Chương 23: Dò Đúng Tần Số Yêu Thương

Trước mắt ông Điền, vòm trời hoàng hôn Nà Ka như ngừng trôi giữa ráng đỏ bầm rực rỡ. Ông nín thở, hai vai khẽ so lại dưới làn gió lạnh đầu cữ tối, đôi mắt kèm nhèm sau tròng kính lão dán chặt vào từng cử động của người vợ tào khang. Bức thư ố vàng thời chiến năm một nghìn chín trăm năm mươi chín trên tay bà Mai khẽ lay động theo ngọn gió cao nguyên. Những nét mực Cửu Long nhòe đi dưới giọt nước mắt lăn dài qua khóe mắt nhăn nheo của bà, nhưng từng câu chữ vụng về, nồng cháy của chàng trai phố cổ thuở đôi mươi dường như đã vượt qua hơn sáu thập kỷ để chạm thẳng vào trái tim người đọc.

Bà Mai khẽ nâng vạt áo lau giọt lệ vương trên gò má, cẩn thận gấp bức thư theo từng nếp giấy cũ rồi đặt gọn gàng vào chiếc hộp nhôm mới sáng bóng. Ngước nhìn ông Điền, ánh mắt bà không còn nét lạnh lùng, xa cách của những ngày dứt áo ra đi, mà đong đầy vẻ xót xa và trìu mến.

Chậm rãi bước thêm một bước, bà Mai chủ động đưa bàn tay nhỏ nhắn nắm lấy bàn tay thô ráp, chai sần đầy sẹo mỏ hàn của chồng. Hơi ấm quen thuộc từ những ngón tay gầy guộc truyền qua da thịt khiến sống mũi ông Điền cay xè. Bà nghẹn ngào, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng rành rọt cất lên giữa vườn mận “Ông nó này… Bao nhiêu năm qua, em ngỡ lòng dạ anh chỉ có đống bóng đèn với mỏ hàn sắt vụn. Đọc xong bức thư này rồi… em hiểu hết rồi. Em không giận anh nữa đâu.”

Hai chữ “ông nó” cùng tiếng xưng “em” thân thương như làn nước mát lành tưới tắm mảnh đất tâm hồn cằn cỗi suốt chuỗi ngày qua của ông lão tám mươi chín tuổi. Ông Điền chớp chớp mắt, khóe miệng run rẩy chẳng thốt nên lời trọn vẹn, chỉ biết siết chặt lấy bàn tay vợ như sợ buông ra thì hạnh phúc muộn màng sẽ tan biến vào mây sương. Mọi gánh nặng dằn vặt, nỗi ân hận giày vò suốt những ngày lặn lội vượt đèo lên non cuối cùng đã được trút bỏ hoàn toàn.

Hoàng hôn dần buông xuống thung lũng. Hai mái đầu bạc trắng dắt tay nhau chậm rãi bước đi trên con đường mòn thoai thoải quanh triền đồi. Dưới chân họ, thung lũng Nà Ka bảng lảng khói lam chiều từ những nóc nhà sàn xa xa, bình yên đến lạ kỳ. Khớp gối chân phải của ông Điền dù vẫn còn dư âm của cú ngã hôm trước nhưng nhờ được xoa cao Sao Vàng ban sáng nên đã dịu hẳn, từng bước đi trở nên vững chãi hơn bên cạnh người bạn đời.

“Bà nó… à không, em này,” ông Điền ngượng ngùng sửa lại lời gọi, giọng khàn khàn nhưng chan chứa ân tình. “Suốt sáu mươi lăm năm ở căn nhà ngõ Hàng Bông, anh gia trưởng quá. Hễ bước chân về đến cửa là đòi cơm bưng nước rót, đài đóm hỏng thì cáu bẳn, chẳng bao giờ chịu hỏi xem em mỏi lưng hay mệt nhọc ra sao. Đến tận khi em bỏ đi, tự tay cầm chiếc chổi đót, tự nhóm dăm bào cháy xém cả râu tóc, anh mới thấm thía hết nỗi vất vả mà em phải gánh chịu một đời.”

Bà Mai khẽ mỉm cười, ánh mắt nhìn ra rặng núi xa xăm nơi ráng chiều đang tắt dần “Tính anh gàn dở, bảo thủ, em còn lạ gì. Ngày xưa bố mẹ gả em về phố cổ, bao phen em tủi thân khóc thầm bên bể nước mưa vì cái thói cộc cằn của anh. Nhưng em cũng có phần cố chấp, chuyện gì cũng nín nhịn giữ trong lòng rồi tự làm khổ mình. Mấy hôm nay ở đây, nhìn chậu nước ngải cứu anh đun nhờ con Chi mang sang, ngó sang chái bếp thấy anh lúi húi nhặt từng cọng rau cải ngồng tước xơ, em biết lòng anh đã thật sự đổi khác. Già rồi, gần đất xa trời, giữ mãi hờn giận làm chi cho nặng gánh.”

Gió lạnh vùng cao thổi lùa qua tán mận khẳng khiu khiến vạt áo dạ của ông Điền bay phần phật. Ông dừng chân, nhìn thẳng vào gương mặt hiền hậu của vợ, tha thiết nói “Từ nay về sau, việc nhà việc cửa anh sẽ đỡ đần cùng em. Anh không để em phải một mình lụi hụi nơi góc bếp nữa đâu. Mình cùng nhau sống những ngày tháng thanh thản nhất, em nhé?”

Bà Mai không đáp bằng lời, chỉ khẽ gật đầu, siết nhẹ bàn tay chồng. Khoảng cách địa lý gần hai trăm cây số và rạn nứt tưởng chừng không thể hàn gắn suốt sáu thập kỷ cuối cùng đã được nối liền bằng sự thấu hiểu và lòng bao dung trọn vẹn.

Đêm sập xuống thung lũng Nà Ka nhanh như chớp mắt. Gió mùa đông bắc rít từng cơn qua khe vách nứa, mang theo cái rét ngọt buốt da thịt của vùng cao nguyên. Sau khi tiễn bà Mai về buồng nghỉ ở homestay, ông Điền trở lại gian buồng gỗ nơi chái bếp nhà cụ Sùng A Vàng.

Đang lúc ông ngồi bên mép phản tháo đôi giày da sờn mép thì đột nhiên, một tiếng “tách” khô khốc vang lên từ chiếc đồng hồ điện đầu hồi. Toàn bộ bóng đèn trong bản Nà Ka vụt tắt ngấm. Màn đêm đen đặc như mực lập tức bao trùm lấy không gian, nuốt chửng vạn vật trong sự câm lặng đáng sợ.Ký ức kinh hoàng từ thời chiến tranh bom đạn năm xưa bỗng chốc dội về như thác lũ. Tiếng còi báo động rú rít trong tâm tưởng, cảm giác nghẹt thở dưới căn hầm trú ẩn tối tăm và nỗi cô độc quạnh quẽ trong căn nhà trống vắng ở Hàng Bông ùa đến bóp nghẹt lồng ngực già nua của ông. Cơn hoảng loạn khiến tim ông Điền đập loạn xạ, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo dạ dù ngoài trời gió rét căm căm. Ông co rúm người lại trên mép phản, hai tay ôm chặt lấy đầu gối run lẩy bẩy, hơi thở dồn dập đứt quãng giữa bóng tối dày đặc.

Đúng lúc ông Điền tưởng như mình sắp ngạt thở vì sợ hãi thì ngoài hiên vang lên tiếng bước chân vội vã. Cánh cửa liếp kẽo kẹt mở ra, mang theo một quầng sáng màu cam vàng ấm áp rọi thẳng vào gian buồng.

Bà Mai tay xách ngọn đèn bão bằng sắt tây, vạt áo len cài vội còn vương hơi sương, bước nhanh vào trong. Nhìn thấy dáng vẻ co ro, hoảng hốt của chồng, bà vội vã đặt ngọn đèn bão lên chiếc hòm gỗ đầu phản rồi ngồi xuống sát bên cạnh ông.

“Ông nó ơi! Em sang với anh đây!”

Bàn tay mềm mại của bà vội vã nắm chặt lấy đôi tay đang lạnh ngắt của ông Điền, kéo ông tựa vào bờ vai gầy nhưng vững chãi của mình. Giọng bà Mai dịu dàng như lời ru năm cũ “Bản trên bị đứt đường dây điện rồi. Em biết tính anh sợ tối nên vừa cúp điện là em mượn ngay ngọn đèn bão của con Chi chạy sang đây. Có em ở bên cạnh rồi, đừng sợ nữa nhé.”

Quầng sáng ấm áp của ngọn đèn bão xua tan bóng tối u ám nơi góc phòng, xua đi cả những ám ảnh kinh hoàng trong ký ức người lính thợ già. Cảm nhận hơi ấm thân thương và mùi dầu tràm quen thuộc từ manh áo của vợ, nhịp thở của ông Điền dần dần bình ổn trở lại. Ông ngẩng đầu lên, nhìn ngọn lửa vàng vợi đang bập bùng cháy sau lớp kính tròn, rồi nhìn sâu vào ánh mắt chan chứa tình thương của bà Mai. Một cảm giác an yên lạ kỳ lan tỏa khắp châu thân, khiến những khớp xương già nua dường như không còn buốt giá.

“Có em ở đây rồi… anh không sợ nữa,” ông Điền thì thào, khóe mắt lấp lánh ánh cười.

Tiếng cười nói rộn rã ngoài sân cắt ngang không gian tĩnh lặng. Cửa buồng lại mở rộng, anh Toàn và Mai Chi cùng bước vào, trên tay bưng mâm cơm nóng sốt nghi ngút khói thơm. Cụ Sùng A Vàng cũng xách theo ấm trà shan tuyết thơm ngát bước theo sau, miệng cười toe toét để lộ hàm răng ám khói thuốc lào.

“Bố mẹ ơi, cơm nước xong xuôi rồi ạ!” Anh Toàn tươi cười đặt mâm cơm lên chiếc chõng tre giữa phòng, ân cần kéo ghế cho bố mẹ. “Bát canh rau cải ngồng này là ngọn rau non ban chiều đích thân bố ngồi tước xơ đấy mẹ ạ. Con với bé Chi chỉ phụ nấu thôi.”

Mai Chi nhanh nhảu xới cơm ra từng chiếc bát sứ men hoa lam, mắt lấp lánh niềm vui “Ông nội thấy cháu tài không? Mất điện nhưng homestay nhà cháu lúc nào cũng sẵn đèn bão và bếp than hồng ấm sực. Cả nhà mình mau ăn cho nóng kẻo nguội mất!”

Dưới ánh đèn bão vàng vợi lung linh, gia đình ba thế hệ quây quần bên mâm cơm mộc mạc nơi góc chái bếp miền biên viễn. Không còn những khuôn phép gia trưởng khắt khe, không còn những lời càu nhàu hay sự giữ kẽ sĩ diện của người thành thị, chỉ có tiếng cười giòn giã, những lời gắp thức ăn ân cần và ánh mắt yêu thương chuyền nhau qua từng chén cơm nóng hổi.

Ngồi bên cạnh bà Mai, nhìn người vợ tào khang đang mỉm cười thanh thản gắp cho mình miếng cá suối rán giòn, trong lòng ông Điền trào dâng một niềm hạnh phúc viên mãn khôn cùng. Ông ngước nhìn quầng sáng ấm áp của ngọn đèn bão đang soi tỏ những gương mặt rạng rỡ của con cháu, thầm đếm từng giờ trôi qua trong đêm lạnh, hồi hộp chờ đón ánh nắng ban mai sẽ rọi sáng buổi lễ kỷ niệm đám cưới kim cương trọng đại giữa thung lũng mận Nà Ka.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.