Chương 5: Bát Mì Tôm Nguội Ngắt

Bóng tối đặc quánh như một tấm màn nhung ướt át trùm kín gian phòng khách ngõ Hàng Bông, bóp nghẹt từng nhịp thở yếu ớt của ông lão tám mươi chín tuổi. Bàn chân khập khiễng của ông Điền va mạnh vào góc phản gỗ, cơn đau từ khớp gối phải thoái hóa nhói buốt lên tận óc khiến ông lảo đảo suýt ngã quỵ. Hai cánh tay gầy guộc run rẩy quờ quạng trong không trung, các đầu ngón tay chai sạn va quẹt vào bề mặt bàn trà, gạt đổ chén nước rỗng kêu lạch cạch trước khi chạm trúng bao diêm Thống Nhất nằm nép sát mép gỗ.

Bằng tất cả sự hoảng loạn của kẻ mắc chứng sợ bóng tối từ thời chiến tranh bom đạn, ông quẹt vội que diêm. Lửa bùng lên le lói, soi rõ khuôn mặt nhăn nheo đầm đìa mồ hôi hột và tròng kính lão gọng đồi mồi lệch xẹo. Nhờ đốm sáng chập chờn trước khi que diêm lụi tàn, ông Điền lập cập cắm phích chiếc đèn bàn con ở góc tủ. Ánh sáng vàng vọt bừng nở, xua tan khoảng tối ghê rợn nhưng không xua nổi sự lạnh lẽo đang thấm sâu vào bốn bức tường vôi lở loét. Cả đêm hôm ấy, ông ngồi bó gối trên phản gỗ, trân trân nhìn ngọn đèn leo lét, nghe tiếng gió mùa hè lùa qua khe cửa chớp rít lên từng hồi cô quạnh.

Thoắt cái, một tuần trôi qua tựa như một cơn ác mộng dài dằng dặc.

Căn nhà cổ hai tầng vốn ấm áp hơi người nay bỗng trở nên ngột ngạt và bừa bãi đến thảm hại. Dưới tầng một, bụi bặm bám thành một lớp mờ đục trên mặt tủ chè và những cuộn dây đồng ngổn ngang. Mùi nhựa thông khét lẹt thường ngày bị thay thế bởi mùi ẩm mốc của quần áo bẩn dồn ứ góc nhà và mùi tanh tao từ bồn rửa bát ngập đầy xoong chảo chưa cọ. Vết bỏng nhẹ ở lòng bàn tay phải từ hôm bắc ấm nước cháy vẫn còn đỏ rát, tróc từng mảng da khô ráp.

Đồng hồ quả lắc điểm mười hai giờ trưa. Ông Điền ngồi thừ người bên bàn trà, đôi mắt kèm nhèm nhìn chằm chằm vào bát mì tôm đặt trước mặt. Nước sôi đổ vội từ chiếc phích nước rỉ sét không đủ độ nóng, khiến những sợi mì vàng chỉ nở dở dang, nửa mềm nhũn, nửa còn lại sượng cứng chìm nghỉm dưới làn nước dùng đục ngầu lõng bõng mỡ. Vài cọng hành hoa héo úa nổi lềnh bềnh trên mặt bát, do chính bàn tay run rẩy vụng về của ông dùng dao cùn băm vội lúc nãy.

Ông Điền cầm đôi đũa tre, gắp một vắt mì đưa lên miệng. Sợi mì trơn tuột rơi tõm xuống lòng bát, bắn vài giọt nước mặn chát lên vạt áo may ô đã ố vàng. Cố ép mình nuốt xuống một miếng, nhưng cổ họng ông nghẹn ứ, vị bột ngọt lờ lợ cùng cái nguội ngắt của bát mì khiến dạ dày ông cồn cào buồn nôn. Suốt sáu mươi lăm năm qua, chưa từng có một bữa trưa nào ông phải ăn thứ đồ ăn tạm bợ này. Cứ đúng cữ mười một giờ rưỡi, bà Mai đã bưng lên mâm cơm tươm tất với bát canh rau ngót nấu thịt băm ngọt lịm, đĩa đậu phụ rán vàng giòn rụm và bát cơm gạo tám thơm dẻo bốc khói nghi ngút. Ông chỉ việc buông mỏ hàn, rửa tay rồi ngồi vào mâm cằn nhằn đôi câu về cọng rau hơi già hay hạt cơm hơi khô. Giờ đây, đối diện với bát mì tôm trương phềnh giữa bốn bức tường câm lặng, từng miếng nuốt vào chỉ toàn đắng đót.

Buông đũa xuống bàn trà nghe cạch một tiếng, sự bức bối và ngột ngạt dồn ứ khiến lồng ngực ông Điền tức nghẹn. Căn nhà quá mức tĩnh mịch, tĩnh mịch đến mức tiếng một con thạch sùng tặc lưỡi trên xà nhà cũng khiến ông giật thót tim. Thèm một hơi người, thèm nghe một tiếng nói cười để xua đi sự quạnh quẽ, ông Điền xỏ đôi dép lê mòn gót, khập khiễng bước ra khỏi cửa ngõ Hàng Bông.

Nắng trưa gay gắt rọi xuống lòng ngõ sâu hun hút. Ông Điền men theo bóng râm của những bức tường rêu phong, hướng về quán nước chè chén của bà Thoa ở đầu ngõ. Nhưng vừa bước tới gần gốc cây bàng râm mát, bước chân tập tễnh của ông bỗng khựng lại sau bức tường hoa rào chắn.

Từ chiếc bàn gỗ tạp con con, tiếng xì xào bàn tán của mấy người hàng xóm quen mặt lọt thẳng vào tai ông “Gớm, nghe đâu bà Mai xách va ly bỏ lên tận Mộc Châu cả tuần nay rồi đấy! Bà ấy nhẫn nhịn cả đời hầu hạ chồng con, thế mà đùng cái dứt áo ra đi, chắc phải uất ức ghê gớm lắm.”

“Thì ông Điền xưa nay nức tiếng gia trưởng, khó tính nhất cái phố Hàng Bông này còn gì! Cứ cậy mình có hoa tay sửa đài rồi hạch sách vợ đủ điều. Giờ gần chín mươi tuổi đầu, sắp xuống lỗ đến nơi rồi mà để vợ bỏ nhà đi, thật chẳng còn mặt mũi nào với con cháu!”

Từng lời nói cay nghiệt như những mũi kim đâm thẳng vào lòng tự ái cao ngút trời của ông lão Tràng An. Máu trong người dồn lên mặt, khiến đôi gò má nhăn nheo đỏ bừng vì xấu hổ. Hai bàn tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào mép túi quần. Ông toan quay lưng bỏ về để trốn tránh những ánh nhìn soi mói, nhưng thói sĩ diện cố hữu mách bảo rằng nếu lủi thủi quay đi, chẳng khác nào thừa nhận mình là kẻ chiến bại thảm hại.

Ông Điền hắng giọng một tiếng thật to, cố rướn thẳng sống lưng còng rồi bước ra khỏi bóng râm, tiến lại chiếc ghế nhựa “Cho tôi chén trà nóng nào, cô Thoa.”

Tiếng bàn tán lập tức im bặt. Mấy người phụ nữ đưa mắt nhìn nhau đầy ngượng ngập. Bà Thoa chủ quán lúng túng rót chén nước chè tươi đặc sánh, đưa hai tay mời ông Điền rồi cười gượng gạo dò hỏi “Cụ Điền đấy à… Dạo này ngõ vắng bóng cụ bà, chúng cháu cứ tưởng bà Mai đi đâu vắng?”

Ngồi xuống ghế, khớp gối đau nhức như có dằm đâm, nhưng ngoài mặt ông Điền vẫn giữ vẻ thản nhiên, môi nhếch lên nụ cười trừ gượng gạo “À, bà nó lên Mộc Châu chơi với con bé Chi ít bữa! Trời Hà Nội đầu hè oi bức quá, con bé nó đón bà nội lên đồi mận hóng gió non cho mát mẻ, khuây khỏa tuổi già ấy mà. Người già chúng tôi thích đi đây đi đó cho thư thái đầu óc, chứ có việc gì đâu mà các cô phải bận tâm!”Buông lời chống chế xong xuôi, ông Điền nâng chén chè lên nhấp một ngụm. Nước chè chát ngắt đọng lại nơi đầu lưỡi, đắng ngắt cuống họng. Nhìn vẻ mặt nửa tin nửa ngờ của chòm xóm, ông biết chút sĩ diện Tràng An của mình lúc này mỏng manh chẳng khác nào mảnh giấy quyến trước gió bão. Không thể ngồi nán lại thêm một giây phút nào nữa, ông rút tờ tiền lẻ đặt vội lên mặt bàn “Tôi gửi tiền chén chè nhé. Nồi cơm ở nhà đang cắm dở, tôi phải về ngó chừng.”

Khập khiễng bước vội về nhà, cơn đau từ khớp gối phải hành hạ khiến từng bước chân của ông Điền run rẩy trĩu nặng. Cánh cửa gỗ ngõ Hàng Bông vừa khép lại sau lưng, lớp vỏ bọc cứng cỏi, cao ngạo lập tức vỡ vụn. Ông sụp xuống chiếc ghế mây cạnh bàn làm việc, th* d*c từng cơn nặng nhọc, mồ hôi đầm đìa hai bên thái dương bạc trắng.

Khớp chân nhức buốt dữ dội. Theo thói quen, ông Điền với tay kéo ngăn kéo dưới của chiếc tủ gỗ gụ để tìm hộp cao dán giảm đau. Nhưng bên trong ngăn kéo không có hộp cao nào cả, chỉ có mớ hóa đơn tiền điện nước cũ kỹ. Trong lúc quờ quạng sâu vào góc kẹt bàn làm việc, những ngón tay gầy guộc bất chợt chạm phải một vật cộm lên dưới tấm bìa cứng.

Đó là một cuốn sổ tay nhỏ bìa giấy xi măng đã sờn rách bốn góc, mép giấy ngả màu vàng ố của thời gian.

Ông Điền nheo đôi mắt kèm nhèm sau tròng kính lão, nhận ra ngay nét chữ quen thuộc của vợ kẹp giữa những trang giấy. Lật giở từng trang đầu, đó là những dòng ghi chép chi tiêu chi li từng hào, từng đồng thời bao cấp khốn khó: tiền mua nửa lạng thịt nạc, tiền đong mười cân gạo mậu dịch, tiền mua quyển vở cho anh Toàn vào lớp một. Nhưng khi lật sang những trang cuối cùng được viết bằng nét mực bi xanh gần đây, cả người ông Điền bỗng chốc cứng đờ như hóa đá.

Đập vào mắt ông không phải là những con số tính toán chợ búa, mà là những dòng dặn dò nắn nót, tỉ mỉ đến từng chi tiết vụn vặt “Cữ sáng: Sau khi ông Điền ăn sáng xong lúc bảy giờ, phải đưa ngay một viên thuốc huyết áp màu vàng. Tính ông hay quên, để thuốc trên bàn là ông gạt đi không chịu uống.

Cữ tối: Trước khi đi ngủ, nhớ xoa bóp dầu tràm rồi bóc miếng cao dán vào khớp gối chân phải cho ông. Trời trở gió gối ông nhức lắm, hay cáu bẳn.

Nấu nướng: Ông Điền bị huyết áp cao và tim mạch, nấu canh tuyệt đối không được nêm mặn. Thịt cá phải kho nhạt, bớt muối bớt mắm, ông có chê nhạt miệng cũng phải dỗ ông ăn.

Trà sen: Tráng ấm bằng nước sôi già lúc sáu giờ sáng, ủ trà năm phút rồi mới rót, để nguội ông không uống.

Đèn hành lang: Ông Điền mắc chứng sợ bóng tối từ thời chiến tranh bom đạn. Chiều chập choạng khoảng sáu rưỡi tối là phải nhớ bật ngọn đèn vàng ở chân cầu thang và góc bếp, kẻo ông đi lại trong tối quờ quạng ngã gãy xương…”

Từng nét chữ run run của người phụ nữ tám mươi sáu tuổi hiện lên rõ mồn một trước mắt, tựa như hàng ngàn nhát búa nện thẳng vào lồng ngực già nua của ông Điền.

Hóa ra suốt sáu mươi lăm năm qua, những cữ thuốc đúng giờ, những bữa ăn vừa miệng, ngọn đèn hành lang luôn ấm áp xua đi nỗi kinh hoàng bóng tối… chưa từng là điều hiển nhiên của trời đất. Đó là sự nhẫn nại, là tình nghĩa tào khang và sự chăm sóc lặng thầm đến kiệt cùng của một người đàn bà mà ông luôn coi là cái bóng mờ nhạt sau lưng mình. Suốt cả một đời làm chồng, ông chưa từng một lần hỏi xem lưng bà có mỏi khi gánh nước, khớp tay bà có đau khi giặt giũ mùa đông, hay bà thích ăn món gì mỗi độ giáp hạt. Ông chỉ biết đón nhận sự hy sinh của bà như một lẽ đương nhiên của kẻ làm chủ gia đình, rồi thản nhiên đem vứt chiếc hộp kỷ vật thanh xuân cả đời bà trân quý ra thùng rác đầu ngõ.

Nỗi ân hận tột cùng đan xen với sự hoang mang cực độ trào dâng, bóp nghẹt lồng ngực ông lão tám mươi chín tuổi. Giọt nước mắt già nua hiếm hoi ứa ra từ khóe mắt đục ngầu, lăn dài trên những nếp nhăn nheo cằn cỗi rồi rơi xuống làm nhòe đi dòng chữ “ông Điền hay quên”.

Bà Mai không hề giở thói dỗi hờn trẻ con. Bà cũng không hề lên Mộc Châu chơi dăm bữa nửa tháng rồi lóc cóc quay về như ông từng huênh hoang chống chế trước mặt con trai. Người đàn bà ấy đã thực sự dứt áo ra đi, để lại ông trơ trọi, cô độc giữa bốn bức tường câm lặng lạnh ngắt như hầm băng.

Sự tĩnh mịch rợn ngợp lại ùa về, bóp siết không gian. Run rẩy và bấn loạn, ông Điền quờ tay bật công tắc chiếc đài radio bán dẫn đặt trên bàn trà, thèm khát một chút thanh âm con người để xé toạc nỗi cô đơn đang bủa vây.

Nhưng chiếc đài cổ vừa bật lên chỉ phát ra một tiếng rè dài chói tai, nghẹn ứ rồi phụt tắt ngấm do đứt nguồn điện. Không gian rơi tõm vào câm lặng tuyệt đối. Mặt kính bảo vệ của chiếc đài nguội ngắt phản chiếu gương mặt già nua, hoảng hốt và bất lực của ông Điền giữa bóng chiều chập choạng đang dần buông xuống ngõ sâu.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.