta đúc bằng thép cứng nhất phương Tây!”

Cụ Luân mỉm cười điềm đạm, đưa ngón tay gầy guộc nhưng đanh chắc chỉ thẳng vào hộp số đang giật nảy từng hồi “Thép cứng đến đâu mà không có tính đàn hồi nhu thuận thì cũng chỉ là thứ giòn gãy. Cỗ máy của ông cậy sức nặng c**ng b*c của guồng nước sông Hiến, ép các bánh răng quay trong thế nghiền xé thô bạo. Hạt thóc lúa trời bọc giáp vỏ dày cứng như đá cuội, khi chui vào rãnh sắt bị nung nóng thì trơ ra như sỏi. Nhìn kỹ đi, ba chiếc răng trên bánh đà truyền động của ông đã mẻ rụi từ cái rắc ban nãy rồi!”

Lời cụ Luân vừa dứt, Pierre Dubois giật thót mình, vội dí sát mắt nhìn vào khe hở hộp số. Quả nhiên, ba chiếc răng sắt đúc dày dặn đã bị bẻ gãy ngọt xớt, để lại những vết nứt lởm chởm đỏ sậm rỉ sét do quá nhiệt.

Mất đi ba chiếc răng then chốt, cỗ máy Cự Lôi Xa hoàn toàn mất cân bằng lực. Mỗi vòng quay của guồng nước dội xuống khiến trục máy lệch tâm, va đập liên hồi vào thành giá đỡ tạo nên những chấn động kinh hoàng. “Keng! Cạch! Rầm!” Thân máy đồ sộ chao đảo ngả nghiêng, các đai ốc và chốt hãm rung lắc bần bật rồi dần lỏng lẻo trượt ra khỏi đường ren.

Trấu vụn và bụi cám cháy đen bị luồng gió ma sát thổi tung, bay mù mịt rồi bắn thẳng vào mặt đám thợ ngoại bang. Mấy tên thợ phụ ôm mặt rú lên đau đớn vì bị bụi nóng táp vào mắt, vấp ngã dúi dụi trên sàn bến. Cả dàn máy sắt oằn mình r*n r*, phát ra từng hồi khục khặc nghẹn ứ, lượng thóc lúa trời đổ vào phễu bị kẹt cứng lại thành từng mảng cháy sém.

Trái ngược với cảnh hỗn loạn khói lửa của cỗ máy Tây Vực, ở góc đài bên này, chiếc cối tre nện đất của thôn Diên Cối vẫn vận hành êm ru.

Tiếng cối quay “ù… ù…” trầm đục, nhịp nhàng như nhịp đập của đất mẹ châu thổ. Minh Viễn cùng hai người bạn thợ bãi bồi vững như kiềng ba chân, bước chân khoan thai nương theo giằng cối. Dưới sự điều phối khéo léo của cụ Luân, từng nắm thóc lúa trời trút xuống đều đặn.Khối đất gan gà luyện nhuyễn cùng tro trấu, xơ dừa và mật mía theo thuật “Tam Thổ Quy Nhất” phát huy trọn vẹn sự kỳ diệu của bách nghệ dân gian. Khối đất nén vừa đầm chắc vừa xốp mềm, nuốt trọn mọi lực rung xóc, tản nhiệt mau lẹ vào không gian oi ả của trưa hè. Mười tám thoi dăm gỗ nghiến “Thập Bát Long Cốt” ngâm bùn ba mươi năm cắn sâu vào cối dưới, mặt gỗ nhẵn bóng lướt qua lớp vỏ giáp thô ráp, khéo léo bóc tách từng hạt ngọc thực mà không hề suy suyển một vết sứt mẻ.

Từng dải gạo trắng ngà, đanh chắc nối nhau tuôn trào rào rào xuống lòng nong tre, tỏa ra hương cám lúa trời ngọt lành thanh mát, xua tan mùi khét lẹt nồng nặc đang bao trùm kỳ đài.

Dân chúng đôi bờ sông Hiến chứng kiến cảnh tượng đối lập ấy thì vỗ tay reo hò dậy sóng “Kìa, cối đất làng Diên Cối xay xong hộc thóc cuối cùng rồi!”

“Tuyệt diệu thay! Cối tre quay êm ru, còn máy sắt bốc khói như đống rơm cháy!”

Minh Viễn buông giằng cối, khẽ nghiêng mình gạt những hạt thóc cuối cùng từ mép cạp tre. Chàng đưa tay quệt mồ hôi trên trán, mỉm cười nhìn ông nội. Toàn bộ năm mươi hộc thóc lúa trời giao cho bên Diên Cối đã được bóc sạch vỏ trấu trọn vẹn, không hề ngừng nghỉ, không một chiếc dăm nào bị lung lay.

Trong khi đó, bên giàn máy Cự Lôi Xa, Pierre Dubois đành phải run rẩy kéo cần ngắt guồng nước. Cỗ máy sắt gục xuống như một con thú kim loại kiệt sức, khói dầu đen ngòm vẫn bốc lên nghi ngút từ những chiếc răng gãy vỡ.

Trên kỳ đài, Quan Khâm Sai Lê Khắc Thuần đứng bật dậy, chòm râu ba chòm rung rinh xúc động. Ngài bước xuống sàn đấu, đưa tay sờ vào vành cối đất nén vẫn mát rượi của họ Chử, rồi lại nhìn đống sắt vụn gãy răng đang bốc khói bên kia.

Khâm sai Lê Khắc Thuần dứt khoát cầm chiếc búa gỗ gõ mạnh xuống mặt bàn hương án “Bản quan tuyên bố, vòng thi thứ hai thử thách sức bền bỉ vận hành liên tục: Chiếc cối tre nện đất của làng Diên Cối giành chiến thắng tuyệt đối!”

Tiếng hò reo của hàng vạn nông phu và thợ thủ công vang dội khắp bến sông Hiến, tiếng trống lệnh điểm giòn giã làm bừng sáng cả một góc trời.

Pierre Dubois đứng chết lặng, hai tay buông thõng, gương mặt xám ngoét không còn một giọt máu. Gã nhìn ba chiếc răng sắt gãy nằm trơ trọi trên sàn gỗ mà run rẩy, sự ngạo mạn của kẻ tôn sùng kim khí hoàn toàn sụp đổ trước tri thức đất nén của người thợ già bản xứ.

Bất thần, Trần Bá Hộ từ phía sau lảo đảo xông lên. Mặt gã béo tròn bóng nhẫy mồ hôi, chiếc áo gấm tía xộc xệch, đôi mắt hằn lên những tia máu cuồng loạn. Gã gạt phắt đám gia đinh, lớn tiếng gào the thé giữa công đường “Khoan đã! Chưa thể định đoạt được! Thưa Khâm sai đại nhân, chạy bền mới chỉ là công sức chân tay thô lậu! Bản khế ước kho lương triều đình quý ở hạt gạo ngọc thực dâng lên đấng chí tôn! Vòng thi thứ ba phân định phẩm chất hạt gạo và thi thổi cơm tiến triều mới là gốc rễ sống còn của đại hội này!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.