Chương 10: Vết Mộng Liên Châu

Gió buốt rạng sáng ngày thứ ba quét qua khoảng sân đầy gạch ngói vỡ, cuốn theo tàn tro bay lả tả. Người thị vệ giáp nhẹ của Cấm vệ quân vẫn giữ tư thế cúi nhặt thanh xà gồ cháy dở, tấm lưng rộng khéo léo che khuất tầm nhìn của đám lính tuần tra đang xao xác phía cổng viện.

Dưới vạt giáp sắt thô ráp, bàn tay hắn lướt rất nhanh, dúi một bọc vải dầu nhỏ vào lòng bàn tay khô gầy của Tăng Tú Nghi rồi cất giọng trầm đục, kín đáo truyền âm “Lão ma ma, người của Tam điện hạ đã liều mạng gạt được thái giám canh giữ Khôn Ninh Cung, cạo được mạt đá nơi lòng nghiên. Điện hạ dặn người ngàn vạn lần phải giữ lấy tấm thân, chân tướng giang sơn gửi cả nơi tay áo người.”

Dứt câu, viên thị vệ thản nhiên vác thanh gỗ cháy xém lên vai, sải bước hòa vào đám binh lính đang dọn dẹp đống đổ nát, không để lại nửa điểm khả nghi.

Tăng Tú Nghi khẽ siết chặt bọc vải dầu trong ống tay áo xám tro, bàn tay già nua khẽ run lên trước sức nặng của sinh mạng hàng trăm con người. Bà ngước nhìn A Mộc đang ngồi bệt bên cạnh th* d*c, giọng khàn trầm nhưng vững như bàn thạch “Mộc nhi, đỡ ta dậy. Mau vào gian chái phía đông, lửa chưa bén tới đó.”

A Mộc vội vàng ôm chặt chiếc rương sắt nhỏ vào ngực, dùng một cánh tay gầy guộc nhưng dẻo dai đỡ lấy nách sư phụ. Hai bóng người, một già một trẻ, nương tựa vào nhau bước qua những vũng nước đen ngòm hòa lẫn muội than. Gian chái phía đông vốn là nơi nghỉ trưa của thợ đá, nay may mắn còn nguyên bốn bức tường vách đất và cánh cửa gỗ khép hờ.

Vừa vào tới bên trong, A Mộc liền cài then cửa, đốt lên một ngọn đèn dầu hạt cải nhỏ đặt lên chiếc bàn con bằng gỗ mộc. Ánh lửa vàng vọt lay lắt xua tan màn đêm lạnh lẽo, hắt bóng lưng còng của lão phụ lên vách tường loang lổ.

“Sư phụ, tro bụi bám đầy mặt người rồi.” A Mộc xót xa lấy tay áo quẹt vết nhọ trên gò má nhăn nheo của Tăng Tú Nghi, giọng nghẹn ngào.

“Chút tro than ngoài da có đáng là bao.” Tăng Tú Nghi từ tốn lắc đầu, ngồi xuống ghế đẩu: “Mở rương sắt ra, lấy mẩu phôi đá núi Thúy Vi và thấu kính pha lê của Tiên đế ban cho ta.”

A Mộc dạ một tiếng, nhanh nhẹn mở nắp rương sắt. Nàng cẩn thận đặt mẩu sa thạch màu xám tro thuần khiết vừa cứu ra từ biển lửa lên mặt bàn, đoạn lấy ra chiếc thấu kính pha lê viền đồng đen bóng.

Tăng Tú Nghi tháo bọc vải dầu bên trong tay áo. Lớp vải dầu mở ra, bên trong là một mảnh giấy tuyên mỏng gói chừng hai nhúm mạt đá mịn cùng vài mảnh vụn sa thạch nhỏ cỡ hạt tấm, vương vất một mùi tanh nồng rất nhạt quyện lẫn hương mực bồ hóng.

Bà nhắm mắt hít một hơi sâu, đôi mày bạc nhíu chặt lại “Mùi quặng lân sa độc U Lan Cốc… quả nhiên không sai một phân.”

Bà đưa tay đón lấy thấu kính pha lê từ A Mộc. Đôi mắt vốn đã đục mờ vì năm tháng, nhưng khi thấu kính đặt sát ngọn đèn hạt cải, đồng tử bà bỗng ánh lên vẻ sắc sảo lạ thường của bậc kỳ tài bách nghệ. Đầu tiên, bà soi vào mẩu phôi gốc núi Thúy Vi. Dưới lớp pha lê trong suốt, thớ đá sa thạch hiện lên xốp mịn tựa cát nén ngàn năm, các khoang rỗng li ti phân bố đều đặn như tổ ong, hoàn toàn không có bất kỳ mảng bám ngoại lai nào.

Sau đó, Tăng Tú Nghi chuyển thấu kính sang những mảnh vụn cạo ra từ chiếc nghiên ngự dụng dâng thọ Khôn Ninh Cung.

Từng hạt bụi đá được ánh sáng phóng to hiện rõ mồn một. Giữa những hạt cát sa thạch màu lam xám, xen lẫn vô số vi hạt trong suốt ngả vàng óng ả, bám chặt như lớp keo dính.“Mộc nhi, con dùng đầu kim nhúng vào dầu đèn, khẽ gẩy hạt màu hổ phách này xem.” Tăng Tú Nghi từ tốn căn dặn.

A Mộc nín thở, cẩn trọng cầm chiếc kim khâu bằng đồng nhúng chút dầu nóng, chấm nhẹ vào mảnh vụn đá. Đầu kim vừa chạm vào, vi hạt màu vàng lập tức mềm ra, tỏa ra một làn khói mảnh như sợi tơ cùng mùi nhựa thông nung thơm nồng nhưng ngột ngạt.

“Sư phụ! Đúng là nhựa thông nấu luyện!” A Mộc khẽ thốt lên, đôi mắt mở to kinh ngạc: “Hạt nhựa thông đã ngấm sâu vào khe đá, chứng tỏ đây không phải bôi trét bề mặt!”

“Không chỉ có thế.” Giọng Tăng Tú Nghi chợt chùng xuống, ngón tay khẳng khiu rà qua một mảnh đá vụn dẹp dài chỉ bằng móng tay út.

Dưới ánh đèn, mép cạnh của mảnh đá không hề có vết vỡ tự nhiên lởm chởm. Ngược lại, nó có một đường rãnh hình bán nguyệt nhẵn mịn đến rợn người, uốn lượn nối tiếp nhau như một chuỗi hạt ngọc nhỏ li ti. Đó là vết tích của mũi đục ngầm siêu nhỏ, được gọt đẽo với độ chuẩn xác tuyệt đối để ăn khớp vào một mộng đá đối ứng.

Kinh nghiệm trăm năm qua năm đời đế vương khiến lồng ngực Tăng Tú Nghi thắt lại. Bà khẽ thì thào “Liên Châu Khảm… Đây chính là mộng đá Liên Châu Khảm!”

A Mộc sững sờ, lắp bắp “Mộng đá Liên Châu Khảm? Đó chẳng phải là tuyệt kỹ dùng để ghép đá cảnh ngự dụng, làm cho hai khối đá ghép vào nhau khít khao không để lộ đường ranh giới sao?”

“Phải.” Tăng Tú Nghi chậm rãi thở ra một luồng khí lạnh, ánh mắt nhìn xoáy vào mảnh vụn: “Chiếc nghiên Cửu Phụng Triều Dương mà Ti Nghiên Khắc chúng ta chế tác vốn là khối đá Đoạn Thủy thuần khiết. Nhưng kẻ thủ ác đã bí mật đánh tráo sau khi nghiên rời xưởng, hoặc ra tay ngay trong bóng tối. Chúng dùng mũi đục Liên Châu khoét rỗng một lớp mỏng nơi lòng nghiên — chính là nơi mực tiếp xúc nhiều nhất khi mài — rồi khảm một phiến sa thạch U Lan Cốc tẩm nhựa thông độc vào đó. Lớp mộng liên châu khít đến mức dẫu nước mực tràn qua cũng không rỉ ra ngoài, mắt thường nhìn vào chỉ thấy vân đá tự nhiên.”

Bà chỉ tay vào các rãnh mộng hình bán nguyệt “Khi Hoàng hậu mài mực, thỏi mực cọ xát sinh nhiệt làm nhựa thông tan chảy, giải phóng quặng lân sa độc hòa vào hơi mực bốc lên. Nhưng nếu không cạo sâu xuống ba phân lòng nghiên để bóc tách lớp mộng ghép này, cả thiên hạ sẽ vĩnh viễn tin rằng chiếc nghiên sa thạch Đoạn Thủy do Tam điện hạ dâng lên tự thân nó là khối đá đoạt mạng!”

A Mộc run rẩy nắm lấy tay áo sư phụ, khuôn mặt tái mét “Hiểm độc đến nhường này… Ai lại có thủ đoạn tinh vi và tay nghề thượng thừa đến thế?”

Tăng Tú Nghi không đáp ngay. Bàn tay nhăn nheo như vỏ cây thông già của bà khẽ run rẩy khi lần theo mép mộng đá tinh vi dưới ánh thấu kính. Đột nhiên, nơi góc uốn của rãnh mộng bán nguyệt, bà nhìn thấy một ký hiệu hoa văn hình mây cuộn ba tầng được khắc chìm cực nhỏ, sâu chưa đầy nửa sợi tóc — dấu ấn độc môn của thợ cả nhằm đánh dấu khớp nối khi khảm mộng đá.

Ký hiệu vân mây ba tầng ấy, sáu mươi năm trước khi Tăng Tú Nghi cùng các bậc tiền bối khảo hạch thợ đá kinh kỳ, bà từng thấy trên các món bảo vật ngự ban cho phủ đệ quyền quý nhất triều đình.

Đôi mắt lão phụ ngưng đọng, từng đường gân mu bàn tay siết chặt lại. Dấu chạm khắc khảm ngầm này chỉ có thể xuất phát từ phường thợ đá ngự dụng riêng của phủ Thẩm Quốc công.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.