Chương 16: Bát Cháo Tía Tô

Tiếng bước chân vội vã cùng tiếng gọi thất thanh của cụ Vàng loãng dần trong màn mưa phùn buốt giá, trôi tuột khỏi màng nhĩ đang ù đặc của ông Điền.

Toàn thân ông lão tám mươi chín tuổi run rẩy dữ dội. Cơn sốt ập đến như ngọn lửa nung nấu lồng ngực, thiêu đốt cuống họng khô rát, nhưng da thịt bên ngoài lại lạnh buốt như ngâm nước đá. Bên gối bầm tím sau cú ngã chiều nay nhức nhối khôn xiết, từng khớp xương rã rời trên tấm phản gỗ mộc chái bếp. Trong cơn mê man chập chờn, không gian xung quanh nhòa đi, cuốn ông trôi ngược dòng thời gian về hơn sáu thập kỷ trước.

Đó là mùa đông năm 1959, năm đầu tiên hai người nên duyên chồng vợ.

Hà Nội những ngày giáp Tết rét căm căm, gió mùa lùa thốc qua khe cửa căn phòng sâu trong ngõ Hàng Bông. Cả gia tài của đôi vợ chồng trẻ thuở ấy chỉ có manh chăn bông sờn rách bốn góc, ruột bông đóng tảng qua bao mùa mưa nắng. Đêm ấy ông Điền cũng lên cơn sốt rét, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Dưới ngọn đèn dầu leo lét, bóng người con gái đôi mươi ngồi co ro bên mép giường, cẩn thận kéo từng nếp chăn đắp kín ngực, chèn chặt quanh vai chồng. Suốt đêm ròng, bà Mai chỉ khoác manh áo chần bông cũ vá vai, đôi bàn chân lạnh buốt giấu dưới gấu quần lụa, kiên nhẫn dùng khăn ấm lau trán, chốc chốc lại cúi xuống thì thầm gọi tên ông. Manh chăn ấm duy nhất bà nhường cả cho ông, còn bản thân thức trắng đón từng cơn gió lạnh cắt da.

Suốt sáu mươi lăm năm, ông Điền đã xem sự hy sinh, nhẫn nại ấy là điều hiển nhiên của bổn phận làm vợ. Ông cứ mải mê với những cuộn dây đồng, những bóng đèn điện tử vô tri, để mặc người phụ nữ ấy âm thầm gánh vác mọi nhọc nhằn, tích tụ từng vết hằn năm tháng vào tấm lưng ngày một còng rạp.

“Bà nó ơi… tôi có lỗi với bà…”

Tiếng lẩm bẩm nghẹn ứ nơi cổ họng kéo ông Điền thoát khỏi cơn mê.

Hơi nóng hầm hập nơi trán dần dịu bớt. Gian chái bếp không còn tiếng gió rít buốt óc, thay vào đó là tiếng củi nứa nổ lách tách ấm áp trong bếp lò. Giữa đêm khuya tĩnh mịch, mùi hương thân thuộc đến cồn cào bất giác lan tỏa: mùi gạo nương nấu nhừ quyện lẫn hương tía tô nồng ấm, hành hoa thơm ngát và vị cay the của nhánh gừng già giã nhuyễn.

Ông Điền khẽ chớp hàng mi trĩu nặng, ánh nhìn đục mờ dần nhận rõ cảnh vật xung quanh.

Bên bếp lửa bập bùng, một bóng lưng nhỏ nhắn đang lúi húi bên chiếc nồi nhôm bốc khói nghi ngút. Mái tóc bạc trắng búi trễ sau gáy khẽ lay động theo từng nhịp quấy đũa. Đôi vai hơi so lại vì cái rét vùng cao, chốc chốc người ấy lại đưa tay áo lên chấm ngang khóe mắt — chẳng rõ vì khói củi cay xè hay vì điều gì khác.

Ngỡ mình vẫn đang chìm trong cơn mộng mị, ông Điền run rẩy cất tiếng gọi khàn đặc “Bà… bà nó đấy ư?”

Bóng người bên bếp lửa thoáng khựng lại. Đôi đũa cả chạm vào thành nồi nhôm phát ra tiếng “leng keng” khe khẽ. Người đàn bà chầm chậm quay đầu lại.

Dưới ánh lửa bập bùng, gương mặt đầy nếp nhăn đồi mồi của bà Mai hiện ra rõ mồn một. Quầng mắt bà trũng sâu, khóe mi ửng đỏ. Khi chạm phải ánh nhìn bàng hoàng của chồng, nét mặt bà lập tức thu lại vẻ bối rối, thay bằng sự lạnh lùng, nghiêm nghị cố hữu suốt những ngày qua.

Cụ Sùng A Vàng từ góc chái bếp lật đật bước lại gần phản gỗ, thở phào một hơi dài “May quá, cụ thợ tỉnh rồi! Cụ sốt cao từ chập tối, mê man ú ớ mãi. Tôi phải chạy đứt cả hơi sang gõ cửa homestay. Cụ bà vừa nghe tin là quáng quàng chạy sang ngay, tự tay nhóm lửa nấu cháo tía tô giải cảm đấy!”

“Bác Vàng đừng nói thêm nữa,” bà Mai cất giọng nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát ngắt lời, che giấu sự bối rối.

Bà nhấc nồi cháo xuống, múc ra chiếc bát sứ men hoa lam cũ kỹ. Khói nóng bốc lên nghi ngút mang theo mùi thơm ấm sực xua tan giá buốt sương muối Nà Ka. Bà bưng bát cháo bước lại mép phản gỗ, ngồi xuống chiếc ghế đẩu tre kê sát bên cạnh.

Nhìn người vợ gắn bó hơn sáu thập kỷ đang ở ngay trước mắt mình, lòng dạ ông Điền quặn thắt lại. Ông cố chống khuỷu tay nhổm dậy nhưng toàn thân rã rời không chút sức lực.

“Ngồi yên đấy,” bà Mai nghiêm giọng, ánh mắt nhìn vào bát cháo chứ không nhìn thẳng vào ông. “Cơm nước không chịu ăn, tuổi ngót chín mươi còn ra gió dầm sương cho người ta phải bận lòng.”Bà dùng chiếc thìa nhôm nhẹ nhàng khuấy đều bát cháo cho nguội bớt, khẽ thổi một hơi dài rồi đưa từng thìa lại sát miệng chồng “Há miệng ra. Ăn hết chỗ này cho toát mồ hôi độc ra ngoài.”

Hương vị cháo hành tía tô quen thuộc chạm vào đầu lưỡi. Vị ngọt bùi của gạo nương quyện với vị cay the của gừng và tía tô lan tỏa khắp khoang miệng, sưởi ấm lồng ngực đang tắc nghẹn của ông lão thị dân. Từng thìa cháo nuốt xuống như dòng nước ấm tưới vào tâm can khô héo. Suốt sáu mươi lăm năm, mỗi lần ông ốm đau cảm sốt, cũng chính người phụ nữ này kiên nhẫn nấu từng bát cháo, bón từng thìa nước như thế. Vậy mà ông đã nỡ lòng gom chiếc hộp thiếc chở che trọn vẹn thanh xuân của bà đem vứt ra thùng rác chỉ để lấy chỗ xếp mấy bóng đèn hỏng vô tri.

Nước mắt từ khóe mi nhăn nheo của ông Điền trào ra, lăn dài trên gò má xám xịt vì sương gió. Đôi tay già nua run lẩy bẩy vươn ra, toan nắm lấy vạt áo chần bông của bà Mai “Bà nó ơi… tôi sai rồi… Tôi biết lỗi của tôi rồi… Tôi cậy mình làm chủ cái nhà mà gia trưởng, xem thường tâm tư của bà… Bà tha thứ cho tôi…”

Bàn tay run rẩy chưa kịp chạm vào nếp áo, bà Mai đã khẽ nghiêng người né tránh. Cử chỉ dứt khoát nhưng không hề thô bạo, như một lằn ranh vô hình vạch ra rành rẽ giữa hai người.

Bà đặt thìa cháo xuống thành bát, ngước lên nhìn thẳng vào mắt ông Điền, giọng bình thản mà xa cách “Tôi với ông già cả rồi, con cháu đề huề, đừng nói những lời ấy trước mặt người ngoài. Tôi sang đây là vì nghĩa, thấy người ta ngã bệnh thì không thể khoanh tay đứng nhìn. Ăn cho hết bát cháo đi rồi nằm nghỉ.”

Cách xưng hô “tôi ông” lạnh nhạt như gáo nước dội vào ngực ông Điền, nhắc nhở ông rằng tổn thương sáu mươi lăm năm chẳng thể nào xóa nhòa chỉ sau vài lời ân hận muộn màng. Ông cắn chặt môi, nuốt ngược nỗi nghẹn ngào vào trong, ngoan ngoãn há miệng đón từng thìa cháo vợ bón cho.

Chẳng mấy chốc, chiếc bát sứ đã cạn đáy. Hơi nóng của tía tô và gừng già phát huy tác dụng, mồ hôi bắt đầu toát ra đầm đìa sau lưng áo ông Điền. Cơn sốt hạ dần, lồng ngực nhẹ nhõm hẳn đi, hơi thở lấy lại nhịp điệu đều đặn.

Bà Mai đặt chiếc bát không xuống mặt chiếc hòm gỗ kê đầu phản. Rút chiếc khăn bông cũ trong túi áo, bà giơ tay toan chấm mồ hôi đọng trên trán chồng. Nhưng chỉ trong một tích tắc, ngón tay bà khựng lại giữa không trung rồi chầm chậm thu về, nắm chặt chiếc khăn trong lòng bàn tay.

Bà đứng dậy, quay sang dặn dò cụ Sùng A Vàng đang ngồi bên bệ bếp “Phiền bác Vàng đêm nay để mắt trông chừng ông ấy giúp tôi. Nếu sốt lại thì lấy khăn ấm lau nách, đừng để trúng gió thêm. Ngày mai tôi sẽ nhờ cháu Chi đem thêm ít thuốc cảm sang.”

“Bà cứ yên tâm, có tôi ở đây rồi, bà đừng lo,” cụ Vàng gật đầu chắc nịch.

Bà Mai chỉnh lại chiếc khăn len quàng cổ, quay nhìn ông Điền lần cuối. Trong đáy mắt người vợ già, nét nghiêm khắc vẫn không giấu nổi một thoáng xót xa kín đáo “Tám mươi chín tuổi rồi, có phải đứa trẻ lên ba đâu mà dầm sương dãi gió làm khổ lây người khác? Muốn sống để chuộc lỗi thì biết đường mà giữ lấy cái thân già.”

Dứt lời, bà không nán lại thêm nửa giây, dứt khoát quay người bước qua cửa chái bếp, hòa mình vào màn mưa phùn và bóng tối mịt mùng của thung lũng Nà Ka. Tiếng bước chân nhỏ nhắn xa dần trên con dốc trơn trượt.

Gian chái bếp trở lại với vẻ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng củi thông tí tách reo vui và tiếng thở phào nhẹ nhõm của cụ Vàng.

Nằm trên chiếc phản gỗ ấm hơi lửa, ông Điền nghiêng đầu nhìn sang chiếc hòm kê sát đầu giường. Chiếc bát sứ men hoa lam cạn đáy vẫn còn bốc lên làn khói mỏng dìu dịu, truyền hơi nóng dịu dàng vào mặt gỗ xù xì. Khóe môi ông lão tám mươi chín tuổi khẽ run run rồi nở một nụ cười nghẹn ngào, hai giọt nước mắt ấm nóng lăn dài bên thái dương.

Bà Mai giận ông, lạnh nhạt với ông, nhưng bát cháo tía tô đêm nay đã nói lên tất cả. Tình nghĩa tào khang sáu mươi lăm năm qua chưa từng đứt gãy; dưới lớp băng giá xa cách kia, ngọn lửa yêu thương vẫn âm ỉ cháy, chỉ đợi ông học được cách lắng nghe để tìm lại đúng tần số bình yên của đời mình.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.