Chương 6

Sáng

sớm hôm sau, tôi bước ra phố liền phát hiện thành Trường An có lệnh giới

nghiêm. Giới nghiêm tức là tất cả cửa hàng cửa hiệu đều phải đóng cửa, mọi

người không được ra khỏi nhà, không được phép ra vào thành, ai nấy phải ở yên

một chỗ. Trên đường chỉ có quan binh và một số người có việc quan trọng đi lại.

Tôi và Hỷ Lạc tì người lên cửa sổ nhìn ra ngoài. Hỷ Lạc hỏi tôi: Huynh đang

nghĩ gì vậy?

Tôi

nói: Nghĩ xem lát nữa đi lấy kiếm thế nào, có khi chúng ta bị lừa cũng nên.

Hỷ Lạc

nói: Muội cảm thấy huynh đã khác trước rồi.

Tôi

nói: Không thể nào. Chưa trải qua việc lớn nào thì làm sao đã khác trước được.

Hỷ Lạc

nói: Huynh khác so với hồi ở trong chùa.

Tôi

nói: Thực ra vẫn thế thôi.

Hỷ Lạc

nói: Huynh vẫn đau đáu với thanh kiếm đó, dù sao kiếm cũng chỉ là một thứ ngoại

vật thôi mà.

Tôi

nói: Huynh cảm thấy, khác với lời đồn đại, chúng ta là những người như nhau

thôi, có thanh kiếm đó bên mình, bản thân cảm thấy rất an toàn.

Hỷ Lạc

nói: Thì ra huynh cũng cần cảm giác an toàn.

Tôi

nói: Đúng thế, có thể nghĩ thế này, những người khác thực sự bạo dạn ra đường.

Còn huynh thì luôn cảm thấy mình là người tốt, sư phụ thì suýt bảo huynh là

chúa cứu thế, nhưng bản thân huynh hiểu rõ nhất chuyện gì đang xảy ra.

Hỷ Lạc

nói: Vậy lúc nào thì chúng ta đi lấy kiếm?

Tôi

nói: Ngay bây giờ.

Dọc

đường suôn sẻ, không bị quan binh ngăn chặn, tới căn nhà ở ngã rẽ, chúng tôi

đẩy cửa bước vào. Phát hiện trong nhà không một bóng người, tôi và Hỷ Lạc liền

kiếm tìm khắp chỗ, vẫn không thấy còn lại một thứ gì. Trong lòng tôi bất chợt

cảm thấy hẫng hụt. Tìm lại một lượt, phát hiện thanh kiếm ở đầu giường ông lão,

trên kiếm có khắc một dòng chữ, tôi và Hỷ Lạc cũng lúc cảm thấy có lẽ dòng chữ

đó đại loại sẽ là những câu kiểu như “giang hồ hiểm ác, thùy

chủ phù trầm”, ai ngờ nhìn kỹ lại thì là: Ta

đi một chuyến, gặp lại nhau sau.

Chúng

tôi vừa ra khỏi cửa lập tức vướng phải phiền phức, chạm mặt ngay hai tên quan

binh đang đi tuần đơn lẻ, trông thấy chúng tôi, họ đột nhiên thay đổi sắc mặt,

đoạn tiến lên chất vấn: Ngươi có biết ra đường không được cầm kiếm không hả,

giờ có lệnh giới nghiêm, còn không được phép dắt theo ngựa, con này tuy là con

lừa, song cũng cùng một giống, ngươi phải đi cùng chúng ta một chuyến rồi.

Tôi nói

rõ lý do tới đây, giống như lần ở cửa thành lúc trước. Song lần này lệnh giới

nghiêm quả nhiên nghiêm ngặt, dẫu nài nỉ thế nào cũng vô dụng, tôi đành nói: Xin

hai vị nương tay, chớ cản đường, tôi biết lần này tới đây ắt sẽ bị tù năm năm,

song tôi quả có việc quan trọng.

Hai

người đó cứ cố chấp không chịu khoan nhượng.

Tôi rút

kiếm, tới mũi kiếm liền lập tức thu lại, hỏi: Đã thấy rõ chưa?

Hai

người trợn tròn mắt nhìn, không hề phản ứng.

Tôi hỏi

Hỷ Lạc, đồng thời nói: Đi thôi!

Hỷ Lạc

nói: Nói cho rõ ràng thì hơn.

Tôi

gắng lôi Hỷ Lạc đi, được mấy bước, tôi liền nói, muội quay lại xem.

Hỷ Lạc

quay đầu lại, bất chợt cơ thể của hai kẻ kia bỗng đứt làm đôi, rơi xuống đất.

Hỷ Lạc

nôn ọe tại chỗ, kinh ngạc nhìn tôi. Chúng tôi lẳng lặng quay về quán trọ.

Hỷ Lạc

chất vấn: Sao huynh lại giết người hả?

Tôi

nói: Nếu không sẽ rất rắc rối, muội cũng thấy đấy.

Hỷ Lạc

nói: Nhưng huynh có thể đánh cho họ ngất.

Tôi

nói: Vậy thì đến khi họ tỉnh dậy, chúng ta muốn chạy trốn cũng không thoát

được.

Hỷ Lạc

nói: Bất kể thế nào, sau khi cầm thanh kiếm này huynh cũng đã khác trước.

Tôi

nói: Hỷ Lạc ơi, không phải vậy, giờ tình hình của ai cũng nguy hiểm cả, bên

ngoài giới nghiêm, chắc chắn đã có chuyện lớn xảy ra, huynh đoán huynh đệ Thiếu

Lâm ở các núi khác đã tập hợp lại báo thù rồi.

Hỷ Lạc

tới trước quầy nghe ngóng, tên tiểu nhị nói, không biết đã xảy ra chuyện gì,

chắc là có liên quan tới các bang phái. Trong dân gian quả có rất nhiều bang

phái, các phải nhỏ thì nhiều vô kể, kết bè kết cánh cũng nhanh hơn sức tưởng

tượng, ví như vụ thỏ và dưa hôm trước, trong chốc lát đã có hai bang phái. Phái

nhỏ không nói làm gì, phái vừa có bảy tám bang, bốn năm giáo đoàn, do triều

đình trước nay không cai quản, cho nên số người ngày một đông lên. Bang phái

lớn hơn một chút có Thiếu Lâm và Võ Đang, một bên Phật giáo một bên Đạo giáo,

sở dĩ trở thành bang phái lớn là bởi sau lưng có chỗ dựa tinh thần. Sự khác

biệt ở Phật và Đạo là ở chỗ, bên Phật thì nếu anh đánh chết tôi tức là anh đã

siêu độ cho tôi, còn bên Đạo, nếu anh đánh tôi không chết tôi sẽ siêu độ cho

anh. Tuy nhiên trên thực tế chẳng có ai bằng lòng để người khác đánh chết, ai

cũng muốn ở lại thế gian cực khổ, bởi thế gian vẫn có cảm giác quen thuộc hơn.

Sự việc diễn biến đến cuối cùng, sự khác biệt không còn quá lớn, vả lại sau

lưng đều có sự ủng hộ của triều đình. Ngoài ra, từ xưa đã có Cái bang, tức là

một bang phái do bọn ăn xin hợp thành, đám ăn xin vốn dĩ rất đông, không cần tổ

chức, trong khi trưởng lão của Cái bang tuy đức cao vọng trọng, song vẫn là một

tên ăn mày, vậy nên triều đình thường mặc kệ. Bất kể là việc gì cũng đều không

nên nghĩ nhiều, không cần thiết phải truy cứu sâu xa, bang phái này là bang

phái ăn mày tập thể, nghĩ đến đó là được, mà cũng là chính xác nhất.

Tôi cảm

thấy bên ngoài chắc chắn đã xảy ra rất nhiều việc, cần phải gấp rút ra khỏi

thành. Song khi nghĩ đến việc đã ra khỏi thành, thường lại cảm thấy trong thành

sẽ xảy ra nhiều việc, sẽ phải gấp rút quay trở lại. Hỷ Lạc nói: Hay chúng ta cứ

đợi xem sao đã!

Trong

khi chờ đợi, chúng tôi nghe được rất nhiều lời đồn đại, đầu tiên là việc ở Trục

thành bắt đầu có cuộc quyết đấu, các bang phái cần suy tôn ra một minh chủ.

Tiếp theo đó là việc sư phụ Huệ Cảnh ở chùa Thông Quảng lần trước bị thương nay

đã bị ám sát. Ngoài ra còn có lời đồn rằng hành vi của Võ Đang đã xúc phạm tới

trời, Quá Sa đã bị chôn vùi trong bão cát, vân vân. Lời đồn kỳ quái đến mức nào

cũng có. Nghe nói có người đã bắt đầu tích trữ lương thực. Tôi và Hỷ Lạc vẫn

quyết định rời thành là tốt hơn cả.

Cũng

may, lệnh giới nghiêm trong thành đến trưa là kết thúc. Tôi và Hỷ Lạc đi ra cửa

đằng Tây, phát hiện thấy có hai con đường, một đường tới Trục thành, một đường

tới Tuyết Bang. Tuyết Bang là một thành trì nổi tiếng cách Trường An mấy trăm

dặm về phía Bắc, vì gần tới biên giới nên rất nhiều bang phái lớn nhỏ đóng chốt

ở đây, nghe nói Võ Đang gần đây cũng chuyển tới đó. Có thể đoán rằng nơi đó đã

trở thành nơi ma quỷ tác oai tác quái. Bên cạnh Tuyết Bang là A Vệ Liêu, trước

vốn không thuộc Trung Hoa, về sau chẳng biết thế nào lại sát nhập vào bản đồ

mặc dù còn chưa động tới binh đao. Nay thì A Vệ Liêu là nơi trọng binh của

triều đình đóng quân, ngoài Trường An. Đây là nơi chúng tôi chưa từng tới, còn

Trục thành gần như không còn nghĩa lý gì nữa.

Vậy

thì, tới A Vệ Liêu để làm gì? Tôi luôn cảm thấy sứ mệnh của mình là báo thù cho

Thiếu Lâm, nhưng dường như mối thù đó tức khắc đã được báo trả, song có lẽ

không đơn giản như vậy, tóm lại tôi thấy vẫn chưa đủ, cần phải làm tiếp.

Con Lép

sau một thời gian cọ xát với thực tế, xét về phương diện tốc độ và độ bền bỉ,

nó đều có những tiến bộ đáng kể, vả lại còn học được cách giao tiếp với con

người, nó cứ chớp chớp mắt nhìn, với bộ dạng như thể sắp bị bắt nạt khiến Hỷ

Lạc yêu nó vô cùng. Tôi nghĩ việc tôi giết một lúc hơn bốn mươi người ở Quá Sa

chắc hẳn chưa được điều tra rõ ràng, hoặc giả triều đình có cách suy tính

riêng, bằng không nhóm ba người chúng tôi một lừa một trai một gái chắc chắn đã

bị tra hỏi cả vạn lần từ lâu rồi. Tôi nhớ lại vụ việc hai chiếc tiêu kỳ lạ

phóng về phía chúng tôi lúc ăn cơm lần nọ, đã gây sát thương cho người khác,

song đến giờ vẫn chưa rõ tình hình, vả lại quan binh dường như không suy xét

việc này, gần đây triều đình như thể đang bận bịu xử lý một cơ số việc riêng,

chỉ nghĩ đến thôi cũng đã thấy sợ.

Chúng

tôi đi chầm chậm tới Tuyết Bang, nơi mỗi lúc một lạnh. Hỷ Lạc chỉ muốn di

chuyển theo thời tiết, còn tôi thì chẳng có yêu cầu gì, dường như tôi lại thích

di chuyển ngược lại, ví như mùa đông thì đi lên phía Bắc, mùa hạ lại rời xuống

phương Nam là nơi không được coi trọng mấy, có lẽ bởi phía Nam giáp với biển

cả, chắc không còn đất đai gì nữa, trong khi phía Bắc cương thổ tựa hồ vẫn rất

bao la, không biết rốt cuộc xa xôi đến nhường nào, mười lăm năm trước triều

đình từng có một tiểu đội định thăm dò bí mật của miền cực Bắc và khả năng mở

rộng biên cương, hoàng thượng chờ đợi tin tức từ đoàn người ngựa đó, thế rồi

mười lăm năm qua đi, họ vẫn chưa quay lại, việc ấy thực sự khiến người ta cảm

thấy thần bí. Đi về phía Tây, với những mạch núi cắt ngang, đã tới tận cùng réo

dắt, mọi người đều cho rằng đầu phía đó là ranh giới giáp với trời, bởi địa thế

cao dần, cao đến mức không có đường thông tới, lại càng chẳng có ai đặt chân

đến được, muôn ngọn núi ngăn trở, tựa hồ vô biên vô tận, vả lại khác với Trung

nguyên nơi mỗi ngọn núi đều có thể ước tính được cao thấp, các ngọn núi ở đó

đều có tuyết trắng ôm đỉnh, rất khó ngước trông, lại hết sức choáng ngợp, cho

nên hẳn là giới hạn giữa trời và đất.

Song

xét trên góc độ quân sự, không thể nào vì giới hạn giữa trời và đất mà coi như

xong chuyện, nhất định phải thăm dò, cho dù là phân giới của trời đất, mọi

người cũng đều rất muốn biết xem ở đầu đó rốt cuộc thế nào. Đoàn người ngựa ra

đi mười lăm năm trước, có lẽ vì vậy mà vẫn chưa thể quay về. Điều đó chứng tỏ,

mặt quân sự phía này về cơ bản có thể yên tâm, ngay đến người đi còn không thể

quay lại, huống hồ là quân đội xâm lược. Vậy nên mối họa tiềm tàng chính là

phương Bắc. Các thành trì ở phương Bắc nhìn chung đều có xu hướng to lớn, tường

thành cũng cao, chú trọng vào tính dễ phòng thủ, khó tấn công. Song có một việc

tôi vẫn chưa thể hiểu rõ được, vì sao nhất định cứ phải đánh hạ từng thành một,

thảng như có đủ binh lực, đánh thẳng một mạch vào Trường An chẳng phải xong

luôn sao? Trong khi phần lớn binh lính đều trấn giữ ở các thành trì khác.

Không

biết có phải do tác dụng tâm lý hay không, dọc đường tôi cảm thấy mỗi lúc một

lạnh. Hỷ Lạc nói, trời đã vào đầu đông rồi. Giang hồ thì chắc chắn không yên

bình như trước nữa, bởi dọc đường đi của chúng tôi đều rất yên bình, điều đó có

nghĩa là mọi người đều đang bận việc chính. Hỷ Lạc của tôi thì chẳng hiểu gì,

bản thân tôi lại không có người bạn giang hồ nào cả, cho nên không thể dò la

được tin tức, mọi việc đành gác lại chờ sau khi đến Tuyết Bang.

Mất mấy

ngày mơ mơ màng màng, đi ngang qua rìa sa mạc, ngang qua núi thẳm gò hoang,

ngang qua thôn làng hẻo lánh, ngang qua rừng sâu nước độc, ngang qua thị trấn

xác xơ, ngang qua đình chùa xiêu đổ, song chẳng biết có phải đường tới Tuyết

Bang hay không. Chúng tôi đã hỏi rất nhiều người đi đường, họ đều nói chỉ biết

phương hướng đại khái, chưa từng đi tới Tuyết Bang, bởi võ công không đủ cao

cường.

Hỷ Lạc

hỏi tôi: Sao huynh không nghĩ tới việc đi tới các ngôi chùa khác nhỉ, ví dụ như

chùa Huệ Tĩnh ở phương Nam, chùa Quảng An gần Trường An, toàn những ngôi chùa

lớn cả.

Tôi

nói: Huynh từng nghĩ rồi, nhưng tới đó làm gì chứ?

Hỷ Lạc

nói: Cũng phải, huynh có thể nhờ họ giúp tìm các vị sư phụ, hoặc giả hỏi xem có

biết tung tích phương trượng hay không.

Tôi

nói: Ở chỗ họ, muội và huynh chỉ là đệ tử thôi, những việc này có hỏi cũng

không rõ, huống hồ biết bố trí muội thế nào đây?

Hỷ Lạc

nói: Vậy không tới đó nữa.

Tôi

nói: Đúng, tới Tuyết Bang chắc sẽ biết thêm được rất nhiều việc.

Tuyết

Bang.

Tôi rất

lấy làm kinh ngạc khi chúng tôi lại đến được Tuyết Bang, hơn nữa tường thành ở

Tuyết Bang còn cao chót vót, hơn thành Trường An rất nhiều. Bên ngoài tường

thành chỗ cổng vào dán đầy những tờ cáo thị truy nã, phải đến hàng trăm tờ, Hỷ

Lạc nói: Đi, ra xem có huynh không.

Tôi

bước lên trước nhìn, thì ra những tờ giấy truy nã này trông tưởng loạn, nhưng

trên thực tế rất có quy củ, kẻ phạm tội nặng nhất được dán ở trên cùng, đọc từ

dưới lên, trang đầu tiên được viết thế này.

Đàn

ông, không rõ danh tính, nguồn tin cho hay, y cao chừng sáu thước, diện mạo

không rõ, mang theo một thanh loan đao cán lớn, trên đao có xâu một vòng sắt,

trên vòng sắt trổ một đôi uyên ương, cán đao làm bằng gỗ, sắc gỗ đen, có một

vết nứt, lưỡi đao có răng, tổng cộng một trăm linh năm răng, đao dài ba thước.

Vào

giờ Tý tiết Thu phân, y tới thôn Nhị Man trêu cợt hai nữ tử (từ “hai” có một

gạch chéo) Diêu Tú Hoa, mẹ Tú Hoa phát hiện, nói với bố Tú Hoa, bố Tú Hoa cầm

cây gậy gỗ đuổi theo, y rút đao chém loạn, đoạn dân làng phát hiện, y liền cướp

đường đào tẩu, đồng thời tiện tay cướp một con gà giống của nhà Tú Hoa, một con

gà giống của nhà Diệu Tam Căn, hàng xóm của Tú Hoa, mối ẩn họa thậm lớn, mong

những người biết tung tích báo quan.

Tôi và

Hỷ Lạc đứng ngây ra đọc, nín lặng cười thầm. Về sau án này nghe đồn không tìm

thấy người song lại tìm thấy thanh đao, bồi thường cho nhà Tú Hoa, song bởi

Diêu Tam Căn cũng mất gà, nhà Tú Hoa được đao mà Diêu Tam Căn lại không được

gì, cho nên không phục, định kiện lên quan. Sau đó quan phán cho Diêu Tam Căn

được sở hữu vỏ đao, Diêu Tam Căn vẫn không phục, cảm thấy hai nhà đều mất gà

như nhau, vì sao nhà Tú Hoa được đao còn nhà tôi chỉ được vỏ, ai ngờ quan mắng

ngay tại chỗ, rằng khuê nữ nhà ngươi chưa bị s* s**ng, khoản bồi thường đó là

bồi thường về việc mất danh dự, chứ không phải bồi thường vì mất gà. Về sau hai

nhà trở mặt, không qua lại với nhau nữa.

Đó là

việc nhỏ, càng lên trên cao tình hình càng nghiêm trọng hơn, song đều thuộc vụ

án đã hủy bỏ, bởi đầu giấy đều đánh gạch chéo màu đỏ.

Đàn

ông, họ tên Diêu Cần Thọ, mặt có hai nốt ruồi, lông mày rậm, mắt nhỏ, mũi rộng,

môi dày, cao sáu thước năm, ngực có vết thẹo, dài một tấc.

Y

sát hại gái lầu xanh đứng đường là Đào Hoa, cô gái số 6 lầu Vọng Xuân, dung mạo

đẹp, tận tình, tài nghệ tốt, biết đánh đàn, mặt mũi sáng mịn, lông mày lá liễu,

mắt to, mũi thuôn nhỏ, đôi môi anh đào. Thủ đoạn của y tàn nhẫn, dùng ám khí.

Có võ công nhất định. Đề nghị người biết tung tích báo quan. Nếu thông tin xác

thực, ma ma phòng số 3 lầu Vọng Xuân bằng lòng khuyễn mãi mười đêm xuân miễn

phí, không cần gọi số, tùy chọn bất kỳ cô nương nào rảnh rỗi.

Do điều

kiện hấp dẫn, vụ này nghe nói có rất nhiều người trình báo, chỉ cần phù hợp với

một số miêu tả về diện mạo của người đàn ông như lông mày rậm hoặc mắt nhỏ, họ

cứ báo quan trước, dù sao báo sai cũng không bị trách tội. Vụ việc này phát

triển về sau, hễ có người cao sáu thước năm đều bị người có chiều cao khác bắt

trói lại đem báo quan, có một thời gian, những người cao sáu thước năm ở Tuyết

Bang đều không dám ra đường, chưa đi được mấy bước đằng sau đã có tiếng gọi

lại: Gớm nhỉ, thì ra ngươi là Cần Thọ, sau đó chẳng biết tại sao một toán người

lao đến trói lại. Đây là lần duy nhất, chưa từng có trong lịch sử, lợi ích của

phụ nữ được coi trọng trong xã hội này. Một người bán thân bị giết, toàn dân

đều hành động. Về sau lệnh truy nã này bị hủy bỏ, bởi nó khiến xã hội động loạn.

Tiếp

tục nhìn lên trên cao nữa, còn có cáo thị truy nã nghiêm trọng hơn Đàn

ông, cao tuổi, kèm một chân dung. Dung mạo như trong tranh, cao năm thước rưỡi,

người này mang theo rất nhiều ám khí, trong một đêm sát hại cả nhà ông Vương Thạch

Sơn bán đậu phụ ở phố hàng Bạc, cả thảy năm người, đồng thời còn cướp đi một số

vàng bạc. Vụ án nghiêm trọng, đề nghị người biết tung tích báo quan.

Trên

nữa còn có một lệnh truy nã Đàn

ông, tội phạm đã có tiền án tiền sự, kèm một chân dung. Dung mạo như trong

tranh, cao sáu thước hai, người này phạm tội đã nhiều năm. Quen dùng ám khí, ra

tay hiểm độc, trong bốn năm tổng cộng đã ám sát hơn trăm người ở Trục thành,

Quá Sa, Tuyết Bang, Vụ Lưu, Đồng Điền, mối nguy hại cực lớn, đề nghị người biết

tung tích báo quan, không được tự ý bắt, phải giữ một khoảng cách nhất định.

Hỷ Lạc

than thở, vụ này quá lợi hại. Song thấy bên trên nữa vẫn còn một tờ, liền hỏi,

tờ trên cùng kia chắc chắn ghê gớm hơn, huynh xem xem đó là ai?

Tôi

kiễng chân nghển cổ nhìn, rất muốn xem tờ trên cùng thế nào, song cố gắng nhìn

mãi, cuối cùng đành phải cụt hứng nói với Hỷ Lạc: Thực sự không thể cố được,

bức tường này thẳng quá, dán quá cao, huynh chẳng thế trông thấy gì cả. Lẽ ra

phải dán ngược lại, không thể để tay trộm gà được dán dưới cùng được.

Hỷ Lạc

nói: Ai mà biết được, chắc những thứ quan trọng thường hay ở chỗ cao mà, kẻ đó

có khi giết phải đến nghìn người, thôi chúng ta vào thành đi!

Tôi và

Hỷ Lạc vội vã vào thành, tìm một lữ đ**m trọ lại. Tôi phát hiện thấy Tuyết Bang

không hề hỗn loạn như tôi tưởng tượng, ở đây dường như rất có trật tự, phía xa

xa thấp thoáng có thể thấy một ngọn cô sơn dính phủ đầy tuyết.

Những

người vào thành dường như không bị kiểm tra, bầu không khí ở đây hoàn toàn khác

so với Trường An, tựa như chưa hề xảy ra chuyện gì cả, khác với lời đồn đây là

nơi các bang phái đóng quân. Song tôi nghĩ, các bang phái lớn cũng giống như

Thiếu Lâm, họ sẽ không đóng quân trong thành, triều đình mà ngứa mắt, muốn diệt

họ thì chỉ cần đóng cửa thành lại là xong, người bên trong không thoát ra được

mà huynh đệ bên ngoài cũng không vào được. Tương truyền Võ Đang cũng ở trong

một đạo quán trên đỉnh núi gần Tuyết Bang. Do nội quy trong chùa không cho phép

hỏi về việc này, nên tôi không biết cụ thể họ ở đạo quán nào, song tôi nghĩ

danh tiếng của nó sẽ được đồn thổi ra ngoài.

Tuyết

Bang không lớn, mất khoảng nửa ngày là có thể đi hết. Tôi và Hỷ Lạc đều ngạc

nhiên khi không thấy có bất kỳ ai giắt kiếm, dường như họ đều là những người

dân chất phác. Tôi phân vân hoài không rõ cái đám ngày thường vẫn đánh đấm loạn

xạ rốt cuộc đã đi đâu. Hay là màn đêm chưa buông xuống thì chúng chưa ló ra

hoạt động? Ở đây chẳng có chút không khí nào như lời đồn đại rằng hàng ngày

phải có mấy người thiệt mạng trên đường. Cảm giác nơi đây lại là một nơi rất

hợp để sinh sống.

Bỗng

nhiên, xảy ra một việc, một người cưỡi ngựa, lao gấp về phía chúng tôi, tình

thế y như lần trước, vẫn là Hỷ Lạc đang đứng ở giữa đường, tôi băn khoăn chẳng

hiểu sao cô nàng cứ nhất định phải đứng giữa đường, thế rồi tôi quơ tay kéo Hỷ

Lạc sang một bên, vốn dĩ bản thân tôi có thể nhẹ nhàng lánh ra, song tôi phát

hiện tên cưỡi ngựa đó rõ ràng thấy sắp đụng phải người đi đường mà vẫn không hề

có ý ghìm ngựa, hơn nữa con ngựa đó còn nhăn mặt, lè lưỡi, phồng mũi nhằm thẳng

vào tôi lao tới, bộ dạng rất xấu xí. Tôi né sang bên cạnh, rút kiếm từ trong

tay nải của Hỷ Lạc, nện thẳng vào chân ngựa, thế là cả người lẫn ngựa cùng đổ

rầm xuống đất.

Hỷ Lạc

lao tới nói: Huynh điên rồi à! Con ngựa đó có làm gì đâu, sao huynh lại chém

phăng bốn chân nó đi?

Tôi

nói: Hỷ Lạc ơi, huynh có chém đâu. Muội xem, nó vẫn dính vào thân đấy chứ?

Con

ngựa từ từ bò dậy trước tiên.

Hỷ Lạc

nói: Muội không tin, sau mấy giây nữa chắc chắn chân nó đứt.

Tôi

nói: Hỷ Lạc ơi, kiếm của huynh vẫn ở trong vỏ mà.

Hỷ Lạc

liếc nhìn, thở phào một tiếng.

Đang

nói thì vị huynh đệ cưỡi ngựa cứ luôn miệng rên xiết trên đường. Tôi bước tới

nói: Ngươi phóng như thế nguy hiểm quá, ta cũng chẳng qua bất đắc dĩ mà thôi.

Người

đó chẳng nói chẳng rằng, cứ thế òa khóc.

Thấy

đàn ông khóc, tôi luốn cuống hỏi: Có chuyện gì vậy?

Người

đó nói: Chân ta e là gẫy rồi. Ta toi rồi.

Tôi

nói: Chân gãy thì vẫn có thể liền lại.

Người

đó nói: Ta không thể làm minh chủ của giang hồ được rồi.

Tôi

kinh ngạc nói: Có liên quan gì đến nhau nhỉ.

Người

đó nói: Chẳng lẽ người không biết?

Hỷ Lạc

cũng tiến lại gần, chúng tôi nhìn hắn, cùng lắc đầu.

Người

đó nói: Hôm nay là ngày võ lâm chọn ra minh chủ.

Tôi

hỏi: Chẳng phải có minh chủ rồi sao, Thiếu Lâm ấy?

Người

đó nói: Vụ lần trước không tính, lần này là chọn người chứ không chọn bang

phái, vả lại ngôi chùa lớn nhất của Thiếu Lâm chẳng phải đã bị giết sạch rồi đó

sao? Cũng chẳng biết do ai làm.

Tôi

nói: Vậy trận quyết chiến diễn ra ở đâu?

Người

đó nói: Ở Hạ Tuyết Sơn ngoài thành.

Tôi

nói: Ta biết rồi, ngươi dưỡng thương đi!

Người

đó nói: Ngươi muốn đi...

Hỷ Lạc

nói: Ngươi dưỡng thương đi, ngươi đi thì cũng lại có kết cục như thế này thôi.

Tôi và

Hỷ Lạc quất ngựa chạy thẳng tới Tuyết Sơn.

Chẳng

trách ở Tuyết Bang chỉ có bá tánh, thì ra đám nhân sĩ náo loạn kia đều đã tới

Tuyết Sơn tỉ thí võ công.

Dọc

đường không thấy bóng người, xem chừng tôi và Hỷ Lạc quả thực đi hơi muộn. Vả

lại chạy suốt hai giờ đồng hồ, tôi gần như tuyệt vọng, bởi ngọn Tuyết Sơn kia

trông vẫn thế, cơ hồ không có vẻ gì là đã tới gần, câu “...” có lẽ sắp ứng

nghiệm. Tuy nhiên, tôi dường như nghe thấy ở phía không xa có tiếng người nhốn

nháo, bất giác thấy hiếu kỳ lại gắng thúc ngựa tiến về phía trước, qua một cái

dốc nhỏ, tôi và Hỷ Lạc đều kêu lên kinh ngạc. Trước mắt có hàng vạn người vây

chặt một lôi đài, bên cạnh lôi đài chính là dịch trạm được gọi là Hạ Tuyết Sơn.

Hỷ Lạc

hỏi tôi: Chúng ta tới rồi à?

Tôi

nói: Tới rồi. Mau vào xem đi, hình như vẫn chưa quá muộn.

Đến

trước cổng vào được hàng rào quây kín, tôi, Hỷ Lạc và con Lép bị chặn lại, tên

gác cửa nói: Ngựa không được phép vào.

Tôi

thốt lên một tiếng “Ồ”, sau đó tiện tay cột con ngựa vào hàng rào, rồi bước

tới.

Tên gác

cửa bực nói: Không phải cột ở đây, cột ra đằng sau.

Tôi và

Hỷ Lạc dắt ngựa ra phía sau, chúng tôi lại được phen giật thót mình khi trông

thấy hàng nghìn con ngựa khác, ngoài con Lép của chúng tôi còn dễ nhận ra, các

con ngựa khác dường như chỉ có thể nhận dạng dựa vào màu sắc. Tuy nhiên chúng

đều là ngựa tốt cả.

Chúng

tôi quay lại cổng vào, tên gác cửa nói: Có vé vào không?

Tôi

nói: Không có. Ở đây còn đòi vé cơ à?

Tên gác

cửa nói: Đây là tổ chức chính quy, không vớ vẩn như bận trước, phải có vé mới

được vào, không có thì ra đằng kia mà nghe.

Hỷ Lạc

nói: Làm gì có cái lý nào đến để nghe hả ông anh, chúng tôi tới tham gia đả lôi

đài.

Tên gác

cửa hỏi: Ồ, đến tham dự đả lôi đài à, có vé không?

Hỷ Lạc

nói: Đả lôi đài cũng phải có vé à?

Tên gác

cửa nói: Không có thì bó tay, người muốn làm minh chủ quá đông, phải khống chế

số lượng, muốn tham gia đả lôi đài thì phải thông qua vòng sơ khảo trước đã,

sau khi đủ tư cách, cầm được vé thì mới được vào vòng trong.

Tôi

nói: Vậy tôi mua vé ở đây được không?

Tên gác

cửa nói: Không được.

Tôi

nói: Vậy cứ để tôi vào đã, tôi gửi anh trước một ít tiền được không?

Tên gác

cửa nói: Vậy lại càng không được, ngươi xem bên trong hàng bao nhiêu người, chỉ

sợ ngươi cố lao vào, bọn ta không phân biệt được ai vào với ai.

Tôi

nói: Đúng, cách hay đấy!

Nói

đoạn, tôi liền kéo Hỷ Lạc xông qua cổng, lập tức chui vào trong đám người hỗn

độn, khó khăn lắm mới lách được lên phía trước. Trên lôi đài có một lực sĩ lạ

mặt, hỏi ra mới biết là người đến từ Đông Dương, hắn chẳng biết nói câu nào để

người khác nghe hiểu được cả, không rõ nghe ngóng ở đâu biết nơi này có cuộc tỉ

thí võ công, đồn rằng hắn dò la biết được trận tỉ võ ở Trường An trước, sau đó

lên thuyền tới đây, bởi hắn nghe nói kẻ thắng cuộc trong cuộc tỉ võ này có thể

có được vàng bạc và hàng trăm cô gái trong thiên hạ. Những người bên cạnh đều

bàn tán lầm rầm, đồ rằng vị huynh đệ này liệu có nghe nhầm minh chủ thành hoàng

đế hay không.

Song

bất luận thế nào, hắn ta cũng có sức lực mà người thường không thể so bì được.

Nghe nói hắn đã đánh bại không ít người trên lôi đài, vả lại người bị bại đầu

tiên chính là nhị bang chủ của phái Phi Ưng, được gọi với cái tên Thiết thạch

xuyên vô địch thoái – Ngô chột.

Tôi

kinh ngạc hỏi: Ngay cả Ngô chột cũng bị đánh rớt rồi sao?

Ngô

chột là vị nhân sĩ giang hồ tôi thường nghe nói tới, từ nhỏ đã chột một mắt,

luyện võ chỉ luyện chân, luyện được đôi chân cứng chắc nhất, nhanh lẹ nhất

trong giang hồ. Bởi trước mấy ngày tôi chuẩn bị lên đường, sư phụ có nhắc tôi

một vài cái tên, bảo rằng, những người này có bản lĩnh thực sự, không nên đụng

vào. Trong đó có Ngô chột, người này căm thù Võ Đang và Thiếu Lâm, liền cùng

ông bố tổ chức ra Phi Oanh phái, có mấy chục người, nhưng tên tuổi chấn động

Tuyết Bang, ai ngờ sau đó đồn đến tai một bang phái lớn hơn là Phi Ưng phái,

phái này nghe nói có bang phái có cái tên na ná như phái mình, liền lập tức

muốn xông ra tiêu diệt, kết quả là, sau khi bắt chuyện với Ngô chột, hai người

nói chuyện hết sức hợp nhau, phái Phi Oanh của Ngô chột liền nhập vào phái Phi

Ưng, vậy nên Ngô chột trở thành nhị bang chủ.

Việc

này chứng tỏ, nhân sĩ giang hồ đều là những kẻ vô văn hóa, tên bang phái giống

nhau đâu phải ít. Thiếu Lâm và Võ Đang sở dĩ được coi là bang lớn bởi tên của

họ nghe là biết do người có văn hóa đặt ra. Ít nhất thì trong tên của hai bang

phái này không xuất hiện các loài động vật, nào là ưng, hổ, hạc, báo, ngưu

trâu, mã ngựa, thoạt nghe đã biết sẽ chẳng nên cơm nên cháo gì rồi. Đệ tử Thiếu

Lâm ngoài việc tập võ, tụng kinh, còn được truyền dạy những kiến thức sơ đẳng

như trong các trường tiểu học, kém nhất thì cũng đạt tới trình độ về cơ bản xóa

mù chữ. Bất luận thế nào, cũng rất hữu ích, bởi mấy vị đại hiệp đến sớm nhất,

nghe nói khi đi qua nơi đây đều không dừng lại. Nếu họ có thể đọc ra ba chữ “Hạ

Tuyết Sơn” treo cao trên dịch trạm này sẽ không phải băn khoăn vắt óc dưới núi

Tuyết Sơn không có lấy một bóng người kia.

Tôi bất

giác cảm thấy hiếu kỳ trước võ nghệ của vị lực sĩ Đông Dương này, đoạn nói: Anh

ta to lớn thế, lẽ nào có thể né tránh được các loại ám khí tinh hoa nhất của

nước ta?

Người

bên cạnh tôi nói: Đừng nhắc tới nữa, lần này không cho dùng ám khí, một là sợ

gây sát thương với người khác, hai là sợ cuộc tỉ thí kém thú vị, về sau sẽ

không có ai đến xem nữa. Suy cho cùng cũng phải có thu nhập để còn làm kinh phí

hoạt động chứ. Vả lại, võ công là đại tông phái, ám khí chỉ là một phân chi.

Nghe thấy bảo cuộc tỉ thí lần này phải tránh như lần trước, phải coi đại tông

phái làm trọng.

Tôi

nói: Chẳng trách, vậy lẽ nào Ngô chột không dùng cước pháp vô địch của y?

Những

người xung quanh đều là lũ lượt cảm thán: Đừng nhắc tới nữa, vì đại hội lần

này, Ngô chột hôm nào cũng dậy sớm luyện tập tới đêm, thế là tẩu hỏa nhập ma,

hôm trước đột nhiên không bị chột nữa.

Tôi và

Hỷ Lạc thốt lên: Cuối cùng thì hai mắt đều thấy rõ rồi à.

Người

kia vỗ đùi, ngậm ngùi nói: Giời ơi, mù cả hai mắt rồi.

Tôi

sững sờ, hỏi: Vậy làm sao mà lên đả lôi đài được?

Người

kia nói: Đúng vậy, đấy thì người lên đầu tiên chính là lực sĩ Đông Dương này,

người khác đều không lên, bởi thấy thân hình hắn to lớn quá, cho dù đánh thắng,

cũng tiêu tốn không ít thể lực, nội lực, vậy nên chẳng có ai lên, ai nấy đều

chờ nhau. Ngô chột không nhìn thấy gì, thế là lên đài, còn chưa chạm được vào

người ta, đã bị đánh rớt đài rồi.

Tôi và

Hỷ Lạc không ngừng chẹp miệng.

Tôi

hỏi: Vậy có còn ai lên đài nữa không?

Người

bên cạnh nói: Nhiều chứ, đánh liền tám người rồi.

Tôi

nói: Tám người. Có những ai vậy?

Người

bên cạnh nói: Những kẻ chưa có tên tuổi thì miễn bàn, múa may được mấy chiêu

rồi thằng thì rớt đài, thằng thì gãy chân tay. Có chút danh tiếng hơn thì có

Trương Hiến Long ở phái Liêu Sơn.

Tôi

nói: Trương Hiến Long tiền bối chẳng phải được gọi là Thiên hạ đệ nhất khoái

Long my bảo kiếm đó sao?

Người

bên cạnh trả lời: Đúng vậy.

Tôi lại

hỏi: Vậy sao lại thua nhỉ? Vị lực sĩ này di chuyển chậm chạp, Trương Hiến Long

lên thì tha hồ xẻo thịt, chẳng phải vậy sao?

Người

bên cạnh nói: Đúng vậy.

Hỷ Lạc

hỏi: Vậy tại sao lại thua?

Người

bên cạnh nói: Có trách thì trách cái bản thân ông Trương Hiến Long này. Ông ta

lên đài, lại nói với tên béo Đông Dương, “Ta nom ngươi không mang vũ khí, ta

cũng sẽ không dùng thanh kiếm bén nhất giang hồ của ta nữa, sẽ trực tiếp dùng

võ công của ta để lĩnh hội võ công của ngươi”. Thế rồi bị tên béo đè chết.

Tôi và

Hỷ Lạc kinh ngạc nói: Trời, chết rồi sao? Trương Hiến Long cũng có bị chột đâu,

làm sao lại để đè chết cơ chứ?

Người

bên cạnh nói: Đúng thế, có trách thì trách cái ông này quá nhiều lời, nói xong

lại còn quay xuống dưới khán đài, chắp tay nói: Tôi, Trương Hiến Long phái Liêu

Sơn, chưa nói dứt câu đã bị tên béo chết tiệt này tung chiêu Di Lặc nằm kềnh,

đè cho chết bẹp.

Tôi

hỏi: Tên này sao không có đạo đức nghề nghiệp gì cả?

Người

bên cạnh nói: Có trách vẫn chỉ có thể trách Trương Hiến Long nói nhiều, người

kia nghe có hiểu gì đâu, nói nhiều như thế người ta lại tưởng ông khiêu khích,

vậy thôi, nó xoay người đánh chết luôn.

Tôi

hỏi: Vậy sao không có vị dũng sĩ nào bước lên?

Người

đó nói: Những tên lợi hại đều muốn lên sau cùng, không thể hiển lộ bản thân quá

sớm, bằng không có chiêu thức gì đều sẽ bị người khác biết hết.

Lúc này

tôi mới nghĩ đến sự lợi hại của việc không có chiêu thức mà sư phụ từng nói.

Bấy

giờ, vị lôi quản tiến lên phía trước nói: Còn có ai muốn khiêu chiến không?

Dưới

khán đài nhao nhao tiếng nói: “Có! Có! Có!”

Song

một hồi lâu vẫn không có ai lên.

Tên béo

Đông Dương cứ đi đi lại lại trên lôi đài, đồng thời không ngừng lớn tiếng càu

nhàu.

Lôi

quản lại hỏi lần nữa: Có ai không? Không có ai thì chúng tôi tuyên bố minh chủ

nhé!

Dưới

khán đài lại nhao nhao lên: Giết nó đi!

Một

người khác nhảy lên lôi đài, nói lớn: Tôi là Vương Trung Nhân phái Võ Đang, xin

được lĩnh giáo! Nói đoạn liền giở thế võ Thái Cực quyền.

Võ Đang

sớm có Thái Cực quyền, về sau dần mở rộng, mọi đường đánh đều trở nên thành

thục, song cái ngón Thái Cực này chỉ có người tập luyện công phu mới đánh được,

học hành không đến nơi đến chốn sẽ hết sức vớ vẩn, bởi lẽ Thái Cực chú trọng

vào việc dùng nhu khắc cương, song cái gọi là nhu, nhất định phải được xây dựng

trên cơ sở cương, bằng không đàn bà con gái đầu đường cuối phố đã đều tập Thái

Cực rồi. Vương Trung Nhân trong Võ Đang thuộc hàng nguyên lão, là một trong

những bậc thầy cấp cao của tất cả học trò, quyền cước xuất quỷ nhập thần, nên

đương nhiên không hề dè sợ tên tiểu sinh văn nhược này.

Nói

đoạn, anh chàng kia liền dùng một quái chiêu, chiêu thức chỉ có phái Nga My mới

có, Vương Trung Nhân không chú ý, bị dính một trảo, bất giác lùi sau ba bước.

Mọi

người kinh ngạc, rì rầm chỉ trích chàng trai trẻ tuổi nói năng hàm hồ, y rõ

ràng là người của phái Nga My, chàng trai nghe thấy vội giở thế Thái Cực, mọi

người lại kinh ngạc, không thốt ra lời nào nữa.

Công

lực của hai người gần như ngang cơ, khó phân cao thấp, khó có thể ức đoán, lúc

này, Vương Trung Nhân quát: Chắc chắn ngươi đã từng học ở Võ Đang.

Chàng

trai nói: Chưa từng, tại hạ chỉ cần nhìn là biết.

Vương

Trung Nhân nói: Nói láo, trọng tâm của Thái Cực là tâm thuật, tâm thuật không

thể học được.

Chàng

trai nói: Tại hạ thấy, tất cả võ công đều nằm ở độ nhanh chậm, tâm thuật là thứ

vô dụng.

Dưới

khán đài lại nhao nhao lên nói: Nói ít thôi, mau đánh nhau đi!

Hai

người quyết định dùng binh khí. Điều khiến mọi người kinh ngạc là, anh chàng

kia quyết định sử dụng côn Thiếu Lâm. Dưới khán đài một lần nữa bị kinh động.

Màn múa kiếm của Vương Trung Nhân quả không tồi, song vì một thời gian dài dạy

dỗ học trò, nên đã hình thành nên một thói quen không tốt, cứ sau mỗi chiêu

khó, ông ta lại dừng lại xem học sinh có thấy rõ hay không. Nhân sơ hở đó,

chàng trai vô danh lập tức nện cho ông ta ngất lịm. Mọi người đều hết sức

thương tiếc, song điều này chứng tỏ Vương Trung Nhân thực sự là một người thầy

giỏi từ trước tới nay đều không giành được thắng lợi trong các cuộc thi đấu

chính thức.

Sau đó

một học trò của Vương Trung Nhân lại nhảy lên, song chưa được mấy chiêu đã bị

đánh rớt xuống. Mọi người đều chờ đợi cao thủ thực sự xuất hiện.

Đột

nhiên, một luồng sáng đen bay vụt lên từ trong đám đông, vọt lên cao quãng sáu

trượng, nhảy thẳng lên lôi đài.

Tôi

chợt nhận ra, người đó, chính là sư phụ Huệ Nhân, vị sư phụ nổi tiếng nhất của

chùa Thông Quảng thuộc Thiếu Lâm.

Người

đã khơi dậy ký ức của tôi.

Hồi tôi

còn nhỏ, sư phụ Huệ Nhân chùa Thông Quảng thường tới chùa chúng tôi truyền dạy

tâm kinh. Bấy giờ mọi người đều được truyền dạy kỹ, bởi võ công của Huệ Nhân sư

phụ có thể coi là đại diện cho đẳng cấp cao nhất của võ công Thiếu Lâm, bất kể

quyền pháp, thoái pháp, côn pháp sư phụ đều tinh thông. Bấy giờ ở Trường An,

người thay mặt cho Thiếu Lâm ra nghênh chiến chính là Huệ Cảnh, đồ đệ của Huệ

Nhân sư phụ. Thiếu Lâm xưa nay đều cảm thấy xét về mặt võ công, Võ Đang quả

thực không thâm hậu, vậy nên mấy vị cao thâm lợi hại nhất đều không lộ diện. Ai

ngờ, lần này Thiếu Lâm xảy ra đại sự, đã bức vị sư phụ Huệ Nhân cả đời đạm bạc

này tới đây.

Công

phu nổi tiếng nhất trong giang hồ của sư phụ Huệ Nhân chính là khinh công.

Chúng tôi từ nhỏ đã được nghe nói đến, khinh công của sư phụ Huệ Nhân có thể

nói là chỉ cần nhún nhẹ chân, tòa lầu ba tầng tối với sư phụ chỉ là chuyện nhỏ.

Vậy nên chúng tôi rất hiếu kỳ về việc này, luôn bám riết sư phụ đòi học khinh

công, song đều không được toại nguyện, có lẽ do chúng tôi không đủ nhẹ. Sư phụ

tôi thường bảo với tôi rằng không có thuật khinh công đâu.

Song

tôi và sư huynh Thích Không vẫn tin chắc rằng khinh công có thật.

Nhắc

đến sư phụ Huệ Nhân là nhắc tới khinh công, trong giang hồ thì đồn đại ông chỉ

cần nhún chân một cái thì nhảy được độ cao tương đương ba tầng lầu là chuyện

nhỏ.

Rồi đến

một ngày, cuối cùng tôi cũng lấy hết dũng khí hỏi sư phụ Huệ Nhân xem có phải

như vậy không.

Sư phụ

Huệ Nhân cười ha hả nói: Đúng vậy. Họ nói không sai đâu.

Tôi

hỏi: Vậy sư phụ mất bao lâu thì nhảy lên được ạ?

Sư phụ

Huệ Nhân xua tay nói: Ồ, ý ngươi là nhảy lên à, ý ta là nhảy xuống là chuyện

nhỏ, nhảy xuống thì rất nhanh, vù một cái là xuống thôi, song phải tĩnh dưỡng

ba tháng mới nhảy được một lần.

Việc

này khiến giấc mộng khinh công thủa nhỏ của tôi tiêu tan, song sư phụ Huệ Nhân

quả thực chân nhẹ như chim én. Ông cũng là một vị nhân sĩ được truyền tụng

trong giang hồ, vậy nên vừa lên lôi đài đã khiến mọi người xung quanh ào ào bàn

tán.

Anh

chàng kia vừa thấy sư phụ Huệ Nhân lập tức gập người, nói: Tại hạ từ nhỏ đã xem

trưởng lão luyện võ, dạy võ, tự biết không phải đối thủ của tiền bối, nên xin

được chịu thua.

Chàng

trai lập tức nhảy xuống khỏi lôi đài. Hỷ Lạc nói: Anh ta quả là người thú vị.

Sư phụ

Huệ Nhân nói: Lão nạp tin rằng, mọi người cũng đều biết, Thiếu Lâm xưa nay

không gây thù kết oán, song lại bị tiểu nhân hạ độc thủ, nếu có đảm lược, lão

nạp hy vọng họ lên cả đây, lên cùng một thể cũng được.

Sư phụ

nói vậy, một hồi lâu không thấy ai bước lên.

Sư phụ

Huệ Nhân không ý thức được rằng, ông nói như vậy, khiến những bang phái muốn tỉ

thí võ không dám lên lôi đài. Sư phụ đứng trên đó hồi lâu, rốt cuộc vẫn giống

như tay võ sĩ Đông Dương. Sư phụ Huệ Nhân nói: Đội ơn các vị nhường nhịn, lão

nạp vì muốn chấn hưng Thiếu Lâm, chỉnh đốn giang hồ, nguyện ngồi ở vị trí này.

Vừa nói

hết câu, từ phía dưới lôi đài có một người nhảy lên, mọi người nhìn kỹ lại, thì

ra là Mục Thiên Ưng, bang chủ Thiên Ưng phái.

Mục

Thiên Ưng lên lôi đài khiến tâm trạng của mọi người bị đẩy lên tột độ. Trong

giang hồ, tuy địa vị của Thiên Ưng phái chỉ ở mức tầm tầm, song Mục Thiên Ưng

đích xác là một cao thủ trong các cao thủ. Từ rất sớm Mục Thiên Ưng và Vô Linh

từng có một trận đại chiến nổi tiếng, mọi người đều biết có người chi tiền để

lấy mạng của Mục Thiên Ưng, và sát thủ cuối cùng chính là Vô Linh. Hai người

đánh nhau từ lúc sẩm tối đến lúc trời sáng, mọi người đều vây quanh xem, song

sau cùng vẫn bất phân thắng bại, chẳng ai đả thương ai. Từ đó danh tiếng của

Mục Thiên Ưng mới thật sự lẫy lừng, bởi trong lòng mọi người, những người mất

tích hoặc đi xa một cách bí mật đều không phải người thường, trong khi ai nấy

đều có ấn tượng rằng Vô Linh có thể g**t ch*t bất kỳ ai, vậy nên qua trận quyết

chiến có thể thấy được phần nào võ công của Mục Thiên Ưng.

Hai

người đứng sừng sững trên lôi đài hồi lâu.

Chường

đầu tiên Mục Thiên Ưng phóng ra, sư phụ Huệ Nhân nhẹ nhàng né được, song đòn

thế của Mục Thiên Ưng tuyệt đối hiểm độc, bởi tôi nhìn thấy bàn tay còn lại của

hắn đang thập thò chực xỉa vào chỗ riêng tư của sư phụ Huệ Nhân. Sư phụ Huệ

Nhân dĩ nhiên phát giác ra, lập tức tóm lấy tay y, khiến Mục Thiên Ưng nhất

thời không thể rút tay về được. Nếu sư phụ Huệ Nhân không phát hiện ra mà bị

dính đòn, ông chắc chắn sẽ rất oan ức. Là bậc trưởng lão đức cao vọng trọng,

giữ nghiêm quy củ của Thiếu Lâm, chỗ ấy mà bị dính đòn, thì hoàn toàn trái với

đạo lý ác giả ác báo, thiện giả thiện báo, ít nhất trong tình huống này là như

vậy. Tuy nhiên sư phụ Huệ Nhân đã ung dung chuyển hóa thành ưu thế cho mình.

Mục

Thiên Ưng giáp lá cà liền tung một cước, sư phụ Huệ Nhân nghiêng người tránh

được, Mục Thiên Ưng tưởng sư phụ Huệ Nhân phân tán tư tưởng, liền rụt mạnh tay

lại, song phát hiện ra sư phụ Huệ Nhân vẫn bắt chặt tay y.

Người

né được, nhưng tay không né được, bởi hai tay liền một khối, Mục Thiên Ưng tiếp

tục tung một trưởng đánh vào phía cổ tay sư phụ Huệ Nhân, sư phụ Huệ Nhân liền

buông tay đánh một chưởng vào ngực Mục Thiên Ưng. Mục Thiên Ưng cũng làm một

việc trái với lẽ thường là ngay sau khi sư phụ Huệ Nhân buông tay, hắn không

rút ngay tay về mà lập tức lao tới, đánh luôn một chưởng vào ngực sư phụ Huệ

Nhân.

Hai

người đều lùi lại một bước.

Những

người dưới lôi đài đều khen một tiếng “Hay”, bởi mọi người đều không nhìn thấy

rõ.

Mà Hỷ

Lạc lại nắm chặt lấy tay tôi.

Sau

chiêu đầu tiên, hai người lại giao chiến kịch liệt với nhau ít nhất phải mấy

tuần hương. Họ tung đòn tấn công rồi phòng thủ, mỗi người một vẻ. Quyền cước

của cả hai đều cực kỳ nghiêm cẩn.

Bên

cạnh tôi có một người nói: Ngươi xem, lúc này mà không dùng quyền cước là thắng

đấy.

Tôi

nói: Đúng thế.

Người

bên cạnh lại nói: Đó là lý do vì sao ta không dạy con những thứ đó.

Tôi

nói: Vâng ạ.

Hỷ Lạc

kéo áo tôi. Tôi đang tập trung cao độ vào diễn biến trên lôi đài. Tôi hỏi: Sao

vậy Hỷ Lạc?

Hỷ Lạc

nói: Huynh xem, là ai đây?

Tôi

nói: Huynh thấy chắc Thiếu Lâm thắng.

Hỷ Lạc

nói: Không phải, huynh xem bên cạnh huynh là ai kia?

Tôi

quay sang nhìn, suýt nữa thì choáng váng, tôi thốt lên: Sư phụ! Người...

Sư phụ

tôi nói: Lâu rồi không gặp, lâu rồi không gặp!

Tôi bấy

giờ hết sức sững sờ, không nói được nên lời. Tôi luôn tin chắc rằng sư phụ

không thể nào chết được. Chủ yếu là bởi không thấy xác của ông. Tôi vội hỏi Phương trượng và sư huynh đâu ạ?

Sư phụ

nói: Đều ổn, mọi thứ đều ổn cả. Tránh được việc này cũng là do vô tình mà thôi,

lát nữa ta sẽ từ từ kể cho con. Hỷ Lạc, con cũng tưởng sư phụ chết rồi sao?

Hỷ Lạc

nghe thấy vậy liền khóc òa.

Trên

lôi đài Mục Thiên Ưng đã dần dần lộ rõ thế yếu. Nếu không có điều bất ngờ xảy

ra, thực lực hai bên sẽ quyết định thắng bại. Sư phụ Huệ Nhân vẫn không đổi sắc

mặt, nhẹ nhàng ứng phó.

Tôi

hỏi: Sư phụ sao lại tới đây?

Sư phụ

nói: Bởi các bị tiền bối của Thiếu Lâm đều bàn rằng sẽ quyết định một số việc ở

đây.

Tôi

hỏi: Vậy cuộc tỉ thí lần này là thế nào ạ?

Sư phụ

nói: Con cũng thấy đấy, Thiếu Lâm đã xảy ra chuyện lớn, cuộc tỉ thí lần trước

thực ra chúng ta thắng nhưng không khiến người ta tâm phục, vậy nên mọi người

đều cảm thấy cuộc tỉ thí chọn minh chủ lần này do Võ Đang phát động.

Tôi

hỏi: Vậy sao Võ Đang lại nắm chắc phần thắng đến thế ạ?

Sư phụ

nói: Ta không biết, mọi người cũng đều cảm thấy kỳ lạ. Kẻ có võ công cao cường

nhất trong Võ Đang hiện giờ chính là Lưu Nghĩa, anh ruột của Lưu Vân, tuy võ

công của Lưu Nghĩa không tồi, song thực sự hắn không thể đứng ở vị trí thứ mười

trong số mười người đứng đầu trong giang hồ được, không rõ vì sao lại phát động

cuộc tỉ thí này.

Tôi

nói: Vậy ta càng cẩn thận trọng hơn nữa.

Sư phụ

nói: Đúng vậy, đây lại là địa bàn của Võ Đang. Không biết chúng định giở trò

thế nào.

Tôi

hỏi: Vụ việc ở Thiếu Lâm, rốt cuộc do kẻ nào gây ra ạ?

Sư phụ

nói: Hiện không tiện nói, mọi người đều bảo là do Võ Đang, ta thấy sự việc

không đơn giản như vậy đâu.

Tôi

hỏi: Có một việc con cần báo cáo, khi con đi ngang qua Quá Sa...

Sư phụ

ngắt lời nói: Ta biết vụ việc đó rồi. Con có thể nghĩ rằng con đã báo thù cho

Thiếu Lâm. Song về việc rốt cuộc có phải do toàn người đó thực hiện hay không,

con chớ nghĩ nhiều thêm nữa.

Tôi

nói: Con nghe chính miệng chúng nói ra mà, ở trong tửu lâu.

Sư phụ

nói: Việc chính miệng nói ra chưa chắc đã là việc do chính tay làm.

Tôi

nói: Vậy con chẳng phải đã giết oan họ sao.

Sư phụ

nói: Cũng không thể nói như vậy. Tóm lại, cứ xem diễn biến trước mắt đã.

Nói

đoạn, Mục Thiên Ưng bị trúng một chưởng của Huệ Nhân sư phụ, miệng thổ ra máu

tươi. Dưới lôi đài lại rì rầm bàn tán. Suy cho cùng, chẳng ai muốn việc gì cũng

do Thiếu Lâm làm chủ.

Song,

dường như không có cao thủ nào nắm chắc phần thắng.

Mọi

người đều xì xào bàn tán, không biết bao giờ Lưu Nghĩa mới xuất hiện. Bởi họ

tin chắc rằng, cuộc tỉ thí võ công lần này là do Võ Đang phát động, cho nên Lưu

Nghĩa chắc chắn đã luyện được môn thần công nào rồi.

Cuối

cùng thì Lưu Nghĩa cũng xuất hiện.

Mọi

người cảm thấy đây mới là trận đấu họ thực sự chờ đợi. Còn minh chủ lần này

chắc sẽ là một trong hai người họ.

Đám đệ

tử Võ Đang dưới lôi đài reo hò vang dội.

Lưu

Nghĩa rất ít khi xuất hiện trong các cuộc đánh lộn, chủ yếu do hắn phụ trách

công việc quản lý Võ Đang. Hồi còn trẻ, hắn từng có nền tảng võ công không tồi,

song tiếc rằng dường như chưa có ai thấy được bản lĩnh thực sự của hắn.

Lưu

Nghĩa chẳng nói chẳng rằng, vừa bước lên lôi đài liền tung một cước quét đất,

sư phụ Huệ Chân nhảy nhẹ lên, quả thực như thể khinh công, ông đứng giữa không

trung một lúc, rồi mới hạ xuống mặt đắt, sau đó tung một cú xoay mình đá hậu,

nhằm thẳng giữa mặt Lưu Nghĩa.

Không

ngờ tay trái Lưu Nghĩa đỡ chân, tay phải thuận theo thế trượt xuống, đầu cúi

gập lại, vác sư phụ Huệ Nhân lên trên.

Phía

dưới trầm trồ.

Sư phụ

Huệ Nhân dường như không phản kháng lại, cứ thế cưỡi lên vai Lưu Nghĩa, không

có bất kỳ động tác gì. Nghĩ cũng phải, dù chân bạn có đá lên cao đến mức nào đi

nữa cũng không đá tới vị trí đó, vả lại chỉ cần buông tay là sư phụ Huệ Nhân sẽ

hạ người xuống.

Lưu

Nghĩa bất ngờ thuận thế chồm xuống đất, sư phụ Huệ Nhân cũng bị hất xuống, song

vẫn đứng vững trên mặt đất. Lưu Nghĩa lại tung một cú quét đất, mọi người rất

kinh ngạc, việc sử dụng cùng một chiêu thức nhiều lần quả thực không thường

thấy ở các cao thủ.

Sư phụ

Huệ Nhân lại một lần nữa nhảy vọt lên cao.

Lưu

Nghĩa tung thoái pháp ra nửa chừng liền thu lại, tay chống đất bay vọt lên

không trung, khi đối diện với sư phụ Huệ Nhân liền đánh một chưởng. Sư phụ Huệ

Nhân nghiêng người né chưởng, đẩy tay Lưu Nghĩa ra, dùng trảo phóng vào ngực y.

Lưu Nghĩa cũng nghiêng người, cả hai nghiêng người nhìn nhau trong không trung,

rồi tiếp đất cùng một lúc.

Lưu

Nghĩa lại bất ngờ tung một cước quét đất. Lần này sư phụ Huệ Nhân không né

tránh, nghĩ không thể dùng một chiêu thức đến ba lần. Cú quét đất của Lưu Nghĩa

trúng bàn chân của sư phụ Huệ Nhân, bất chợt thời gian như lắng đọng, động tác

của hai người đều dừng lại.

Mọi

người đều nín thở, muốn biết xem trên lôi đài rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Việc

vừa xảy ra rất đơn giản, chân của hai người đều cứng, họ đều đau nhói một hồi

lâu.

Đợi sau

khi cơn đau tan biến, Lưu Nghĩa lập tức sử dụng Thái Cực. Thái Cực là một thứ

quyền thuật rất khó mô tả, hình dung. Đến giờ vẫn chưa có một thứ quyền lộ nào

có thể khắc chế được. Song với bản lĩnh của sư phụ Huệ Nhân, chắc chắn có thể

đỡ được từng chiêu, sau khi trông thấy chiêu thức liền nghĩ ra đối sách, trong

tình huống thực chiến, đây tuyệt đối là chiến thuật hữu dụng nhất.

Trên

giang hồ có một cách nói rất thịnh hành, tôi và sư phụ đều không thật tán đồng,

đó là quyền nọ khắc quyền kia, tỉ như tôi luyện Đường Lang quyền, song nghe nói

hầu quyền có thể khắc chế được Đường Lang quyền. Điều này tuyệt đối không có

căn cứ, nếu quả thật như vậy thì giang hồ không cần phải đánh đấm nữa, dùng

miệng nói là được, hai người gặp nhau, cùng thông báo quyền pháp, sau đó người

nói ra quyền pháp kém hơn phải chịu thua. Các loại quyền pháp đều là thứ dùng

để nâng cao sức khỏe và kéo dài tuổi thọ, song giang hồ là nơi ganh đua tốc độ,

sức mạnh và binh khí.

Sư phụ

tôi dạy quyền thuật, cũng có bài quyền, song cùng lắm là vài ba chiêu liền

nhau, như vậy mới có thể tùy cơ ứng biến, quyền Thiếu Lâm cũng được triển khai

ra nhiều loại quyền cực ngắn. Thái Cực của Võ Đang là một bài quyền dài, càng

ngày càng không thích hợp với các trận đấu hiện đại, song may mà ám khí của Võ

Đang phát triển rất nhanh, khiến Võ Đang trở thành một bang phái sử dụng ám khí

lớn mạnh nhất trong giang hồ, vậy mà lần này bản thân học lại quy định không

được dùng ám khí, thật là khó hiểu.

Trên

lôi đài, Lưu Nghĩa không ngừng dùng các đòn ngắn tấn công, song đều bị sư phụ

Huệ Nhân hóa giải.

Hai

người đánh nhau rất náo nhiệt, nhất thời khó phân cao thấp. Song sắc mặt sư phụ

Huệ Nhân càng tỏ ra ung dung tự tại. Đột nhiên tôi hét lên “Chết rồi!”

Hỷ Lạc

và sư phụ cùng lúc hỏi tôi xem xảy ra chuyện gì.

Tôi

nói, trúng ám khí rồi.

Sư phụ

hỏi: Ám khí của Lưu Nghĩa à?

Tôi

nói: Không phải ạ, từ phía dưới phóng lên. Rất nhanh, chuẩn xác và ẩn mặt, con

suýt không phát hiện ra.

Sư phụ

gật đầu, hỏi: Có độc không?

Tôi

nói: Con không rõ lắm.

Sư phụ

liền vỗ vai tôi, nhảy lên lôi đài.

Dưới lôi

đài lao nhao mắng nhiếc, ý rằng sư phụ tôi quá nóng vội, ít nhất thì cũng phải

đợi sau khi một người xuống đã rồi hẵng lên.

Sư phụ

tôi thì thầm nói với sư phụ Huệ Nhân mấy câu. Hai vị lão nhân cùng vội vã rời

khỏi lôi đài.

Bên

dưới bắt đầu hỗn loạn.

Lưu

Nghĩa đứng trên lôi đài, tỏ ra rất khó hiểu.

Một lúc

sau, lôi quản bước lên, nói, phái Lưu Nghĩa sử dụng ám khí nên mất tư cách thi

đấu.

Lúc này

bên dưới như thể mất kiềm chế, mọi người đều nhao nhao muốn lên tra khảo lôi

quản.

Lôi

quản nói: Chúng tôi phát hiện ra vết trúng ám khí trên người trưởng lão Thiếu

Lâm, vậy nên điểm số của họ đều không tính. Đả lôi đài bắt đầu lại từ đầu.

Cuộc tỉ

thí đã diễn biến đến mức độ này, nên không có ai dám lên.

Bấy giờ

có một nam tử mặc áo dài phong độ phi phàm bước lên lôi đài, tay chống nạnh,

cúi xuống nhìn mọi người dưới khán đài.

Hỷ Lạc

kinh ngạc kêu lên: Huynh trông kìa! Vạn Vĩnh đấy!

Tôi

ngẩng lên nhìn, quả nhiên là huynh ta. Đây là lần đầu tiên Hỷ Lạc thấy rõ sự

vật trước tôi.

Vạn

Vĩnh nói: Không có ai lên lôi đài sao?

Lưu

Nghĩa phái Võ Đang không tâm phục, lại nhảy lên lôi đài hỏi mọi người phía

dưới: Tôi là người thẳng thắn, tuyệt đối không dùng ám khí sát hại sư phụ Huệ

Nhân. Vậy nên tôi vẫn đủ tư cách tham gia!

Vô số

đệ tử dưới Võ Đang dưới khán đài đều gào to: Có, có chứ!

Lưu

Nghĩa và Vạn Vĩnh cùng chạm kiến, sau đó quyết định, lần này mọi người được sử

dụng binh khí.

Còn

chưa kịp định thần, hai thanh kiếm trong chớp mắt đã lìa khỏi vỏ.

Song

tôi nhìn thấy rõ, khi kiếm được rút ra, trên thanh kiếm của Vạn Vĩnh phun ra

một vài tia nước nhỏ.

Có độc.

Tôi nói với Hỷ Lạc.

Hỷ Lạc

nói: Cái gì có độc?

Tôi

nói: Trên kiếm của Vạn Vĩnh có độc.

Hỷ Lạc

nói: Thật bỉ ổi!

Giờ

phút này tôi đột nhiên cảm nhận được sự tin tưởng tuyệt đối của Hỷ Lạc đối với

bất kỳ những gì tôi nói.

Sự thật

đã chứng minh tôi nói không ngoa, chưa múa được mấy phát, kiếm pháp của Lưu

Nghĩa đã hỗn loạn, không còn ra đường hướng gì. Mọi người dưới khán đài đều cảm

thấy đúng là thiên ngoại hữu thiên. Lưu Nghĩa ít ra cũng đấu được với sư phụ

Huê Nhân không ít hiệp, vậy mà lúc này chưa đến hai hiệp đã bại dưới tay người

kia, đám đông bất ngờ hoảng hốt.

Vạn

Vĩnh nói: Được rồi, không có ai lên nữa sao?

Tôi

nghiến răng nói: Không ngờ hắn lại bỉ ổi đến vậy, ban đầu không nhận ra, còn

tưởng hắn là người tốt. May mà chưa có mối thâm giao.

Hỷ Lạc

nói: Huynh đừng có định lên đấy nhé.

Tôi

nói: Đúng, huynh định lên đó.

Hỷ Lạc

nói: Không được, huynh sẽ trở thành đích ngắm của hàng vạn mũi tên mất.

Tôi

nói: Không sợ, huynh cũng không muốn làm minh chủ gì hết, cứ lôi tay Vạn Vĩnh

này xuống rồi hẵng tính.

Hỷ Lạc

nói: Có phải lần trước huynh bất cẩn, bị thua một lần nên trong lòng hậm hực

không?

Tôi

nói: Không phải, huynh còn thua cả ông lão nữa mà. Chỉ cần còn sống, thắng thua

là chuyện nhất thời thôi.

Sư phụ

tôi xua tay nói: Đi đi, thứ gì của Thiếu Lâm thì sẽ vẫn thuộc về Thiếu Lâm.

Tôi

bước tới phía trước lôi đài, không biết phải lên từ đâu. Người bên cạnh nói Nhảy lên đi, mọi người đều nhảy lên cả. Tôi lăng người nhảy lên, Vạn Vĩnh trông

thấy tôi, hơi bất ngờ một chút.

Tôi

nói: Đã lâu không gặp!

Vạn

Vĩnh nói: Nghe nói huynh đệ vẫn thường qua lại các thành.

Tôi

nói: Việc đó quả thực do bất đắc dĩ. Lần trước đã lĩnh giáo, giờ mong được lĩnh

giáo lần nữa, so gì bây giờ nhỉ?

Vạn

Vĩnh nói: So kiếm.

Tôi

nói: Được.

Vãn

Vĩnh nói đoạn, chực rút kiếm ra. Tôi vung tay ấn chặt đuôi kiếm, nói: Đứng xa

ra đã, tôi sợ kiếm khí gây thương tổn tới mình.

Vạn Vĩnh

đưa mắt nhìn tôi với ngụ ý sâu sắc, tôi lui vào một góc.

Vạn

Vĩnh rút kiếm, tôi đột nhiên phát hiện, đó chính là Linh, thanh kiếm tôi và Hỷ

Lạc gán trong hiệu cầm đồ.

Tôi

nghĩ, phen này phải chú ý hơn nhiều đến ám khí rồi.

Vạn

Vĩnh từ từ tiến lại gần tôi, rồi nói: Rút kiếm ra đi!

Tôi

nói: Khoan đã. Kiếm tôi không cần rút khỏi vỏ.

Lúc

này, dưới khán đài có người nhận ra thanh kiếm Vạn Vĩnh dùng, tin tức lập tức

lan truyền trong nháy mắt. Thanh kiếm Linh thất lạc bấy lâu đã xuất hiện lại,

dường như vẫn có khí thế trấn áp như trước.

Vạn

Vĩnh nói: Vậy chớ có trách!

Nói

đoạn liền lao kiếm tới. Tôi đứng yên một chỗ, dùng vỏ kiếm hất đường kiếm đó

ra, hai thứ binh khí mài vào nhau không hề gây ra tiếng động lớn, chỉ lóe lên

những tia lửa.

Trong

đầu tôi chỉ nghĩ vì sao thanh kiếm Linh lại ở trong tay Vạn Vĩnh, tuy thanh

kiếm đã không còn mang ý nghĩa thiêng liêng trong trái tim tôi, xong quả thực

không muốn người khác cảm thấy thời đại đã tiến bộ, thần khí lừng danh thiên hạ

của Vô Linh năm xưa đã lạc hậu rồi. Điều đó sẽ khiến người ta có cảm giác như

thể một triều đại đã trôi qua. Hơn nữa nó thực sự khiến người ta cảm nhận được

sự vô thường.

Tôi hết

sức ung dung né tránh đường kiếm của Vạn Vĩnh, nói thực, kiếm pháp của hắn rất

thường, lần trước tôi thua chẳng qua chỉ vì người của hắn quá đông, tôi nhất

thời hoa mắt nên bị bất ngờ. Tôi nghĩ, nếu sớm biết thế này, trước kia hắn chắc

chắn sẽ không cứu tôi. Quãng thời gian tôi bôn ba bên ngoài không ngắn, song

dường như từ trước tới nay tôi chưa từng có ý muốn kết giao với các dạng nhân

sĩ giang hồ, ngẫm thấy việc này thực sự là một việc rất phiền phức, muốn phán

đoán xem người này là người tốt hay người xấu cũng phải mất nhiều năm, huống hồ

trong cái thời đại này, muốn làm rõ tốt xấu sẽ phải mất nhiều thời gian hơn

nữa.

Tôi vừa

nghĩ vừa bình thản đỡ kiếm của Vạn Vĩnh, trong lúc đó kiếm của tôi vẫn chưa rời

khỏi vỏ. Điều này khiến người xem rất sợ sệt. Tôi lại nhớ lại trận tỉ thí sư

phụ tôi từng kể vào nhiều năm trước, trận tỉ thí đó không phải vì chọn ra minh

chủ gì, chỉ là một lôi đài được dựng lên bởi một đám người giang hồ ngày thường

mua kiếm khua côn, nay muốn phân chia cao thấp mà thôi. Người đầu tiên bước lên

lôi đài là Vô Địch kiếm nổi tiếng giang hồ bấy giờ, dĩ nhiên do sự việc diễn ra

từ rất lâu rồi cho nên không rõ cái tên Vô Địch kiếm do người ta tự xưng hay do

người khác gọi nữa, vả lại những cái tên mà người khác gọi hầu hết đều do bản

thân mình ngầm gọi từ trước mà thôi. Người này quả nhiên kiêu dũng thiện chiến,

liên tục đánh bại hơn ba chục người, không ai địch nổi, song không may, cuối

cùng anh ta chết vì mệt.

Tôi

nghĩ, thực chẳng hiểu giang hồ lấy đâu ra lắm tay vô địch đến thế, đó là điều

thứ nhất. Điều khiến người ta ngờ vực hơn là, họ rốt cuộc chết thế nào.

Nghĩ

đến đây, Vạn Vĩnh dường như đã không còn thiết tha trận chiến, hắn nói với

những người dưới khán đài rằng, cứ thế này, chúng tôi đấu kiếm thật chẳng công

bằng, đối phương không rút kiếm, tôi cũng không dùng hết sức, nếu tôi thắng

cũng không vẻ vang gì, làm sao khiến giang hồ tin phục được. Chẳng thà, tôi

cũng không rút kiếm ra nữa, mà dốc hết sức tỉ thí với anh.

Nói

đoạn, Vạn Vĩnh chầm chậm thu kiếm vào trong bao, đồng thời giơ lên ngang ngực

cho mọi người dưới khán đài cùng thấy.

Tôi

nghĩ, thế này thì phải kết thúc thế nào đây? Bất đắc dĩ chỉ đành đánh thắng

hắn.

Khi Vạn

Vĩnh giơ kiếm lên trước mặt, đột nhiên có một ý nghĩ chạy vụt qua trong đầu tôi,

quả nhiên tôi trông thấy một cây trâm độc với tốc độ cực nhanh bắn vọt ra từ vỏ

kiếm, y hệt như lời ông lão nói. Tốc độ của nó nhanh đến nỗi chỉ thấy nó bắn

vọt ra, sau đó tựa hồ như mất hút. Không ngờ tên tiểu tử này nham hiểm đến vậy.

Tôi vội

nghiêng người né tránh, song do vận lực quá độ nên ngã xuống đất.

Mọi

người dưới khán đài lại được một phen ầm ĩ.

Ngẫm

thì phản ứng của khán giả như vậy cũng đúng. Vạn Vĩnh chỉ cầm thanh kiếm đưa

ngang qua mặt tôi, tôi liền trượt ngã xuống đất, trông bê bết như thể bị kính

chiếu yêu trong truyền thuyết chiếu lên người, bắt hiện nguyên hình vậy. Vả lại

tôi cũng không rõ trên người tôi có bị trúng ám khí hay không.

Vạn

Vĩnh lộ ra một nụ cười. Nói: Ban nãy mồ hôi của các vị đại hiệp đổ xuống như

mưa, trên lôi đài khó tránh khỏi trơn ướt, mong cẩn thận cho!

Trong

lòng tôi bất chợt phẫn nộ, muốn bò dậy bắt chước đúng chiêu của hắn để hắn nếm

mùi lợi hại, đoạn nói: Xem đây, ta cũng có.

Song

tôi lại nghĩ, sau này chưa chắc đã tìm lại được ông lão kia, bây giờ dùng công

năng này, dường như quá lãng phí, bởi vẫn chưa tới lúc ngàn cân treo sợi tóc.

Tôi phẫn nộ rút kiếm, đồng thời nói: Mau lại đây!

Bất

chợt, thanh kiếm Linh trong tay Vạn Vĩnh bị chém đứt đôi, rơi xuống nền thảm

đỏ.

Dưới

khán đài im lặng như tờ.

Vạn

Vĩnh trừng mắt nhìn tôi, đúng hơn là nhìn vào thanh kiếm của tôi, sau đó lại

nhìn vào thanh kiếm trên mặt đất, rồi lại nhìn vào chiếc dao găm trong tay

mình, sau đó lắc đầu bước xuống lôi đài.

Thực

ra, tôi chỉ định rút kiếm ra để bắt đầu quyết đấu, không ngờ vừa rút kiếm trận

đấu đã kết thúc, đành phải lập tức thu kiếm về.

Lôi

quản bước lên lôi đài hỏi những người dưới khán đài nhiều lần, trong một thời

gian ngắn hắn đã có tiến bộ, khi tuyên bố tôi chiến thắng hắn nấp vào một bên.

Tôi cảm nhận một cách sâu sắc rằng tất cả minh chủ đều là giả, bởi lẽ họ đều

không đánh thắng được tay rèn kiếm. Huống hồ, tôi cảm thấy bầu không khí xung

quanh lại có chút bất thường.

Tôi

quét nhìn tứ phía, rõ ràng trận đấu lần này tôi khá được lòng người, nhưng ám

khí từ bốn bên phóng về phía tôi bất quá có hơn ba mươi chiếc, tôi rút kiếm ra

chẳng thèm nhìn, khua vài đường ra phía sau lưng, bất chợt có không ít thứ bé

xíu kêu leng keng rơi xuống đất.

Tôi

nghĩ, thanh kiếm này quá ma mị.

Minh

chủ hẳn phải là thanh kiếm này.

Sau đó

là việc thay áo, người vô sự giải tán, tôi và các yếu nhân trong các bang phái

tụ họp lại trong một căn mật thất ở dịch trạm Hạ Tuyết Sơn. Cả thảy hơn ba mươi

người, sư phụ tôi và sư phụ Huệ Nhân đều có mặt. Tôi đi tới hỏi sư phụ tôi: Hỷ

Lạc đâu ạ?

Sư phụ

tôi nói: Yên tâm, Hỷ Lạc ở bên con ngựa nhỏ, đợi chúng ta ở bên ngoài.

Tôi

nói: Cô ấy không biết võ công, ở ngoài một mình có an toàn không ạ?

Sư phụ

nói: Ta đã bảo không ít đệ tử Thiếu Lâm đi theo, không sao đâu.

Đột

nhiên có tiếng mời răm rắp vang lên: Mời minh chủ nhập tọa!

Tôi

thấy ở chỗ cao nhất có một chiếc ghế rất lớn, phủ một tấm da lông mịn không rõ

tên. Tôi nhìn sư phụ, sư phụ nói: Lên đó ngồi đi. Tôi liền chậm rãi bước lên,

sau khi ngồi xuống liền vịn lên tay vịn, nhìn xuống phía dưới, họ dường như đều

là bang chủ của các bang phái lớn nhất trong giang hồ mà tôi có thể gọi tên

được, bỗng dưng tôi thấy nao lòng.

Tôi

ngồi thẳng người một hồi lâu, sau đó thốt ra lời đầu tiên sau khi trở thành

minh chủ: Cái chức minh chủ này là làm gì vậy?

Một ông

lão với giọng ôn tồn yếu ớt nói: Chức minh chủ này, từ xưa đã đặt ra, chẳng qua

gần đây giang hồ lòng người bất nhất, cho nên không thể tiếp tục duy trì. Một

nhiệm kỳ của minh chủ là một năm, năm tiếp theo mà muốn liên nhiệm thì phải tỉ

thí võ công và được tiến cử một lần nữa. Minh chủ phải khiến cho giang hồ động

lòng, khiến võ lâm phát dương quang đại. Minh Chủ đường nằm trên phố Hướng An

trong Tuyết Bang, minh chủ có thể ở trong tòa nhà đó, hàng năm các bang phái võ

lâm đều phải cống nộp kinh phí hoạt động tùy theo mức độ to nhỏ của tổ chức,

chỉ có minh chủ mới được điều động khoản tiền này, song cần phải ghi rõ lý do,

để năm sau mọi người vẫn phục.

Tôi

nói: Vậy thôi sao?

Ông lão

nói: Để lão thở đã. Các hoạt động trên trăm người của các bang phái võ lâm đều

phải được minh chủ đồng ý thông qua, minh chủ còn cần phải xây dựng mối quan hệ

tốt với triều đình, khiến võ lâm được vẻ vang hơn...

Chẳng

biết nói trong bao lâu, mãi cuối cùng ông cụ mới kết thúc: Mọi người cùng hoan

hô minh chủ nào!

Những

người phía dưới đều hô to một tiếng “Minh chủ”, song mắt họ rõ ràng đều nhìn

chằm chằm vào thanh kiếm.

Tiếp

sau đó bắt đầu loạn xị cả lên, có người nói chúc mừng Thiếu Lâm, có người tới

nói lời khách sáo, lại còn có người lên bắt quen với tôi. Người của Phi Ưng hỏi

Lưu Nghĩa: Các ngươi chuẩn bị như vậy không được, sao lại tổ chức cuộc tỉ thí

này, rồi cuối cùng vẫn để Thiếu Lâm thắng?

Lưu

Nghĩa nói: Câu này của ngươi thiếu hiểu biết quá, minh chủ là người phải lo

nghĩ cho mọi người, là người có võ công cao cường nhất võ lâm, lại không phải

vì lợi ích của bang phái mình mà tiêu diệt bang phái khác, như vậy minh chủ lần

này cũng chưa thỏa đáng, huống hồ cuộc tỉ thí này cũng đâu phải do Võ Đang

chúng ta tổ chức.

Mọi

người đều vây lại hỏi: Lưu huynh, chẳng phải bảo cuộc tỉ thí này do Võ Đang tổ

chức sao, bảo phải khôi phục lại chế độ minh chủ của giang hồ trước đây còn gì.

Lưu

Nghĩa bất chợt nói ra mấy lời không ăn khớp với câu trước: Nếu là do Võ Đang ta

phát động, tại sao lại quy định không được sử dụng ám khí, vả lại ngươi thấy

chúng ta cũng đâu có thắng. Lần trước rõ ràng Võ Đang ta phát động đầu tiên, võ

công của tiểu đệ Lưu Vân còn ở trên ta, ám khí lại là thứ kỳ tuyệt trong giang

hồ, lần ấy thắng cũng có tính đâu. Có người chơi xấu đấy thôi.

Tên kia

nói: Sự việc đâu có giống nhau, lần trước chỉ có Võ Đang các ngươi và Thiếu Lâm

tỉ thí thôi. Lần này là toàn thể võ lâm, chúng ta cứ tưởng Võ Đang phát động

đầu tiên.

Lưu

Nghĩa lại nói: Ta lại cứ tưởng do Thiếu Lâm phát động trước, chẳng phải Thiếu

Lâm xảy ra việc lớn đó sao, người trong giang hồ đều bảo do Võ Đang ta gây ra,

ta lại cho rằng Thiếu Lâm làm như vậy do muốn chứng minh võ công của mình đệ

nhất thiên hạ.

Sư phụ

Huệ Nhân nói: Lão nạp xin nói một câu thế này, võ công Thiếu Lâm chỉ dùng để

tăng cường sức khỏe, những việc tụ tập giang hồ, chém giết lẫn nhau, quả thực

không phải do Thiếu Lâm làm. Vụ việc xảy ra vừa rồi ở Thiếu Lâm, bản tự đang

tra xét, vẫn chưa làm rõ được, chùa chiền còn cần phải trùng tu, làm sao nghĩ

ra tổ chức những việc thế này được.

Lưu

Nghĩa nói: Vậy nếu là do Võ Đang tổ chức, sao lại không chuẩn bị gì trước, dù

gì cũng phải đợi ta được luyện môn thần công nào đó mới được chứ.

Mọi

người nhìn nhau, hỏi: Vậy rốt cuộc ai đã dựng ra cuộc tỉ thí lần này?

Cuộc

họp minh chủ lần thứ nhất đã giải tán như vậy. Tôi và sư phụ ra khỏi dịch trạm,

tới nơi cột ngựa, ở đó tụ tập rất đông người, vả lại còn có không ít người đang

cãi lộn, tôi thấy kỳ lạ, liền tiến đến xem. Người cãi lộn phát hiện thấy tôi,

lập tức im bặt, mọi người lũ lượt gọi tôi là minh chủ. Tôi hỏi: Có việc gì vậy?

Họ nói Con ngựa kia rõ ràng là của tôi, nhưng hắn bảo là của hắn.

Tôi

nghĩ bụng tìm Hỷ Lạc là việc quan trọng, vả lại việc này thuộc kiểu án vặt vãnh

khó xử, đang định nói tôi cũng chẳng có cách gì, các vị cứ tiếp tục cãi nhau đi

thì bị sư phụ ngăn lại, hỏi: Tại sao lại nói ngựa này là của ngươi?

Người

đó nói: Ngựa nhà tôi màu đen.

Sư phụ

nói: Con ngựa kia cũng màu đen.

Người

đó nói: Đúng vậy, nhưng trông không giống.

Sư phụ

nói: Ngươi gọi con ngựa đó, nó không có phản ứng gì sao?

Người

đó nói: Làm sao phản ứng gì được, mới mua có hai ngày, còn chưa quen nhau nữa

là...

Sư phụ

nói: Vậy để người kia gọi ngựa xem.

Người

đó nói: Với người đó thì càng không phản ứng gì, mới mua được một ngày.

Sư phụ

nói: Hai con ngựa này đều là ngựa tốt, các ngươi tùy chọn lấy một con đi.

Nói

đoạn liền rời đi, tôi đi theo sư phụ, sư phụ liền hỏi: Con ngựa của con đâu?

Tôi

nói: Ở đầu kia ạ.

Tôi

thấy dọc đường mọi người đang lần lượt nhận ngựa của mình, sau khi trông thấy

tôi đều cung kính, ngưỡng mộ, lại còn chào tôi là minh chủ nữa. Tôi chào lại

từng người, đến đầu bên kia bãi cột ngựa, thì thấy con Lép đứng trơ trọi ở đó.

Tôi vội

chạy lên, dắt con Lép, quay ra nhìn bốn phía.

Mọi

người kinh ngạc thốt lên: Đây là ngựa của minh chủ á?

người nói: Minh chủ tuổi trẻ tài cao, ngựa của minh chủ cũng tuổi trẻ tài cao

thôi mà.

người nói: Ngựa của minh chủ thật là đặc biệt.

người nói: Con ngựa này chắc chắn không phải ngựa tầm thường, là loài ngựa mới,

chạy nhanh lắm đấy.

người nói: Con ngựa này khác với loài ngựa của người thường chúng ta. Thật

không hổ danh là minh chủ.

Tôi

chẳng rảnh tai nghe những lời tán tụng này, vội hòa vào đám người xem có Hỷ Lạc

không.

Sư phụ

cũng giúp tôi tìm kiếm. Tôi thấy trong tầm mắt tôi dường như không có Hỷ Lạc,

hễ thấy ai tôi cũng hỏi: Anh có thấy cô nương nào không?

Xung

quanh lại bàn tán xôn xao: Ở đây sao lại có cô nương nào được?

người nói: Minh chủ quả nhiên là người đa tình, vừa lên làm minh chủ đã bắt đầu

tìm cô nương rồi.

người nói: Minh chủ quả nhiên xuất thân ở Thiếu Lâm mà phi phàm hơn cả Thiếu

Lâm, đã bắt đầu tìm gái ở đây rồi.

Sư phụ

tôi thấy một đệ tử ở Thiếu Lâm cùng tới đây lúc trước, liền tóm lấy hỏi: Người

ta bảo các ngươi trông nom đâu rồi?

Người

đó nói: Sau đó có một người tới, bảo là minh chủ, sư huynh Thích Nhiên bảo để

cô ấy đi, vậy nên bọn con để người đó đưa đi.

Sư phụ

thở dài một hơi.

Tôi bất

chợt thấy hoang mang, nói: Là ai vậy?

Sư phụ

nói: Là người biết con đưa đi, chắc chắn sẽ không làm tổn thương tới con bé

đâu, con cứ yên tâm, người ta nhất định sẽ tìm con, bàn điều kiện. Con cứ đợi ở

đấy, đến lúc đó giải cứu cũng chưa muộn.

Tôi im

lặng. Ngồi trong phòng chờ mọi người giải tán hết.

Hiện

trường đã không còn một bóng người, chỉ có những bãi cứt ngựa.

Tôi

nghĩ, Hỷ Lạc là một cô gái, nếu như bị bắt nạt, màn kịch ở Quá Sa chắc chắn sẽ

diễn lại, minh chủ minh chiếc gì đều không còn quan trọng.

Tôi nơm

nớp âu lo, cùng sư phụ quay lại Tuyết Bang. Song Tuyết Bang lần này đã không

còn là Tuyết Bang lần trước, người mang kiếm đi lại khắp nơi, những tiếng chửi

tục văng ra đầy đường, vả lại bất cứ lúc nào cũng có thể bị ngựa đạp chết. Tôi

nghĩ, nếu tôi là lão bá tánh, chắc chắn tôi sẽ hy vọng ngày nào cũng có trận tỉ

thí chọn ra minh chủ. Tôi không ngừng lướt nhìn bốn phía, lần đầu tiên nhận ra

mắt mình không đủ dùng, bởi tôi vẫn hy vọng sẽ tìm được Hỷ Lạc trong biển người

rợn ngợp.

Tôi và

sư phụ tới một quán trà hẻo lánh. Tiểu nhị bưng hai cốc trà nóng hổi lên, hơi

nóng tức tốc tan đi trong làn gió lạnh khắc nghiệt thổi từ ngoài song cửa vào,

nghe tiếng gió có thể đoán rằng ngoài kia hình như có bão cát, tôi nghĩ, chắc

không còn đến một chiếc lá rụng nữa.

Tôi hỏi

sư phụ: Sư phụ ơi, con muốn biết, trong chùa rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Sư phụ

nói: Lần đó ta, phương trượng cùng sư huynh con vừa vặn đi tới một nơi khác,

lúc quay lại thì nhìn thấy cảnh tượng đó.

Tôi hỏi Nói vậy thì phương trượng và sư huynh đều vô sự ạ.

Sư phụ

nói: Đúng rồi, phương trượng đang dưỡng bệnh. Ông ấy bị đả kích quá lớn, đã

không thể vỗ về bằng kinh Phật được nữa rồi.

Tôi

nói: Làm sao mà lại có người có thể làm được việc đó chỉ trong một đêm được. Có

không ít tiền bối võ công rất cao cường ở đó mà. Trừ phi tên đó hạ độc.

Sư phụ

nói: Đúng rồi, do hạ độc. Thứ độc diệt thành kịch liệt hơn loại vốn có.

Tôi

nói: Hạ độc kiểu gì ạ?

Sư phụ

nói: Ta không biết. Triều đình đang điều tra.

Tôi

nói: Lần trước con nghe đồn có chuyện, liền cùng Hỷ Lạc...

Nhắc

tới Hỷ Lạc, lòng tôi bất chợt lại cảm thấy hoang mang, tôi nghĩ, lúc này không

biết Hỷ Lạc đang làm gì, không biết chừng cô nàng đang liều chết chống cự, bị

kẻ địch hết lần này đến lần khác hắt nước lạnh bắt tỉnh dậy, mà miệng vẫn nói

có đánh chết ta cũng không khai. Song, cô ấy có gì đâu mà phải khai. Chắc không

có chuyện đó đâu.

Tôi

tiếp tục nói: Lần này con cũng không biết, mãi mới nghe ngóng được trận tỉ thí

này, con chỉ muốn tới xem sao, tìm hiểu một số sự việc. Không ngờ lại có kết

quả này.

Sư phụ

đã nói: Đã gọi là “minh”, tức là một lòng, giang hồ có bao giờ một lòng đâu,

cho nên minh chủ không tồn tại.

Tôi

hỏi: Vậy vụ lần này do ai tổ chức ạ?

Sư phụ

nói: Mọi người đều cho rằng Võ Đang tổ chức, song nay xem ra dường như không

phải vậy, cũng không thể do tiểu bang phái nào khác, ta nghĩ đột nhiên có rất

nhiều việc trong giang hồ khó biết được chân tướng hơn so với trước kia, dường

như có một thế lực thần bí nào đó bắt đầu len lỏi vào bên trong. Ai mà biết

được.

Tôi

hỏi: Sư phụ, ban đầu, người muốn con xuống núi, con đã xuống núi, đã tới Trường

An, tới Trục thành, cũng đã bị không ít người truy sát, song con vẫn không biết

con phải đi để làm gì.

Sư phụ

nói: Không làm gì cả, chỉ là muốn thả con ra thôi.

Tôi

hỏi: Người dẫu sao cũng là sư phụ của con, vậy giờ con phải làm gì?

Sư phụ

cười lớn nói: Làm minh chủ chứ còn làm gì!

Tôi

cười lớn nói: Minh chủ có nghĩa lý gì đâu ạ. Khua vài đường kiếm thôi mà, sư

phụ.

Sư phụ

nói: Đưa ta xem kiếm của con!

Tôi đưa

kiếm cho sư phụ. Sư phụ tôi nhìn kỹ vỏ kiếm, nói: Do người đó làm hả.

Tôi

hỏi: Ai ạ?

Sư phụ

nói: Con chắc đã biết.

Tôi

nói: Vâng, là một ông lão, rất kỳ quặc, xong thân thủ rất tốt, xuất chiêu cực

mau lẹ. Dường như ông lão bàng quan với mọi việc, vả lại hơi lẩm cẩm.

Sư phụ

nói: Không lẩm cẩm, không hề lẩm cẩm đâu, ông ta mà lẩm cẩm, thanh kiếm này đã

ở trong tay Vạn Vĩnh rồi.

Tôi đột

nhiên nhớ ra một việc, nói: Trên đường gần tới Trường An, con gặp Vạn Vĩnh, lúc

đó con đã dính một đòn của hắn, phải tĩnh dưỡng trong sơn trang của hắn mấy

ngày, con không nghĩ hôm nay sẽ như vậy.

Sư phụ

nói: Tên Vạn Vĩnh này có quan hệ mật thiết với triều đình, phụ thân hắn là yếu

nhân trong triều. Còn như mấu chốt của vấn đề là gì, thì chưa có ai nói rõ

được.

Tôi lẩm

bẩm nói: Triều đình...

Sư phụ

nói tiếp: Để ta kể cho con một việc hơn mười năm nay con vẫn chưa biết. Sự việc

liên quan đến sư huynh con, nó cũng chưa từng biết đến việc này. Giờ là lúc

chúng ta đều có thể biết.

Tôi

nói: Có lời đồn nói rằng huynh ấy là hoàng tử.

Sư phụ

nói: Đúng vậy. Câu chuyện phải bắt đầu kể từ rất nhiều năm trước đây, Thích

Không là con trai của đương kim hoàng đế và một bà ái phi. Bà phi này bị hoàng

hậu căm ghét. Khi Thích Không sinh ra, bà phi biết được kế hoạch của hoàng hậu

muốn đầu độc chết đứa con này, liền sai người đem nó đến phó thác cho chùa ta.

Hoàng thượng cũng biết việc này, song hoàng hậu là đại công chúa của lân bang,

cho nên hoàng thượng cũng không có cách nào cả, liền nói với thái y, tuyên bố

thai chết lưu trong bụng, vậy nên mới thoát được kiếp nạn đó. Hoàng hậu về sau

sinh ra toàn con gái, lòng luôn hậm hực, vả lại rất mong có con trai, cứ đòi

sinh mãi, nhưng kết quả vẫn là con gái, nghe nói về sau hoàng thượng phải gần

một năm không sủng hạnh, vậy mà vẫn sinh ra được một đứa, sự việc rùm beng lên,

liền mời một học sĩ tới, dám phán rằng hoàng hâụ được trời phù hộ, không phải

người phàm, không cần làm chuyện phòng the mà vẫn có thể tự sinh con, sự việc

sau đó được lấp l**m đi. Sau này lân bang suy bại, hoàng hậu mới bị phế truất.

Giờ là lúc đón Thích Không quay trở về rồi.

Tôi

nghe truyện đến mụ mị cả đi, chỉ nói: Ồ.

Sư phụ

nói tiếp: Sức khỏe của hoàng thượng đã suy yếu, có lẽ không còn sống được bao

lâu. Sư huynh con hiện tại là thái tử. Song cần phải có công tích mới được nối

ngôi, bởi hoàng tử cũng nhiều, huống hồ ngay từ nhỏ huynh con đã không lớn lên

trong cung, khó tránh khỏi điều dị nghị.

Tôi

nói: Chẳng trách ngay từ nhỏ huynh ấy đã khác chúng con, huynh ấy không thích

ăn rau, thì ra là thiên tử.

Sư phụ

nói: Thân thể của huynh con được chúng ta rất mực bảo mật, song khó tránh khỏi

những lời đồn đại.

Tôi

nói: Nhưng rất chuẩn xác, dường như ngay câu chuyện này, con cũng ngờ rằng sư

phụ nghe được ở đâu đó.

Sư phụ

cười nói: Đúng thế, đại để là như vậy, nên mới có lời đồn. Lời đồn chẳng qua là

những lời phóng đại về một sự việc mà thôi, thực ra nhiều khi bản chất vẫn tồn

tại. Huống hồ cũng đâu có phóng đại.

Tôi

nói: Vậy con có thể vào cung tìm sư huynh, nhờ huynh ấy tìm Hỷ Lạc được rồi.

Sư phụ

nói: Từ khi con còn nhỏ ta đã biết con không có tư chất làm minh chủ bang chủ

rồi. Làm mấy cái chức đó chỉ có thể trêu đùa phụ nữ, không thể bị phụ nữ điều

khiển được.

Tôi

nói: Vỗn dĩ con cũng không muốn làm mà, con vẫn luôn cảm thấy rất hoang mang.

Sư phụ

nói: Thân thế của con là thế này, chúng ta không biết bố mẹ con là ai, chẳng

qua dựa vào một số ghi chép trong kinh Phật mới tìm ra con. Lúc ấy con vừa được

sinh ra, chưa thể quy y Phật đàn, đó là định mệnh. Con có thể thay đổi được rất

nhiều việc, mọi người đều hy vọng có thể thay đổi được nhiều việc và không bị

người khác thay đổi.

nhìn

thấy được rất nhiều sự việc, là bởi thời không của con khác với người khác. Thời

không không phải là thời gian và không gian, mà là không gian sau khi đã loại

bỏ thời gian. Ở trong thời không đó con vĩnh viễn bất động, vĩnh viễn luân hồi,

vả lại trong thời không đó chỉ có một mình con, vậy nên nói, con là do số trời

sắp đặt. Khi vào trong thời không sâu hơn, con sẽ Tôi nghe sư phụ nói lại càng

thấy hoang mang.

Sư phụ

nói tiếp: Cuối cùng, con sẽ là một người không bị bất kỳ sự việc nào thay đổi.

Thiếu Lâm sẽ không sử dụng sức mạnh này, Thiếu Lâm tìm con, chẳng qua không muốn

các bang phái khác có được nguồn sức mạnh đó mà thôi. Mọi người bình yên vô sự,

ngày rộng tháng dài, dù sao vẫn tốt hơn.

Tôi

nói: Nói vậy thì...

Sư phụ

nói: Không có cái gì gọi là “nói vậy thì” cả. Con chính là do số trời sắp đặt.

Tôi

nói: Nếu con được sắp đặt bởi số trời, thì các sự việc khác chẳng phải cũng đều

được sắp đặt sẵn rồi sao?

Sư phụ

nói: Không phải, do thời gian không gian khác nhau thôi, sở dĩ con có thể thấy

được nhiều thứ hơn, con có thể nhìn thấy nội tâm của người khác, có thể nhìn

thấy thần thức của người khác, có thể nhìn thấy người vừa mới mất lớn tiếng

cười trước trước thi thể của họ, chứ không phải thi thể vừa chết cười lớn trước

bản thân họ. Phật chính là người ở trong không gian đó, và ngài có thể thay đổi

không gian khác bởi ngài có thể nói chuyện được với hồn ma. Con là người duy

nhất ở trong không gian chính giữa.

Tôi

nói: Vậy nếu con mù thì sao?

Sư phụ

nói: Ngay lúc này, con có thể móc mắt mình ra thử xem. Số trời đã định con

không thể mù nổi.

Tôi

nói: Nhưng con cảm thấy đây là việc con có thể khống chế được.

Sư phụ

nói: Đừng cố quá.

Tôi

nói: Con đâu có cố quá, chẳng qua con thấy bản thân mình là một người bình

thường, chứ không như những gì sư phụ nói, cũng không thần thánh gì cả. Sau khi

có được thanh kiếm này con thấy rất vui, giết không ít người nhưng không cảm

thấy áy náy, dường như chẳng khác gì với những kẻ lăn lộn trong giang hồ cả.

Nhưng con vẫn rất lo lắng về tung tích của Hỷ Lạc.

Sư phụ

nói: Từ từ, cứ từ từ rồi con sẽ biết thôi. Kể cả Hỷ Lạc cũng vậy.

Tôi

nói: Con và Hỷ Lạc rốt cuộc là...

Sư phụ

nói: Tình cảm nam nữ được chúng ta gọi là hồng trần, bởi nó không cụ thể, có

thể chia phôi, con và Hỷ Lạc không phải là tình cảm nam nữ, mà là sự ký thác.

Sự ký thác đó chưa chắc đã tốt, rất nhiều khi nó còn nặng hơn cả tình cảm nam

nữ.

Tôi

nói: Con không quan tâm nhiều đến vậy đâu. Con nghĩ, sư phụ à, sư phụ cùng con

tới Minh Chủ đường đi, con nghĩ, ở đó chắc có tin tức liên quan đến Hỷ Lạc.

Tôi và

sư phụ đi tìm Minh Chủ đường trên một con phố heo hút. Cảnh đồng bềnh bồng, gió

bấc se sắt. Tôi nghĩ, đã đến lúc phải mặc thêm quần áo. Thế giới này thật lớn,

lớn đến nỗi không thể tìm nổi một người. Tuyết Bang chắc sẽ có tuyết, nhưng

không biết hôm đó cảnh vật quanh tôi sẽ thế nào. Tôi nghĩ không dự đoán được

tương lai thực là đau khổ, tôi cam tâm tình nguyện làm một nhà tiên tri, có thể

biết được mọi sự việc.

Sư phụ

nói, tiên tri là người chẳng có bất kỳ lạc thú nào cả, kể từ hôm trở thành tiên

tri, anh ta chắc chắn sẽ làm một việc, người ta luôn bị tính hiếu kỳ hại cả một

đời mà. Khi nhà tiên tri đó không may thực hiện rồi đồng thời tiên tri

được hậu quả của sự việc đó, cuộc sống của họ thực ra chỉ còn đợi cái chết đến

mà thôi.

Tôi

hỏi: Làm việc gì cơ ạ?

Sư phụ

nói: Trước đây con đâu có ngây ngốc như vậy nhỉ. Đúng là con mang nhiều tâm sự

quá rồi.

Tôi

nói: Nhà tiên tri chắc chắn sẽ dự đoán lúc nào mình chết, sư phụ nhỉ?

Sư phụ

nói: Đúng vậy. Đây cũng là lý do vì sao tiên tri dẫu có thần thánh mấy đi nữa

cũng vẫn ở lại thế gian này, và đây cũng chính là một bước duy nhất nhà tiên

tri không bắt kịp thần tiên.

Tôi

hỏi: Vậy vị đại sư mà sư phụ muốn con đi tìm thì sao?

Sư phụ

nói: Con chỉ có việc đi tìm, vậy là được.

Tôi

nói: Vậy ông lão rèn binh khí có được coi là tiên tri không ạ?

Sư phụ

nói: Ông ta không phải là tiên tri, mà cũng không phải bậc đại sư, ông ta là kiến

trúc sư.

Tôi

hỏi: Vậy ông ấy ở thành phố nào?

Sư phụ

nói: Ông ta chờ con ở mọi nơi.

Tôi bắt

đầu mơ hồ. Trong chớp mắt, tôi cảm giác, thanh kiếm của tôi là tỉnh táo nhất.

Chúng

tôi cứ vậy bước đi, cuối cùng cũng tới Minh Chủ đường. Ở đó đã có người đứng

canh cửa. Tôi và sư phụ cùng bước vào, hai tên canh cửa cung kính chào tôi. Vào

trong phòng, tôi phát hiện ra ở chính giữa đại sảnh có một chiếc ghế rất lớn.

Bên cạnh là quần áo mùa đông. Tôi hỏi: Có đồ chuẩn bị cho phụ nữ không?

Một

người vội chạy lên thưa: Dạ, vì chưa bao giờ nghĩ minh chủ là phụ nữ nên chưa

chuẩn bị ạ.

Tôi

nói: Vậy phiền ngươi đi kiếm thêm mỗi thứ một chiếc tương đương, loại cho phụ

nữ mặc.

Tên đó

nói: Dạ vâng, thưa minh chủ, à mà minh chủ có một bức thư ạ.

Tôi vội

mở thư ra xem, chỉ thấy trên giấy viết Muốn

tìm nữ tử của ngươi, tới Vĩnh Triều sơn trang tại Trục thành.

Tôi lập

tức nói với sư phụ: Sư phụ ơi, con phải đi đây. Tới Trục thành.

Sư phụ

nói: Được, ta yên tâm rồi. Mệnh của con đã được viết trong sách. Lần này nhất

định sẽ vô sự. Ta ở lại đây, phải đi lo việc xây cất lại chùa. Đợi con đưa Hỷ

Lạc quay lại Tuyết Bang, sư phụ sẽ ra đón.

Tôi cảm

tạ sư phụ, sau đó khoác áo đông, cưỡi con Lép định đi.

Đột

nhiên một bàn tay ngăn tôi lại nói: Minh chủ! Tiểu nhân biết võ công của minh

chủ cao cường, song mọi thứ phải xứng với khí độ phi phàm của minh chủ, triều

đình đặc biệt gửi tặng một thớt ngựa Hãn Huyết, được gọi là Mã vương.

Tôi cảm

động không nguôi, song nghĩ đến việc đi cứu Hỷ Lạc, muội ấy nhất định sẽ rất

vui khi trông thấy con Lép, cho nên tôi đành khước từ nói: Thôi để lần sau vậy.

Tôi quen cưỡi con ngựa nhỏ này, đổi con cao lớn hơn, tôi e không điều khiển

được.

Kẻ

thuộc hạ nói: Mong sau này minh chủ đổi cách xưng hô, không nên xưng là tôi

nữa, mà xưng là bản minh chủ.

Tôi

nói: Được, bản minh chủ sợ cưỡi ngựa lớn, ngựa nhỏ đủ dùng rồi vậy.

Dưới

màn đêm giăng đầy sao, tôi chạy thẳng tới Trục thành.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.