Chương 13: Nhóm Lửa Bằng Dăm Bào

Đêm ấy, sau khi bóng Mai Chi khuất hẳn sau rặng mận mờ mịt hơi sương và lời cảnh báo đanh thép của cháu gái tan dần vào gió lạnh, ông Điền lầm lũi quay lại chái bếp. Gói xôi nếp nương ấm sực ban chiều đã nguội ngắt tự bao giờ. Ngồi bên chiếc bàn gỗ ngổn ngang mỏ hàn cùng kìm bấm, ông chậm rãi nhai từng miếng xôi lạnh tanh mà nghe đắng đót nơi cuống họng. Lớp sĩ diện đàn ông tích tụ suốt sáu mươi lăm năm rốt cuộc đã vỡ vụn trước hiện thực phũ phàng. Đêm cao nguyên buốt giá, ông trằn trọc trên chiếc phản gỗ thông lót manh chiếu cói mỏng, nghe tiếng gió luồn qua khe nứa rít từng hồi dài mà nhớ da diết hơi ấm của bà Mai nơi căn phòng sâu trong ngõ Hàng Bông.

Gà rừng le te gáy gọi sáng trên các sườn đồi Nà Ka khi màn sương mù còn đặc quánh như sữa bò. Cụ Sùng A Vàng khoác chiếc áo chàm dày, xách gùi chuẩn bị lên nương ngô sớm. Thấy bạn già trở mình ngồi dậy với gương mặt hốc hác trũng sâu, cụ Vàng vừa châm đóm rít một hơi thuốc lào sòng sọc, vừa thủng thỉnh cất giọng khàn khàn “Cụ thợ phố này! Cái đài hỏng thì chấm tí chì là kêu, chứ cái bụng đàn bà bị thương thì phải lấy mồ hôi mà dỗ. Muốn bà ấy mở then, ông đừng chỉ biết ngồi trông cái mỏ hàn. Phải tập làm cái việc đàn bà vẫn làm, nhóm được cái bếp đỏ lửa thì lòng người ta mới ấm lại được.”

Lời khuyên mộc mạc của ông lão người Mông găm sâu vào tâm can ông Điền. Đợi bóng cụ Vàng khuất hẳn sau triền dốc, người thợ già tám mươi chín tuổi bắt đầu bài học chuộc lỗi đầu tiên trong đời: tự tay nhóm bếp.

Ngày trước ở phố Hàng Bông, mỗi sớm mai thức dậy, ấm nước sôi pha trà sen đã bốc khói nghi ngút trên bàn tròn, bếp than hoa đã rực hồng êm ả. Ông Điền chỉ việc ngồi vuốt chòm râu bạc ngâm nga vài câu thơ, đinh ninh mọi thứ tiện nghi ấy tự nhiên mà có. Chưa từng một lần ông cúi xuống nhìn xem gót chân vợ có lấm lem tro trấu hay ngón tay bà có rộp da vì cời than hay không.

Khập khiễng bước lại góc chái bếp, ông nhặt chiếc đòn gỗ mục kê sát chiếc kiềng sắt ba chân hoen rỉ. Khớp xương bên chân đau nhói lên từng chặp khi ông khó nhọc gập người ngồi xổm xuống. Trước mặt ông là đống dăm bào khô cụ Vàng tích lại từ những thanh gỗ thông xẻ, cùng mớ đóm nứa giắt trên vách nứa.

Lóng ngóng rút bao diêm Thống Nhất từ túi áo, ông run run quẹt một que. Gió sớm lùa qua phên nứa thổi tắt ngúm đốm lửa non nớt. Que thứ hai, rồi que thứ ba, đôi tay vụng về làm gãy vụn mấy que diêm. Đến que thứ tư, ông lấy vạt áo che chắn cẩn thận, ngọn lửa vàng cam cuối cùng cũng bén vào mép mỏng manh của mớ dăm bào thông khô ráo.

Thế nhưng, dăm bào vừa bắt lửa đã bốc lên từng luồng khói trắng mù mịt, đặc quánh và khét nồng mùi nhựa thông.

Khói bếp cao nguyên quẩn quanh trong gian chái kín gió, xộc thẳng vào cánh mũi và hai mắt ông lão. Đôi mắt già nua cay xè, nước mắt nước mũi trào ra giàn giụa. Tròng kính lão gọng đồi mồi buộc sợi dây dù quanh cổ bị phủ một lớp muội than mỏng dính cùng hơi nước mờ mịt, chẳng còn nhìn rõ phương hướng.

Ông Điền vội tháo kính lão, quệt ống tay áo chàm lên mặt lau vội rồi cúi rạp người xuống sát mép tro tàn. Ông phồng hai hõm má nhăn nheo, ra sức thổi “phù phù” vào đốm lửa đang ngún đỏ le lói dưới lớp tro. Thổi một hơi dài, rồi hai hơi, lồng ngực già nua phập phồng hụt hơi vì mệt mỏi, cổ họng ngứa ran ho sặc sụa.

Đúng lúc tưởng như đốm than sắp tàn lụi, ngọn gió nhẹ lướt qua tiếp thêm dưỡng khí. Một tiếng “phụt” khẽ vang lên, đốm than đỏ rực l**m láp mép gỗ, rồi ngọn lửa ấm áp bùng lên reo tanh tách, ngoạm lấy những thanh đóm nứa và củi khô xung quanh. Ánh lửa bập bùng soi rọi gian chái bếp, xua tan cái lạnh buốt giá của buổi sớm vùng cao.

Gương mặt đầy nếp nhăn của ông Điền giãn ra một nụ cười mệt nhọc nhưng ngập tràn niềm vui sướng con trẻ. Lần đầu tiên sau gần chín mươi năm cuộc đời, ông mới thấm thía rằng để có một ấm nước sôi thơm thảo cho chồng con, người phụ nữ đã phải nuốt bao nhiêu cay nồng của khói bếp vào lòng.

Nhớ lại lời cụ Vàng mách hôm trước rằng sau góc vườn có bụi ngải cứu rừng mọc hoang rất đượm tinh dầu, ông Điền đã cẩn thận hái một rổ nhỏ từ tối qua. Ông đổ nước suối vào chiếc nồi gang nhỏ của cụ Vàng, thả nắm lá ngải cứu đã rửa sạch cùng vài nhánh gừng đập dập rồi bắc lên kiềng sắt.

Chẳng mấy chốc, nồi nước reo lên ùng ục. Mùi lá ngải cứu nồng ấm quyện với hương gừng tươi lan tỏa ngào ngạt khắp chái bếp.

Bà Mai vốn mắc chứng đau mỏi khớp bàn chân, mùa đông nào ở Hà Nội chân bà cũng buốt lạnh, đêm nằm co ro. Cả đời bà chỉ lo đun nước ngâm chân cho ông, chu đáo từng cữ thuốc, vậy mà ông chưa từng một lần hỏi xem đôi bàn chân trần tảo tần của vợ có lạnh hay không.

Nước sôi già, ông Điền nhấc nồi xuống, cẩn thận rót vào chiếc chậu nhôm con đã rửa sạch bóng. Nhìn làn khói nghi ngút bốc lên, ông chợt thấy bên bờ rào nứa có mấy cành mận dại nở muộn, cánh hoa trắng muốt tinh khôi đọng những giọt sương mai lấp lánh. Ông bèn với tay ngắt lấy hai nhánh hoa mận mộc mạc, nhẹ nhàng cài lên vành chậu nhôm.

Đôi bàn tay thô ráp run rẩy cẩn thận nâng chiếc chậu nhôm ấm nóng. Lưng còng xuống, bước chân tập tễnh vì khớp xương nhức buốt, ông Điền lần từng bước qua con dốc đất đỏ phủ đầy sương lạnh hướng sang Homestay Mận Đỏ.

Con đường đất dài chưa đầy hai trăm mét mà đối với ông lão tám mươi chín tuổi lại như một hành trình vạn dặm. Gió sớm tạt qua làm vạt áo bay phần phật, cái buốt giá ngấm vào từng thớ thịt, nhưng hơi ấm từ chậu nước lá ngải cứu phả lên ngực khiến lòng ông rạo rực một quyết tâm cháy bỏng. Ông cắn chặt môi, mắt chăm chú nhìn mặt nước sóng sánh, cẩn trọng giữ thăng bằng để không đánh sánh ra ngoài một giọt nào.Đến trước cổng nứa vẫn còn cài then kín mít của homestay, ông Điền nhẹ nhàng đặt chậu nước bốc khói cùng hai nhánh hoa mận trắng ngần lên bệ đá bằng phẳng ngay lối vào.

Ông đưa tay toan gõ lên cánh cổng nứa, nhưng rồi ngập ngừng rụt lại. Lời nhắc nhở đêm qua của cháu gái vẫn còn văng vẳng bên tai: bà Mai cần sự thanh thản, then cửa cài chặt là để lòng bà được yên.

Sợ sự xuất hiện đường đột của mình làm vợ phật ý, ông Điền vội vã lùi lại vài bước, tập tễnh nép mình sau thân cây mận cổ thụ rêu phong bên vệ đường đối diện, nín thở nhìn qua khe rào.

Một lát sau, tiếng lách cách của then cài cửa buồng vang lên giữa không gian tĩnh mịch.

Mai Chi trong chiếc áo bà ba màu xanh khoác thêm áo len dệt bước ra khoảng sân phủ đầy cánh hoa rụng để quét tước. Vừa đi tới sát cổng nứa, cô gái trẻ bỗng sững người khi trông thấy chiếc chậu nhôm bốc khói ngào ngạt hương ngải cứu đặt ngay ngắn trên bệ đá, bên trên gài khéo léo hai cành hoa mận rừng trắng tinh khôi.

Mai Chi ngạc nhiên đưa mắt ngó quanh. Chỉ liếc mắt một cái, cô đã nhận ra ngay bóng dáng gầy gò của ông nội đang lóng ngóng nép sau gốc mận xù xì, cố thu mình lại để không bị phát hiện.

Từ sau thân cây, ông Điền hồi hộp quan sát từng nét mặt của cháu gái. Ông thấy Mai Chi thoáng bật cười khúc khích, nhưng rồi nụ cười ấy nhanh chóng chùng xuống, nhường chỗ cho một thoáng xúc động xót xa.

Lúc này ông mới sực nhớ ra bộ dạng của mình: khắp mặt mũi từ hai gò má nhăn nheo đến chóp mũi đều lấm lem nhọ nồi và tro trấu đen sì sau cữ nhóm bếp ban nãy; vạt áo chàm dính đầy bụi dăm bào thông, chiếc kính lão buộc dây dù xộc xệch lệch hẳn sang một bên thái dương. Người thợ già Tràng An một đời mực thước, nghiêm nghị nơi phố cổ giờ đây trông tơi bời, nhếch nhác chẳng khác nào một đứa trẻ vụng về vừa nghịch đất cát.

Mai Chi đứng lặng trước cổng nứa vài giây, ánh mắt kín đáo liếc về phía cánh cửa buồng đóng chặt của bà nội. Cô không cất tiếng gọi ông, cũng không với tay mở then cài cổng.

Cô gái trẻ lặng lẽ cúi người xuống, dùng hai tay cẩn thận nâng chiếc chậu nhôm ấm sực cùng hai nhánh hoa mận dại lên. Bước chân cô nhẹ tênh rảo về phía thềm nhà, rồi cánh cửa gỗ khép lại êm ả, che khuất bóng chậu nước nghi ngút khói bên trong buồng.

Chứng kiến chậu nước lá ngải được mang vào nhà mà không bị trả lại thẳng thừng như gói xôi chiều qua, ông Điền thở phào một hơi dài, lồng ngực già nua như trút được tảng đá ngàn cân. Cánh cổng nứa tuy vẫn cài then, nhưng tấm lòng vụng về của ông rốt cuộc đã không bị cự tuyệt hoàn toàn.

Khóe mắt cay xè không phải vì khói bếp cay nồng, ông quệt nhẹ mu bàn tay lấm lem nhọ nồi lên mi mắt rồi tập tễnh quay gót trở về chái bếp vắng lặng.

Gian chái bếp nhà cụ Vàng lúc này chỉ còn lại tiếng củi thông nổ lép bép tàn canh. Ngoài trời, từng cơn gió non cao bắt đầu rít lên từng hồi qua khe nứa liếp, mang theo cái rét ngọt căm căm của đại ngàn xua đuổi màn sương sớm.

Ông Điền ngồi xuống mép phản gỗ thông, khẽ mở chiếc tay nải bằng vải dù cũ kỹ đặt ở góc chiếu.

Từ sâu dưới đáy túi, đôi bàn tay nổi đồi mồi run rẩy nâng niu chiếc máy cátxét cầm tay Sony TCM vỏ kim loại màu bạc đã trầy xước bốn góc cùng một cuốn băng cassette Maxell màu xám tro.

Lắp cuốn băng vào khay phát, nắp máy bật đóng lại kêu một tiếng “tách” khô khốc.

Ông Điền ghé sát chiếc micrô nhỏ xíu bên hông máy vào sát khóe môi khô nẻ. Bàn tay thô ráp run lên bần bật, ngón trỏ ngập ngừng đặt lên nút bấm ghi âm màu đỏ đã mòn vẹt chữ, giữa tiếng gió Mộc Châu đang rít từng hồi lạnh buốt qua vách nứa.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.