Chương 10: Tiếng Đài Bán Dẫn Bên Bục Đá

Gió núi thốc từng cơn buốt lạnh qua làn áo mỏng đã sờn vai, khiến ông Điền rùng mình run rẩy. Bóng tối quánh đặc của thung lũng Nà Ka như chiếc lồng khổng lồ chụp xuống lối mòn gồ ghề. Cơn đau nhức từ đầu gối bên phải dội lên từng hồi buốt nhói, kéo giật khớp xương khiến mỗi bước lê chân của ông lão tám mươi chín tuổi nặng nề như đeo đá tảng. Đôi dép lê trượt trên lớp đất đỏ ẩm ướt, suýt nữa làm ông ngã dúi dụi vào bụi cỏ gai ven đường.

Không thể gắng gượng thêm, ông Điền lần tay vào bóng đêm, vịn vào một tảng đá vôi nhô ra bên bục đất rồi ngồi sụp xuống. Lồng ngực ông phập phồng sau hơi th* d*c nghẹn ứ, hai ống quần bạc màu ướt đẫm sương đêm. Đưa ngón tay bóp chặt lấy đầu gối sưng tấy, ông cúi đầu nhìn xuống túi da đồ nghề ôm khư khư trước ngực. Nỗi tủi thân cùng sự bẽ bàng sau cánh then cài lạnh lùng của bà Mai cứa vào lòng ông buốt rát. Giữa chốn rừng núi mịt mùng cách xa Hà Nội gần hai trăm cây số này, một ông già gần đất xa trời như ông biết đi đâu về đâu khi đêm đã đen đặc?

Đúng lúc ấy, từ phía rặng mận cách bục đá chừng mươi bước chân bỗng vang lên những âm thanh lạo xạo lạ lùng. Giữa tiếng côn trùng rả rích của đêm lạnh, tiếng rè đặc như ngô rang nổ lụp bụp bỗng chốc rít lên “Rẹt… rẹt… xè xè…”

Ngay sau đó là tiếng cằn nhằn bực dọc bằng giọng lơ lớ vùng cao, kèm theo tiếng vỗ bồm bộp vào vỏ nhựa “Cái đài toi tiệt này! Ban ngày thì kêu ầm ĩ, đến giờ nghe bản tin tối lại giở chứng câm họng! Vỗ cho mày tỉnh ra này! Bộp! Bộp!”

Ông Điền đẩy nhẹ gọng kính lão buộc dây dù trễ xuống sống mũi, hướng ánh nhìn mệt mỏi về phía vệt sáng le lói từ chiếc đèn pin cài đầu. Dưới tán cây mận cằn cỗi, một bóng người quắc thước mặc chiếc áo chàm tối màu đang ngồi xổm trên khúc gỗ mục, hai tay không ngừng nện mạnh vào một khối chữ nhật xám xịt.

Nghe âm thanh rè khọt rít lên từng chập xé tai, thói quen nghề nghiệp hơn nửa đời người gắn bó với mỏ hàn và linh kiện điện tử trong ngõ Hàng Bông bất giác trỗi dậy trong huyết quản ông Điền. Quên cả cơn đau nhức đang hành hạ khớp chân, ông chống tay vào mép đá, cất giọng khàn đặc gọi với sang “Bác gì ơi… Bác đừng vỗ thế! Vỗ mạnh tay thế chỉ tổ gãy chân tiếp xúc với đứt mối hàn bên trong thôi!”

Người đàn ông mặc áo chàm giật nảy mình, vội nghiêng đầu rọi luồng sáng vàng vọt về phía bục đá. Thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ như râu ngô đang ngồi co ro ôm chiếc túi da, người kia chớp mắt cảnh giác “Ai đấy? Đêm hôm mò mẫm bờ rào làm gì?”

“Tôi… tôi là khách dưới xuôi lên,” ông Điền húng hắng ho, gượng gạo chống gối nhích lại gần vài bước rồi chỉ tay vào vật thể đang kêu rè rè. “Tôi nghe tiếng rè của chiếc đài bán dẫn. Bác càng đập mạnh thì lá đồng tiếp xúc pin càng bẹp dúm, ăngten lỏng gốc thì làm sao mà bắt được sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.”

Người đàn ông hạ ngọn đèn pin xuống, để lộ gương mặt đỏ au vì sương gió, hàng ria mép hoa râm và nụ cười ngỡ ngàng. Đó là cụ Sùng A Vàng, đã bước sang tuổi bảy mươi nhưng dáng dấp vẫn săn chắc như cây nghiến trên vách đá. Cụ Vàng nhìn chiếc đài hiệu National cũ kỹ tróc hết lớp mạ crôm trên tay mình, rồi lại nhìn bộ dạng lếch thếch của ông già lạ mặt “Ông thợ phố đấy à? Cái đài này theo tôi hơn chục năm nay rồi. Ban nãy vừa vặn nghe đài Tiếng nói Việt Nam được nửa câu thì tịt ngấm, chỉ toàn tiếng sôi như mỡ rán. Tức cái bụng quá nên tôi mới đét cho nó mấy phát!”

“Đưa tôi xem nào,” ông Điền nói, giọng trầm xuống đầy vẻ tự tin của một thợ già phố cổ. “Đài chạy pin bán dẫn chứ có phải cối xay lúa đâu mà vỗ.”

Cụ Vàng ngập ngừng giây lát rồi đưa chiếc đài sang. Cầm khối kim loại bọc nhựa nặng trịch quen thuộc trong lòng bàn tay thô ráp, cảm giác như gặp lại một người bạn cũ ở ngõ Hàng Bông khiến lòng ông Điền ấm lại đôi chút. Ông ghé sát chiếc đài dưới ánh đèn pin của cụ Vàng, ngón tay lần theo núm xoay âm lượng rồi mở nắp khay chứa pin phía sau “Bác dùng đôi pin đại Con Thỏ này rỉ sét hết rồi. Nước muối từ pin chảy ra làm rỉ lò xo cực âm, lại thêm bác vỗ mạnh quá làm tuột mối dây ăngten ngầm nối vào bảng mạch.”

Nói đoạn, ông Điền kéo khóa chiếc túi da cũ kỹ của mình, rút ra cây tuốcnơvít hai đầu nhỏ bằng ngón tay út. Bằng thao tác thuần thục, ông dùng đầu dẹt nạo sạch lớp rỉ sét bám quanh cuộn lò xo thép, cẩn thận nắn kéo đoạn lò xo giãn nhẹ ra để tăng độ đàn hồi tiếp xúc. Tiếp đó, ông tháo ốc nẹp góc lưng máy, luồn ngón tay chai sần tỉ mỉ móc lại đầu dây đồng của ăngten bị tuột, tạm thời kẹp chặt vào chấu giữ kim loại.

Lắp lại hai viên pin, ngón tay ông Điền khẽ xoay nhẹ núm rà sóng AM. Một tiếng rít thanh mảnh vang lên, rồi đột nhiên giọng đọc ấm áp của phát thanh viên cất lên giữa màn đêm sương mù “…Sau đây là bản tin thời sự… của Đài Tiếng nói Việt Nam…”

Dù âm thanh vẫn còn bập bõm và lạo xạo do mối nối chưa được hàn thiếc cố định, nhưng sự chuyển biến diệu kỳ ấy đã khiến đôi mắt cụ Sùng A Vàng trợn tròn kinh ngạc.

“A chà! Kêu rồi! Thần kỳ thật đấy!” Cụ Vàng vỗ đùi đánh đét, giọng cười hào sảng xé toang không gian tĩnh mịch của thung lũng. “Ông thợ phố này tài thật! Chỉ ngoáy mấy cái sắt vụn mà bắt nó nói được ngay!”Ông Điền lau vội giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán, khẽ lắc đầu “Mới chỉ gá tạm lò xo với dây sóng thôi bác à. Cuộn cảm sóng bị bong mối thiếc rồi, nếu không chấm hàn lại cho chết mối thì chỉ nghe được vài phút là lại rè đặc.”

Cụ Vàng nhìn ông Điền, bấy giờ mới nhận ra đôi môi nứt nẻ nhợt nhạt và cái chân run lẩy bẩy vì giá rét của ông lão dưới xuôi. Ánh mắt cụ Vàng chuyển từ thán phục sang thương cảm “Nhà tôi ngay lưng dốc đằng kia, cách đây có hai trăm mét thôi! Trong chái bếp có ổ cắm điện lưới đấy. Ông thợ phố có đồ nghề không, theo tôi về nhà chấm cho nó phát thiếc cho kêu trong veo đi!”

Được lời như cởi tấm lòng, ông Điền gật đầu lia lịa “Tôi có mang mỏ hàn điện với thiếc pha chì đây rồi. Phiền bác quá…”

“Phiền nỗi gì! Người biết thương cái đài cũ là người bụng tốt!” Cụ Vàng xốc nách đỡ lấy cánh tay ông Điền, dìu bước chân tập tễnh của ông vượt qua con dốc thoai thoải dẫn vào gian nhà gỗ pơmu mộc mạc nép bên sườn đồi.

Chái bếp nhà cụ Vàng ấm sực lên nhờ ngọn lửa bập bùng từ đống củi nghiến đỏ rực giữa gian nhà. Mùi khói củi mục quấn quýt với mùi thuốc lào ngai ngái nồng đượm xua tan hoàn toàn cái lạnh cắt da của vùng cao nguyên. Cụ Vàng kéo chiếc ghế mây con cho ông Điền ngồi sát bên bếp lửa, rồi thoăn thoắt cắm phích điện kéo từ gian chính ra một góc cột gỗ.

Ông Điền cắm mỏ hàn hai mươi lăm oát vào ổ điện. Vài phút sau, đầu mỏ hàn nóng đỏ khẽ kêu xèo xèo khi chạm vào cục nhựa thông màu cánh gián. Khói nhựa thông ngai ngái quen thuộc bốc lên nghi ngút, cuộn tròn quanh tròng kính lão của ông Điền. Đưa đầu mỏ hàn chấm vào sợi thiếc pha chì, ông tỉ mỉ hàn dính lại cuộn cảm sóng và chân tụ lọc tiếng trên vỉ mạch chiếc National. Từng thao tác nắn nót, chuẩn xác như thể ông đang ngồi trước chiếc bàn gỗ quen thuộc nơi ngõ Hàng Bông. Khi lớp thiếc hàn bóng loáng nguội đi, ông đóng nắp lưng chiếc đài, bật công tắc nguồn rồi từ từ xoay nhẹ núm dò tần số.

Âm thanh rè đặc biến mất hoàn toàn. Tiếng nhạc hiệu rộn rã cùng giọng đọc thời sự trong veo, tròn vành rõ chữ vang lên khắp chái bếp ấm áp, không hề lẫn một tạp âm nào.

Cụ Vàng mừng rỡ đến mức đứng bật dậy, cầm chiếc đài áp sát tai rồi tấm tắc khen “Trong veo! Trong như nước suối đầu nguồn luôn! Đúng là thợ già Hà Nội có khác!”

Cụ Vàng cẩn thận đặt chiếc đài lên kệ gỗ, rồi dùng thanh củi khều từ đáy tro than ra hai củ khoai lang nướng to bằng cổ tay, vỏ cháy xém thơm lừng ngọt lịm. Cụ bẻ đôi một củ, đưa nửa nóng hôi hổi sang cho ông Điền “Cầm lấy mà ăn cho ấm bụng, ông thợ phố! Khoai nương ngọt lắm đấy. Mà này, ông ngần này tuổi đầu rồi, đêm hôm lặn lội xách túi mỏ hàn lên tận cái xó rừng Mộc Châu này làm gì cho khổ cái thân ra?”

Đón lấy củ khoai nóng hổi trong hai bàn tay thô ráp, hơi ấm từ lớp vỏ sém tro than phả vào da thịt khiến sống mũi ông Điền cay xè. Cả ngày nay, ngoài bát nước ngô ấm uống vội ở đèo Thung Khe, dạ dày ông chỉ toàn sự cồn cào và nỗi cay đắng bẽ bàng. Cắn một miếng khoai ngọt bùi bốc khói, nghẹn ngào nuốt trôi xuống cổ họng, ông Điền rơm rớm nước mắt, giọng khàn đặc trải lòng “Bác ơi… Tôi lên đây… là để đuổi theo vợ tôi đấy bác ạ.”

“Đuổi theo vợ?” Cụ Vàng trố mắt ngạc nhiên, rít một hơi thuốc lào kêu sòng sọc rồi phả làn khói trắng mờ vào bếp lửa. “Bà nhà đâu mà phải đuổi?”

Ông Điền thở dài sườn sượt, nhìn ánh lửa bập bùng nhảy múa mà chua chát kể lại tấn bi kịch của đời mình. Ông kể về sáu mươi lăm năm chung sống với thói gia trưởng khó nết, về chuyện vô tâm đem vứt chiếc hộp bánh quy thiếc đựng thư tình và kỷ vật ngày cưới của vợ ra thùng rác đầu ngõ, để rồi bà dứt áo xách va ly lên tá túc ở homestay của cháu gái bên đồi mận Nà Ka. Đến khi ông lặn lội lên tới nơi, cánh cửa gỗ đã cài then lạnh lùng từ chối.

Nghe xong câu chuyện trớ trêu của ông lão tám mươi chín tuổi, cụ Vàng chép miệng, vừa lắc đầu ái ngại vừa bật cười “Chà chà… Vợ chồng sáu mươi lăm năm mà ông nỡ vứt kỷ vật của người ta đi thì bà giận là đúng rồi! Đàn bà vùng cao hay đàn bà phố thị thì cái bụng cũng nhớ dai lắm, nhất là cái tình thời trẻ. Bà cài then cửa là để thử cái lòng kiên trì của ông đấy thôi!”

Bản tin thời sự trên chiếc đài National vẫn cất lên êm ái, rành rẽ từng lời hòa cùng tiếng nổ lách tách của tàn củi đỏ. Nhìn vẻ mặt ủ rũ nhưng ánh mắt chan chứa quyết tâm chuộc lỗi của ông lão thợ đài bên bếp lửa, cụ Vàng bỗng vỗ đùi đánh đét một cái thật giòn. Cụ nheo mắt nhìn ông Điền với nụ cười sảng khoái đầy ẩn ý, hàm răng ám khói thuốc rạng rỡ dưới ánh lửa hồng “Này ông thợ phố! Chiếc đài của tôi ông cứu sống được, thì cái bụng của bà nhà ông cũng chữa được thôi! Tôi đang có một tính toán này hay lắm, khéo lại giúp ông đường hoàng ở lại đất Nà Ka này mà đón lại vợ đấy!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.