Chương 4: Căn Nhà Thiếu Hơi Ấm

Tiếng cánh cửa gỗ hai cánh va mạnh vào khung phát ra một âm thanh khô khốc, chặt đứt màn mưa trắng xóa ngoài ngõ Hàng Bông với khoảng không tĩnh mịch bên trong nhà. Căn phòng tầng một bỗng chốc ngột ngạt đến khó thở. Ông Điền vẫn đứng chôn chân bên cạnh bàn làm việc, đôi bàn tay đồi mồi buông thõng, trân trân nhìn then cài cửa bằng sắt hoen gỉ vừa rung lên bần bật rồi nằm im lìm.

Cái lạnh ẩm ướt của cơn mưa ngâu luồn qua khe cửa gỗ, phả vào sống lưng đã còng. Mất vài tích tắc ngơ ngẩn, cơn giận cùng nỗi tự ái gia trưởng của một lão già tám mươi chín tuổi lại bùng lên thiêu đốt tâm can. Ông hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng, giọng khàn đặc lầm bầm giữa bốn bức tường vôi ố vàng “Đi thì đi! Để xem cái thân già tám mươi sáu tuổi xách va ly chịu rét được mấy ngày!”

Ông Điền tự nhủ mình việc gì phải nao núng. Sáu mươi lăm năm qua, căn nhà này là của ông, chiếc phản gỗ giữa gian là giang sơn của ông, hà cớ gì phải chịu đựng sự cằn nhằn suốt ngày của một bà già cổ hủ? Càng vắng người, tai ông càng được thanh tịnh. Nghĩ đoạn, ông khập khiễng kéo thùng cáctông chứa bóng đèn chân không 6V6 từ gầm bàn ra, thẳng tay trút hàng chục chiếc bóng thủy tinh, biến áp cùng mớ cuộn cảm, dây đồng ngoằn ngoèo lên khắp mặt phản gỗ. Trước kia, mỗi lần ông vừa đặt một cuộn thiếc hàn hay mẩu dây điện lên phản, bà Mai đã lập tức càu nhàu, lấy giẻ lau sạch bóng vì chê bẩn chỗ ngả lưng. Giờ thì hay rồi, không còn ai xoi mói, ông thích bày biện bừa bãi thế nào tùy ý. Cảm giác hả hê vụt lóe lên trong chốc lát, như thể ông vừa giành lại được toàn bộ quyền tự do của đời mình.

Thế nhưng, cảm giác thỏa thuê ngắn chẳng tày gang.

Chưa ngồi cặm cụi nắn lại chân cắm bóng đèn được bao lâu, khớp gối chân phải của ông Điền đã nhói buốt dữ dội. Cơn đau thoái hóa khớp gặp hơi ẩm của trận mưa rào bắt đầu cắn rứt từng thớ thịt. Ông nhăn nhó mặt mày, buông chiếc tuốcnơvít xuống mặt phản, chống hai tay vào đầu gối cố gượng đứng dậy. Theo thói quen, ông há miệng định gọi với ra sau bếp bảo bà Mai lấy cho miếng cao dán, nhưng chữ “Bà…” vừa chực thốt ra đã nghẹn ứ nơi đầu lưỡi.

Không có ai đáp lại. Chỉ có tiếng thạch sùng tắc lưỡi lẻ loi trên xà nhà.

Ông Điền lặc lè bước từng bước tập tễnh về phía chiếc tủ chè khảm ốc. Ông quờ tay lục lọi khắp các ngăn kéo nhỏ. Ngăn thứ nhất toàn hóa đơn tiền điện cũ và kẹp ghim hoen gỉ. Ngăn thứ hai bừa bãi mấy cuộn băng dính điện đen sì. Mọi bận, cứ mỗi khi trời trở gió hay sấm chớp đổ mưa, bà Mai đã lẳng lặng bóc sẵn miếng cao dán thảo dược, xoa chút dầu tràm ấm nóng rồi dán nhẹ vào khớp gối cho ông trước khi ông kịp cất lời than thở. Vậy mà lúc này, tìm mỏi cả mắt, lật tung từng hộc tủ con, ông Điền chẳng thể tìm thấy lọ cao dán quen thuộc nằm ở xó xỉnh nào. Cơn đau khớp âm ỉ cộng với nỗi bực dọc vô cớ khiến trán ông lấm tấm mồ hôi hột.

Gần trưa, cái bụng lép kẹp bắt đầu réo rắt từng cơn. Bữa sáng còn chưa có hạt cơm nào vào bụng, ông Điền đành phải kéo lê bước chân xuống gian bếp ẩm mốc ở góc nhà.

Gian bếp lạnh tanh, không một chút khói ấm. Chiếc ấm nhôm Liên Xô nằm trơ trọi bên cạnh bếp ga du lịch cũ kỹ. Ông Điền vặn vòi nước, đổ lưng ấm rồi bật lửa đun, định bụng pha ấm trà sen uống cho ấm bụng trước khi tìm cái gì lót dạ. Đặt ấm nước lên kiềng sắt xong, ông quay lại phản gỗ để chấm nốt mối hàn còn dở tay. Nào ngờ, mải mê với giọt thiếc nóng chảy và mùi nhựa thông khen khét, ông quên bẵng mất ấm nước đang reo.

Cho đến khi mùi kim loại cháy khét lẹt xộc thẳng vào mũi, kéo theo tiếng xèo xèo khô khốc từ gian bếp vọng lên, ông Điền mới giật mình ném phắt mỏ hàn lên mảnh ngói vỡ. Ông hốt hoảng khập khiễng lao xuống bếp. Chiếc ấm nhôm đã cạn trơ đáy tự bao giờ, đáy ấm cháy đen sì, bốc lên những làn khói ngột ngạt. Ông luống cuống lấy tay không nhấc quai ấm, cái nóng bỏng rát khiến ông giật bắn người, suýt nữa đánh rơi cả ấm xuống sàn gạch.

“Rõ khỉ gió!” — Ông Điền xuýt xoa bàn tay tấy đỏ, bực bội mắng vu vơ một câu.

Bỏng rát tay nhưng bụng đói cồn cào vẫn không tha cho ông lão gần chín mươi tuổi. Không có trà, ông đành mở thùng tôn đong gạo nấu cơm. Đong mấy bát gạo thì vừa một người ăn? Đổ bao nhiêu nước thì cơm chín tới? Suốt hơn sáu thập kỷ, việc bếp núc vốn là giang sơn riêng của bà Mai, ông Điền chưa từng một lần phải bận tâm nhúng tay vào. Ông áng chừng múc hai bát gạo đổ vào nồi cơm điện, rồi tiện tay xả vòi nước ngập quá nửa lòng nồi.

Hơn nửa tiếng sau, nồi cơm nhảy nấc. Khi ông Điền hăm hở mở nắp vung, một luồng khói nồng nặc mùi khê xộc thẳng vào mắt khiến ông cay xè sống mũi. Nhìn vào bên trong, lớp cơm phía trên nhão nhoét như cháo đặc, còn lớp đáy bên dưới thì cháy đen thui, bốc mùi khét lẹt. Nhìn bát cơm nửa sống nửa nát do chính tay mình run rẩy xới ra, ông Điền nghẹn ứ họng. Ông gắp một miếng đưa vào miệng, nuốt không nổi mà nhổ ra cũng không xong. Sự bất lực trào dâng, khiến đôi vai gầy của ông chùng hẳn xuống.

Đúng lúc ấy, ngoài ngõ Hàng Bông vang lên tiếng xe máy phanh kít. Cánh cửa gỗ bị người bên ngoài đập dồn dập kèm theo tiếng gọi thất thanh:“Bố ơi! Bố có nhà không? Bố mở cửa cho con!”

Ông Điền nhận ra ngay giọng của con trai trưởng. Ông buông đũa, khập khiễng ra mở then cài. Cửa vừa hé, anh Toàn — cán bộ hưu trí năm mươi tám tuổi — đã hớt hải bước xộc vào nhà, trên trán còn ướt đẫm mồ hôi dù trời vẫn đang lất phất mưa.

Vừa nhìn thấy cảnh tượng bừa bãi dưới tầng một và ngửi thấy mùi cơm khê nồng nặc, anh Toàn đưa mắt nhìn bố, giọng đầy trách móc “Bố ơi là bố! Sao bố lại để mẹ xách va ly bỏ đi như thế hả bố? Cháu Chi vừa gọi điện từ Mộc Châu báo con mới biết chuyện! Cả cái ngõ Hàng Bông này người ta đang xì xào bàn tán ầm ĩ lên kia kìa! Già đầu tám mươi mấy tuổi, gần đất xa trời đến nơi rồi mà còn ly thân với bỏ nhà đi! Bố không giữ thể diện cho mẹ thì cũng phải nghĩ đến mặt mũi của con cái chứ, mai mốt con còn nhìn mặt họ hàng chòm xóm ra sao?”

Nhìn vẻ đĩnh đạc thường ngày của con trai biến đâu mất, chỉ còn lại sự sốt ruột và những lời chỉ trích gay gắt, ngọn lửa tự ái của ông Điền lập tức bốc ngùn ngụt. Đôi mắt kèm nhèm sau cặp kính lão gọng đồi mồi nheo lại, ông đập mạnh bàn tay gầy guộc xuống mép bàn trà “Anh Toàn! Anh vừa phải thôi! Anh sang đây để làm con hay để làm bố cái nhà này đấy? Bố nuôi anh khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho anh đàng hoàng, không phải để bây giờ anh về đây vỗ mặt bố!”

Anh Toàn thở dài đánh thượt, cố nén giọng phân trần “Con không có ý hỗn với bố! Nhưng tính bố bao năm nay gia trưởng, độc đoán quá quắt! Mẹ đã nhẫn nhịn phục vụ bố cả một đời, thế mà có chiếc hộp kỷ vật thời trẻ mẹ nâng niu, bố cũng tiện tay đem vứt ra thùng rác cho bằng được! Bố xem, bây giờ mẹ giận mẹ bỏ lên tận trên Mộc Châu với cháu Chi rồi, bố vừa lòng chưa?”

Nghe con trai nhắc đến việc vợ đã lên Mộc Châu náu mình ở homestay của đứa cháu gái, trong lòng ông Điền khẽ chấn động một nhịp. Hóa ra bà ấy không đi lang thang ngoài đường gió rét, mà đã chạy lên tít non cao với con bé Chi. Nhưng ngoài mặt, tính bảo thủ cố hữu quyết không cho phép ông tỏ ra yếu thế trước mặt con cái. Ông xua tay đuổi thốc tháo “Anh không phải nói nhiều! Mẹ anh chẳng qua chỉ giở thói dỗi hờn trẻ con, lên trên ấy chơi với con Chi dăm bữa nửa tháng cho khuây khỏa thôi! Không có tôi, không có cái nóc nhà ngõ Hàng Bông này bao bọc, bà ấy đi được bao lâu? Để rồi xem, ở trên núi heo hút được vài ba hôm, nhớ nếp nhà, nhớ chồng con, lại chả lóc cóc xách va ly về đây nấu cơm cho tôi ngay! Anh về nhà anh đi, việc của hai thân già này chưa đến lượt anh dạy đời!”

Thấy bố vẫn một mực ngoan cố, bảo thủ không chịu nhận sai, anh Toàn chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Biết không thể lay chuyển được bức tường thành tự ái của ông cụ tám mươi chín tuổi, anh Toàn buông một tiếng thở dài não nuột rồi lẳng lặng dắt xe ra về.

Tiếng động cơ xe máy của con trai nhỏ dần rồi tắt hẳn ngoài đầu ngõ. Cánh cửa gỗ lại khép lại. Không gian rơi tõm vào sự cô quạnh tuyệt đối.

Màn đêm mùa hè nhanh chóng buông xuống ngõ Hàng Bông. Căn nhà cổ hai tầng chìm dần vào bóng tối đen đặc quánh.

Từ thời trai trẻ trải qua những năm tháng bom đạn ác liệt, ông Điền đã mắc chứng sợ bóng tối; cứ hễ bước vào nơi tối om là lồng ngực ông lại thắt nghẹn, tim đập dồn dập trong nỗi hoang mang tuổi già. Thường ngày, khi ráng chiều vừa tắt, bà Mai đã quen tay bật sẵn ngọn đèn vàng ấm áp nơi góc cầu thang và hành lang dẫn ra bếp. Nhưng tối nay, cả căn nhà tối đen như mực, lạnh ngắt không một bóng người.

Ông Điền đứng giữa gian nhà, đôi chân đau nhức run rẩy. Ông đưa hai bàn tay gầy guộc quờ quạng men theo vách tường ẩm mốc, cố tìm vị trí chiếc công tắc điện hành lang. Những ngón tay chai sần rà soát từng mét tường vôi bong tróc, chạm phải mạng nhện giăng mắc và lớp bụi bặm lạnh lẽo, nhưng tìm mãi, tìm mãi vẫn chẳng thấy chiếc công tắc nằm ở đâu. Suốt sáu mươi lăm năm qua, bàn tay ông chỉ quen cầm mỏ hàn và chờ cơm bưng nước rót, chưa từng một lần phải bận tâm với tay bật ngọn đèn ấy. Đứng trơ trọi giữa khoảng tối mênh mông, nghe tiếng gió rít qua khe cửa chớp và tiếng mưa đêm rả rích, nỗi hoảng sợ lạnh buốt từ từ bóp nghẹt trái tim ông lão tám mươi chín tuổi.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.