Chương 20: Gò Lại Kỷ Vật
Đợi đến khi cánh cửa buồng gỗ của bà Mai khép hẳn, ánh đèn ngủ hắt qua khe liếp chỉ còn một quầng sáng mờ dịu, ông Điền mới khó nhọc xoay người, chống gậy trúc lần từng bước qua bờ rào mận. Gió đêm cao nguyên rít từng cơn buốt lạnh qua kẽ lá, nhưng lồng ngực gầy guộc của ông lão tám mươi chín tuổi lại ấm sực một luồng sinh khí lạ kỳ. Cái gật đầu khẽ khàng của người vợ tào khang sau bao ngày xa cách như gột sạch nỗi tủi hổ, tiếp thêm cho ông sức lực để bước đi trên đoạn dốc đá dăm gập ghềnh.
Bước qua ngạch cửa chái bếp nhà cụ Sùng A Vàng, mùi khói củi thông và hương ngô ấm nồng lập tức ùa vào cánh mũi. Bếp lửa giữa gian chái vẫn bập bùng cháy đỏ. Cụ Vàng ngồi tựa lưng vào cột nhà, chốc chốc lại đưa đóm châm một mồi thuốc lào, khói thuốc nhả ra cuộn tròn bay qua lỗ thông gió. Ngồi đối diện với cụ là anh Toàn. Người cán bộ năm mươi tám tuổi thu mình trên chiếc đòn gỗ thấp, hai mắt đỏ hoe, gương mặt thất thần nhìn những đốm tàn than bay lơ lửng.
Thấy tiếng gậy trúc chạm lộc cộc xuống nền đất, anh Toàn vội vàng đứng bật dậy, chạy tới đỡ lấy cánh tay áo chàm của bố “Bố… Bố về rồi. Khớp gối bố nhức lắm phải không, để con dìu bố ngồi lên phản.”
Ông Điền lắc đầu, giọng khàn rành rọt nhưng đã bớt đi vẻ gay gắt ban nãy “Không cần đâu anh Toàn. Chân tôi vẫn tự đi được. Cứ để tôi ngồi xuống góc bàn kia.”
Ông Điền khập khiễng bước tới chiếc bàn gỗ thô mộc kê sát vách nứa. Trên mặt bàn, ngọn đèn dầu hỏa đã được cụ Vàng vặn bấc vừa phải, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt quen thuộc. Cạnh đó là xấp tôn nhôm mỏng gỡ từ vỏ máy vô tuyến Liên Xô cũ mà ông Điền nhờ mua ngoài phố huyện hôm trước, cùng chiếc búa con cán gỗ, kéo cắt kim loại và kìm mỏ nhọn nằm ngay ngắn trong túi da đồ nghề.
Cụ Vàng rít một hơi thuốc lào giòn giã, tiếng điếu cày kêu ròn rọt phá tan sự tĩnh mịch, rồi ngước nhìn Toàn cười khà khà “Cháu Toàn thấy chưa? Già Vàng bảo rồi, bố cháu cứng cỏi như cây pơmu trên đỉnh núi đấy. Tối nay cháu cứ ngồi yên đấy mà xem ông thợ phố trổ ngón nghề gò hàn.”
Anh Toàn kéo chiếc ghế gỗ lại gần góc bàn, lúng túng nhìn bố tháo chiếc kính lão buộc dây dù trên cổ đeo lên sống mũi. Đôi bàn tay già nua đầy nốt đồi mồi của ông Điền khẽ run rẩy khi cầm lấy chiếc kéo cắt tôn. Khớp ngón trỏ và ngón cái của ông sưng to vì thoái hóa, vết xước do cạnh kim loại cứa từ ban chiều vẫn còn rướm vệt máu khô chưa kịp đóng vảy.
“Bố để đấy con làm giúp cho!” Anh Toàn sốt sắng chìa tay ra, giọng run run: “Cắt tôn nhôm thế này sắc lắm, bố mệt cả ngày rồi, mắt lại kém…”
“Anh ngồi yên đấy!” Ông Điền nghiêm giọng ngắt lời, mắt không rời mép tôn: “Cái hộp bánh quy đựng kỷ vật sáu mươi lăm năm của mẹ anh là do chính tay tôi vứt ra thùng rác. Tội lỗi của tôi thì chính đôi tay này phải gò lại từng đường mép. Có đứt tay, có chảy máu cũng là cái giá tôi phải chịu. Không ai làm thay được đâu.”
Nói đoạn, ông nheo đôi mắt kèm nhèm qua tròng kính lão, cẩn thận đặt thước đo lên tấm nhôm mỏng. Tiếng kéo cắt kim loại rít lên “xoẹt… xoẹt” dứt khoát. Từng mảnh nhôm được đo đạc tỉ mỉ theo đúng kích thước chiếc hộp tròn viền đỏ năm xưa mà ông vẫn nhớ như in trong tâm khảm.
Bằng đôi tay sưng đau vì khớp, ông Điền kê mảnh nhôm lên mép gỗ, dùng chiếc búa con gõ từng nhịp đều đặn: “cắc… cắc… tùng… cắc…”. Mỗi nhát búa giáng xuống là một lần ông dồn hết sự kiên nhẫn và ân hận của đời mình vào khối kim loại vô tri. Dưới ánh đèn dầu leo lét, tấm nhôm phẳng dần uốn cong thành hình trụ tròn trịa, các nếp gấp mí được ép chặt, khít khao không để lộ một gờ sắc nhọn nào có thể làm trầy xước tay người cầm. Mồ hôi rịn ra trên trán ông lão tám mươi chín tuổi, chảy dọc theo nếp nhăn đuôi mắt rồi đọng lại nơi cằm, nhưng lưng ông vẫn thẳng tắp, tập trung cao độ như thời còn là thợ sửa vô tuyến cừ khôi nhất phố cổ.
Anh Toàn ngồi trân trân nhìn từng nhát búa của bố. Ngồi bên cạnh, anh Toàn chỉ biết lặng lẽ cúi đầu nhìn trân trân từng cử động của bố, gương mặt bần thần như nghẹn lại trước sự vô tâm bấy lâu nay của bản thân.
Gần nửa đêm, cụ Vàng đã ngả lưng lên sập gỗ ngáy đều đều. Tiếng gõ búa cũng ngừng hẳn. Chiếc hộp tròn bằng nhôm sáng bóng đã hoàn thành, nắp đậy vừa khít, phát ra tiếng “cách” êm ru khi ấn nhẹ.Thế nhưng ông Điền vẫn chưa đi ngủ.
Ông khẽ với tay lấy chiếc túi vải dù, rút ra một xấp giấy kẻ ngang đã ngả màu ố vàng cùng cây bút máy Kim Tinh cũ kỹ. Vặn bấc đèn dầu nhô cao thêm một chút, ông Điền run run mở nắp cây bút máy Kim Tinh đã được bơm đầy mực tím Cửu Long, rồi cặm cụi đặt ngòi lên trang giấy trắng.
Trí nhớ của người thợ già sáng rõ lạ thường. Những bức thư tình thời chiến năm 1959, thuở ông còn là chàng trai hai mươi tư tuổi theo đoàn công trình ra công trường thủy điện, từng câu từng chữ mộc mạc gửi về căn nhà ngõ Hàng Bông bỗng hiện về nguyên vẹn như vừa mới viết hôm qua. Bàn tay chai sạn của ông nắn nót đưa từng nét chữ nghiêng nghiêng, dẫu đường nét có đôi chỗ run rẩy vì sức nặng tuổi tác“Mai em, Hà Nội mùa này chắc đã bắt đầu có gió heo may. Chiếc áo len cổ lọ em đan cho tôi, tôi vẫn mặc ấm ngực mỗi cữ làm đêm. Em ở nhà giữ gìn sức khỏe, đợi ngày khánh thành công trình, tôi về thưa chuyện với hai bác để đón em về chung một mái nhà…”
Viết xong ba bức thư tình thời son trẻ, ông Điền lật sang trang giấy mới. Ông húng hắng ho vài tiếng, ngước nhìn lên màn đêm ngoài khe nứa rồi bắt đầu ghi chép danh sách những điều biết ơn vợ suốt sáu mươi lăm năm chung sống“Điều thứ nhất: Biết ơn bà vì năm 1959 đã không chê tôi nghèo kiết xác, chỉ có hai bàn tay trắng và chiếc túi đồ nghề rách mà chịu về làm vợ tôi.Điều thứ hai: Biết ơn bà mùa đông năm ấy đã nhường trọn manh chăn bông duy nhất cho tôi, còn mình thì co ro thức trắng đêm.Điều thứ ba: Biết ơn bà đã cùng tôi chia đôi củ khoai nướng sứt sẹo hai hào giữa gió rét Hàng Bông mà không một lời than thở……Điều thứ năm mươi: Biết ơn bà đã sinh ra anh Toàn, tần tảo nuôi con ăn học thành tài để tôi yên tâm theo đuổi nghề thợ đài.…Điều thứ sáu mươi lăm: Biết ơn bà nó vì đến tận năm tám mươi sáu tuổi, vẫn còn cho ông già khó tính, gia trưởng này một cơ hội được nói lời xin lỗi và học lại cách làm chồng.”
Từng dòng chữ mực tím rực lên dưới ánh đèn dầu. Ngồi bên cạnh, anh Toàn vô tình đọc được những dòng chữ ấy. Lồng ngực người đàn ông gần sáu mươi tuổi thắt nghẹn lại. Nước mắt không kìm được cứ thế trào ra, lăn dài qua khóe mắt, rơi lã chã xuống mu bàn tay. Toàn quỳ sụp xuống bên cạnh chiếc bàn gỗ, run rẩy nắm lấy bàn tay nổi đầy gân xanh của bố, giọng nghẹn ngào trong tiếng nấc “Bố ơi… Con sai rồi… Cả đời này con chưa từng hiểu hết những gian truân, hy sinh của bố mẹ. Con chỉ biết nghĩ đến thể diện hão huyền của bản thân…”
Ông Điền dừng bút, khẽ đặt bàn tay ráp ấm lên vai con trai, giọng chùng xuống đầy bao dung “Hiểu ra là tốt rồi anh Toàn. Cả đời tôi gia trưởng, chỉ biết đòi hỏi cơm bưng nước rót, đến tận lúc gần đất xa trời mới ngộ ra thì đã muộn một nửa. Anh còn trẻ hơn tôi nhiều, đừng giẫm vào vết xe đổ ấy.”
Toàn quệt nước mắt, nhìn chiếc hộp nhôm lấp lánh rồi ngước lên tha thiết “Bố ơi, năm nay tròn sáu mươi lăm năm ngày cưới của bố mẹ. Con xin phép bố, chuyến này về, để con cùng bé Chi và bà con bản Nà Ka lo liệu một đám cưới kim cương thật ấm cúng cho bố mẹ ngay giữa thung lũng mận này được không bố?”
Ông Điền sững người, khóe mắt già nua hoe đỏ. Ông nhìn con trai hồi lâu, rồi khẽ mỉm cười gật đầu “Được… Nếu mẹ anh chịu mở lòng, thì làm.”
Sương đêm Nà Ka bắt đầu loãng dần. Gà rừng phía chân đồi cất tiếng gáy le lói báo hiệu cữ sáng đầu tiên. Ông Điền cẩn thận xếp từng bức thư tình và tờ giấy ghi sáu mươi lăm điều biết ơn vào lòng chiếc hộp nhôm mới tinh, đậy nắp lại nghe một tiếng “cách” giòn tan.
Vừa nâng chiếc hộp sáng lấp lánh lên ngang ngực, ông Điền chợt sững người khi nghe thấy tiếng bước chân ngập ngừng dừng trước liếp cửa chái bếp. Qua vách nứa mù sương mờ ảo, bóng dáng nhỏ nhắn, thân thương của bà Mai đang đứng lặng lẽ in trên nền trời rạng đông.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
