Chương 5

Trường

An trong ký ức hồi nhỏ của tôi là một nơi rất xa xôi. Đây là lần thứ hai tôi

đến Trường An, lần đầu tiên vì cuống quýt vội vàng, tâm trạng cũng hoàn toàn

khác biệt, tôi dường như không cảm nhận được bất kỳ điều gì, thậm chí cũng

không thấy nó to lớn. Song tôi luôn cảm thấy cái tên này nghe rất hay, nếu tôi

là vua, tôi cũng sẽ chọn nơi có cái tên này làm kinh đô. Tôi đã quên hẳn thời

gian xác thực bên ngoài, cũng may ở trong chùa tôi không có suy nghĩ gì lớn

lao, đối với đức Phật cũng không sùng kính quá mức, dường như dửng dưng với mọi

thứ diễn ra. Mấu chốt vấn đề là ở phía sư phụ tôi, ông đã sai lầm khi quá nuông

chiều tôi, cho tôi một pháp danh quá tuyệt vời. Người cũng nhân được sự đãi ngộ

như tôi chính là sư huynh Thích Không. Tôi và huynh ấy chẳng qua bị cạo trọc mà

thôi, còn mọi thứ khác đều được phát triển theo chiều hướng lãng tử. Vậy nên

tôi luôn rất cảm kích trước sư phụ, nhưng việc gọi là báo đáp Thiếu Lâm thực ra

hoàn toàn là nhằm báo đáp sư phụ mà thôi

Còn

Trường An, đích thị là một nơi xa xôi, bởi hồi nhỏ tôi không hiểu đám người ấy

rốt cuộc đang làm gì. Bất kể quốc sự ra sao, phải thả lỏng thế nào, tôi luôn

đặt mình vào hoàn cảnh một người đàn ông, xung quanh có hàng trăm cô gái sắc

nước hương trời và nghĩ, trước hoàn cảnh như vậy chàng ta có thế làm gì, dù nghĩ

thế nào kết quả vẫn là: chẳng thể làm gì được, ngoài việc làm “chuyện ấy”.

Đó

chính là vị vua của một nước, ông ta sẽ chọn ra một người trông bắt mắt nhất

trong cả mớ các cô con gái của những tay máu mặt khác họ để phong làm chính

cung hoàng hậu, cả năm may ra gặp được một đêm, có lẽ vì người ta khá trong

trắng, ít làm chuyện phòng the, cho nên được suy tôn là mẹ của một nước, là mẫu

nghi thiên hạ, tức là được đặt ra cho mọi người trong thiên hạ ngắm nhìn, vợ cả

không được yêu chiều bằng vợ bé, cho nên ta làm một tấm gương, như vậy chẳng

cần phải tranh giành gì nữa, mà cũng chẳng tranh được với người ta, cứ ngấm

ngầm chơi xấu là được.

Trường

An nổi tiếng ở sự phồn hoa diễm lệ, những người phụ nữ ra đường làm việc mà ta

có thể trông thấy không phải bán rau thì là bán thân, cũng không cứ bán rau thì

cao quý, bởi nếu đặt một số phụ nữ cạnh nhau, bạn sẽ cảm thấy vài người trong

số đó chỉ có thể đi bán rau mà thôi. Nghe nói, Trường An có hơn 300 điểm buôn

phấn bán son lớn nhỏ, đó là biểu tượng của một đất nước phát triển tới đỉnh

cao, chẳng trách những nơi ông hoàng đế vi hành dạo này càng ngày càng gần lại.

Tôi và

Hỷ Lạc vừa bước tới cổng thành liền sững người kinh ngạc. Hỷ Lạc nói: Nơi này

hoành tráng hơn Trục thành bao nhiêu.

Tôi

nói: Đúng thật, muội xem cái lầu kia, nếu ở Trục thành thì nó là tòa lầu to

nhất rồi đấy.

Tôi

tiến lại gần xem xét thì phát hiện ra đó chỉ là cửa khẩu, tức là nơi làm một số

thủ tục ra vào thành. Con Lép được chúng tôi mang theo từ tiểu trấn dưới chân

chùa Thiếu Lâm, chưa từng đi đây đi đó, nhìn thấy cảnh vật này tự dưng đứng im

không nhúc nhích. Tôi lại muốn tung cho nó một cước vào mông, sau cảm thấy làm

như vậy đúng là tác phong quê mùa, đáng ra nên cầm một chiếc quạt trong tay,

văng nhẹ dây cương, dù tự biết rằng lôi được nó đi khổ sở biết chừng nào.

Hỷ Lạc

nói: Oa! Huynh xem, rộng quá thể, đi bao lâu mà vẫn chưa trông thấy cổng thành

bên kia nhỉ.

Tôi

nói: Muội nghĩ xem, muội định đi đâu chứ?

Hỷ Lạc

nói: Vạn Vĩnh đại ca nói rồi, trong thành Trường An có rất nhiều cửa hiệu kinh

doanh của huynh ấy, còn có cả quán trọ nữa, chúng ta có thể tìm tới đó xem sao.

Tôi

nói: Làm phiền người khác không hay ho gì đâu.Trong tay chúng ta cũng có không

ít tiền mà?

Hỷ Lạc

nói: Muội nói chơi vậy thôi, nhưng chúng ta đâu thể kiếm tiền mặt được, huynh

đi trên đường, muội bảo huynh muội có một bình nước giải được cả trăm thứ độc,

huynh có mua không? Giá một vạn lạng.

Tôi

đáp: Không mua.

Hỷ Lạc

nói: Vậy đấy, ngay đến huynh, một người chưa hề lõi đời mà còn không mua, vậy

có ai mua đây?

Tôi

nói: Vậy cứ giữ lại đi, cùng lắm huynh đi làm ít việc lặt vặt.

Hỷ Lạc

vội nói: Không cần, trên đời này huynh và muội to nhất, không cần ai quản lý

chúng ta hết.

Tôi

nói: Vậy muội nói xem cần phải làm gì?

Hỷ Lạc

nói: Cứ tìm một nơi trọ lại đã, sau đó ăn uống rồi nghĩ cách xem, mà còn phải

tìm tóc cho huynh nữa. Y phục của huynh cũng không ổn, muội muốn hóa trang cho

huynh giống một sát thủ.

Tôi

hỏi: Sao vậy?

Hỷ Lạc

đáp: Trang phục sát thủ trông đều đẹp cả.

Tôi

nói: Tay Vô Linh mà đến chắc chắn sẽ cuỗm muội đi mất.

Hỷ Lạc

nói: Không thể nào, huynh không hiểu đâu, muội sẽ lột hắn ra.

Tôi

hỏi: Sao làm vậy?

Hỷ Lạc

đáp: Quần áo của hắn chắc chắn rất đẹp, ta sẽ không phải bỏ tiền mua. Huynh

nghĩ xem, giống như hắn tốt biết bao, sau khi biến mất, hắn chắc chắn sống rất

vui.

Tôi

nói: Tiếng tăm của hắn lừng lẫy, cho nên muội cảm nhận được sự biến mất của

hắn. Chúng ta không tên không tuổi, có chạy loạn xạ khắp nơi cũng chẳng ai nhận

ra sự xuất hiện của chúng ta.

Hỷ Lạc

nói: Nói vậy chưa chắc, huynh ngẫm xem, dọc đường có bao người muốn giết chúng

ta. Huynh đã quên hai tên trong tửu quán rồi sao, báo hại muội ngã từ trên lưng

ngựa xuống.

Tôi đã

quên bẵng việc khám bệnh cho Hỷ Lạc, giờ vội hỏi: Vết thương trên người muội

thế nào rồi?

Hỷ Lạc

nói: Muội cảm thấy không sao đâu. Chúng ta không cần đến hiệu thuốc nữa. Ai

biết phải nán lại đó bao lâu, đỡ được việc gì hay việc nấy.

Tôi

nói: Không được, phải đi. Ngộ nhỡ mưng mủ rồi viêm tấy thì huynh biết ăn nói

thế nào.

Hỷ Lạc

hỏi: Huynh ăn nói với ai?

Tôi

nói: Muội không có cha mẹ, sự thực thì chẳng phải ăn nói với ai cả.

Hỷ Lạc

nói: Đừng nói chuyện này nữa, người huynh muốn tìm đâu?

Tôi

hỏi: Ai cơ?

Hỷ Lạc

nói: Cái người có thể biết tất cả mọi việc ấy.

Tôi

nói: Ối! Huynh quên mất. Ngày mai đi tìm vậy!

Hỷ Lạc

nói: Huynh không cảm thấy dường như sư phụ đã trao cho huynh một nhiệm vụ rất

lớn ư?

Tôi lắc

đầu.

Hỷ Lạc

nói: Huynh không cảm thấy sự việc cấp bách hả?

Tôi lắc

đầu.

Hỷ Lạc

nói: Vậy được rồi, chúng ta tìm chỗ trọ lại đã. Nơi đây rộng lớn thật. Mà chắc

ở đây không có hắc đ**m chứ?

Tôi

nói: Không thể nào, muội xem mấy cái nhà heo hút chúng ta từng trọ cũng có vấn

đề gì đâu, cứ yên tâm, có huynh ở đây, không ai ăn h**p được chúng ta đâu.

Hỷ Lạc

nói: Muội không sợ cái đó, muội sợ chúng ta ăn h**p nhầm người khác thôi. Huynh

thì cái gì cũng ăn, chẳng giống sư chút nào. Trước đây huynh còn ăn chay, giờ

thì... bao lâu rồi huynh chưa ăn rau ấy nhỉ.

Tôi nói Yên tâm. Muội xem, nơi này là kinh thành mà.

Nói

đoạn, tôi cảm giác có một cánh tay thò vào túi áo mình, tôi trông thấy một đứa

trẻ hơn mười tuổi lẳng lặng rút từ trong áo tôi ra một ít tiền lẻ, sau đó đi

ngang qua tôi. Tôi vung tay tóm lấy nó, kéo ra phía trước mặt, răn đe: Tiểu tử!

Ai cho phép mày làm như vậy!

Tên

tiểu tử chợt tái mặt, lập tức quỳ sụp xuống nói: Sư phụ! Đệ tử có mắt không

thấy núi Thái Sơn, lỡ tay phạm tới bề trên.

Tôi

nói: Ý ngươi là sao?

Tiểu tử

đáp: Con là đứa nhanh tay nhanh chân nhất trong bang, chân tay của người còn

nhanh hơn chân tay con, vậy nên người đích thị là sư phụ của con.

Tôi

nói: Nói láo nào. Ta là người tốt.

Tiểu tử

nói: Con cũng là người tốt mà, con không làm quan, con kiếm ăn dựa vào sức

mình, sao lại coi con không phải người tốt cơ chứ?

Tôi

nói: Cũng đúng. Nhưng suy cho cùng, trộm cắp là việc không tốt. Ta giao ngươi

cho quan nhé!

Tiểu tử

nói: Ấy chớ, xin người chớ có làm vậy, bao năm nay con chưa từng lỡ tay lần

nào, việc này mà đồn ra, sau này con không được làm bang chủ mất.

Tôi

nói: Bọn các ngươi ăn trộm mà cũng có bang hội à?

Tiểu tử

đáp: Vâng ạ. Bang của bọn con nhỏ, có mười mấy người thôi. Thiên hạ thái bình

quá ấy mà, ai cũng lập bang hội. Lần trước hai đại môn phái Thiếu Lâm và Võ

Đang quyết đấu với nhau, con cũng đi xem đấy, trận ấy phải nói là quá tuyệt,

hai người đều chưa nhúc nhích, một người dùng nội công đã đẩy người kia ngã

xuống rồi, lợi hại thật, đúng là người luyện tập có khác, mọi người đều bảo

phải luyện hơn hai trăm năm mới được như vậy, chính cái người của Võ Đang đấy,

nghe nói sau khi luyện bốn trăm năm, đột nhiên anh ta cải lão hoàn đồng, lúc ấy

liền có nội lực. Người của Thiếu Lâm thì không ổn, nghe nói mới luyện được hai

trăm năm, nội lực kém hơn, lúc ấy con đang đứng phía dưới, cảm thấy cơ thể rung

lên, cả người như bị hút về phía trước. May mà con tóm lấy thằng Vương béo giết

lợn đứng trước mặt. Con cũng lén cùng mấy anh em luyện tập, sư phụ nói xem, hai

người còn chưa chạm vào nhau, chân tay cũng chưa nhúc nhích chút nào, làm sao

mà đẩy người ta ngã xuống được nhỉ, con và mấy anh em cũng nín hơi thử, xem có

phóng được nội công không, kết quả mẹ kiếp, con đánh tuột cả rắm.

Tôi

nghe mà mắt tròn mắt dẹt.

Tiểu tử

tiếp tục nói: Lần ấy con muốn bái người phái Võ Đang kia làm sư phụ, muốn luyện

nội công, trông thấy cô nàng nào khả dĩ thì hút cô ta lại. Thiếu Lâm không chịu

thua, nhưng cái chiêu họ sử dụng quá thất đức, không cho người ta xuống khỏi

nóc nhà chứ. Con ngày nào cũng đứng trước cửa Di Xuân các ngước nhìn, ngước đến

vẹo cả cổ. Con cứ nghĩ người kia thế nào cũng phải vận công. Ai ngờ từ đầu chí

cuối đều không vận, chắc bận trước vận lực quá nhiều, nên lần này không phát ra

nổi nữa. Kết quả là sau một ngày không thấy người đó đâu, cứ tưởng người ta

dùng khinh công biến mất, ai ngờ sau đó hay tin, mẹ kiếp, hắn bị chết đói.

Hỷ Lạc

cũng mắt tròn mắt dẹt.

Tiểu tử

lại nói tiếp: Thôi không nhắc nữa, trong lòng con thật sự rất khó chịu, người

ta luyện hơn bốn trăm năm, thực chẳng dễ dàng gì, sao lại chết đói nhỉ. Có điều

đợt ấy Trường An rõ náo nhiệt, riêng hôm tỉ thí võ công con đã chôm được hơn ba

trăm lạng bạc rồi. Mọi người ai cũng ngước lên nhìn, muốn không chôm cũng khó.

Hai hôm ấy, bọn lắm tiền rõ khó chịu, vì chính Di Xuân các, cái nơi chơi gái

hạng nhất Trường An bị khóa trái. Con thì chưa bao giờ lai vãng tới đó. Con còn

mừng thầm là khác. Hai bang hội lớn trong thiên hạ khiêu chiến, vậy là loạn

thôi. Đến lúc đó con thừa cơ chôm chỉa, kiếm được hơn lúc này nhiều. Thế rồi

đợi mãi đợi mãi, thiên hạ vẫn thái bình, đúng là công cốc.

Tôi

sững sờ một lúc mới nói: Ta cứ đem ngươi nộp cho quan đã.

Tiểu tử

đó lại quỳ xuống nói: Sư phụ, dù gì thì chúng ta cũng cùng hội cùng thuyền, sư

phụ không thể đẩy con vào lò lửa được.

Hỷ Lạc

nói: Thôi, nộp cho quan rồi đến lúc ra tù nó vẫn ăn trộm, hà tất phải như vậy.

Tôi

nói: Thôi được. Ta thả ngươi.

Tiểu tử

nói: Thực sự thì... thế này, con quá nhẵn mặt với thành Trường An này rồi, hai

vị dường như vừa mới đến, vậy thì, hai vị có vấn đề gì cứ hỏi con, con sẽ cố

gắng sắp xếp ổn thỏa.

Tôi

nói: Vậy thì tốt. Ta hỏi ngươi, ở thành Trường An có người nào biết rõ mọi việc

nhưng chưa hề có ai gặp được?

Tiểu tử

không hề đắn đo, buột miệng trả lời: Không có.

Tôi hỏi

tiếp: Được rồi, vậy có mấy người kỳ nhân?

Tiểu tử

đáp: Kỳ nhân, quả thực không ít. Đông thành có Vương béo giết lợn, con vừa nhắc

tới, người đời gọi là Vương khoái đao, một ngày nhiều nhất giết được hơn bốn

trăm con lợn, mọi người đều bảo hẳn có thể sẽ được đưa vào sử sách. Nhưng sau

đó, thằng Tạ béo hàng xóm không phục, một hơi giết hơn năm trăm con, Vương béo

nào nuốt trôi được cục giận này, nhưng ngặt nỗi không thể tìm ra được số lợn

nhiều như thế để giết, thế rồi hắn điều hơn một nghìn con lợn từ tỉnh ngoài về,

chém sạch trong một hơi. Thịt lợn hai hôm ấy cứ gọi là rẻ mạt, hai đồng đã mua

được nửa con rồi.

Tiểu tử

ngẫm nghĩ, rồi nói tiếp: Phía Tây còn có một cái giếng, cái giếng đó cũng rất

kỳ lạ...

Thấy

tên tiểu tử say sưa kể chuyện, tôi và Hỷ Lạc cũng không muốn ngắt lời. Cuối

cùng sau hai giờ chúng tôi mới nghe được một thông tin thú vị, rằng có một ông

lão, không rõ tên họ, chuyên chế tạo binh khí, ông ta có một cửa hàng, cũng

không rõ ông đã sống được bao năm, nhưng những món binh khí ông chế tạo thì nổi

danh thiên hạ, thanh kiếm được gọi là Linh chính là do ông ta chế ra. Cửa hiệu

của ông cũng rất kỳ lạ, ban ngày chưa từng thấy ai lai vãng, tối đến thì chỉ

nghe thấy tiếng gõ nện, cũng chưa từng thấy có bóng người. Mọi người đều đồn

rằng, ông ta không phải người.

Tôi

nói: Vậy dẫn ta tới đó.

Tên

tiểu tử dẫn chúng tôi đi dọc thành Trường An hoa lệ, đến một hàng rèn nằm ở góc

phố. Tôi và Hỷ Lạc bước vào cửa, bên trong không một bóng người, cửa cũng chỉ

khép hờ. Tôi quay người lại hỏi tên tiểu tử thì phát hiện ra thằng nhóc đã biến

mất, chứng tỏ mọi người đều rất sợ nơi này. Bạn thử nghĩ xem, nếu có một nơi

luôn nghe thấy tiếng gõ nện vào mỗi tối, nhưng lại không thấy bóng người, lại

nằm ở một góc rẽ trên đoạn đường phồn hoa đô hội, như thế quả thực khiến người

ta phải sởn gai ốc.

Tôi sờ

ngắm tỉ mỉ vài món binh khí, quả là chế tác kỳ tuyệt, thiên hạ khó tìm. Tôi gọi

một lúc lâu, không có ai đáp lại. Hỷ Lạc nói, dễ xử lý thôi, đoạn cầm lấy một

món binh khí đắt nhất, đến tôi cũng không biết tên, cứ thế bước ra ngoài. Quả

nhiên chưa đi được mấy bước, trên tường có một cánh cửa ngầm mở ra. Từ bên

trong, một ông lão chậm rãi bước ra.

Ông lão

nói: Các ngươi đến rồi đấy.

Tôi

đáp: Tiền bối biết hết mọi việc thật không, kể cả việc vãn bối đến đây?

Ông lão

nói: Ta không biết. Nhưng ta từng rèn một thanh kiếm, các ngươi chạm vào là ta

có thể cảm nhận được.

Tôi

nói: Ồ, kiếm vãn bối chạm vào đâu ít. Xin hỏi, thanh kiếm tiền bối rèn là thanh

nào?

Ông lão

nói: Thanh ta rèn vốn được gọi là Kiếm vương, nhưng sau đó lại phải đổi tên.

Tôi

nói: Vãn bối chưa từng nghe thấy cái tên Kiếm vương, vậy thanh kiếm đó được đổi

tên là gì?

Ông lão

nói: Sau này nghe nói được gọi bằng một cái tên đơn, không phải tên Linh thì

tên Tinh, nói chung ta không nhớ rõ.

Tôi và

Hỷ Lạc sững người kinh ngạc, cảm giác đây chính là người mà sư phụ bảo phải

tìm.

Tôi

nói: Đúng rồi, thanh kiếm đó đúng là vãn bối đã từng cầm, hiện giờ cũng chính

là thanh kiếm của vãn bối.

Ông lão

nói: Ha ha, chủ nhân của thanh kiếm đó ta rất quen.

Tôi

nói: Người tiền bối nói đến có phải Vô Linh không?

Ông lão

cười rộ, nói: Vô việc cái gì, đó là tên các ngươi tự đặt ra, hắn tên là Dương

Chính Cương.

Tôi và

Hỷ Lạc nhìn nhau cười lớn, đoạn nói: Chắc không phải đâu, cái tên đó quá tầm

thường.

Ông lão

nói: Ta còn chưa có tên đây, cứ gọi ta là ông lão là được.

Tôi

hỏi: Vậy tại sao mọi người đều gọi hắn ta là Vô Linh?

Ông lão

nói: Có thể mọi người cảm thấy cái tên Dương Chính Cương không giống tên của

một đại hiệp.

Tôi

hỏi: Vậy người này hiện giờ ở đâu ạ?

Ông lão

đáp: Chớ nóng vội. Cứ từ từ. Các ngươi có được thanh kiếm đó chắc hẳn cũng

không phải hạng tầm thường. Nói đi! Các ngươi tìm ta có việc gì?

Tôi

nói: Cũng không có việc gì, chỉ vì ngưỡng mộ tiền bối đã lâu, lại có cả lời đồn

đại nữa, nên vãn bối đến thăm nom thôi.

Ông lão

nói: Có lời đồn đại gì về ta nào?

Tôi

đáp: Đồn rằng tiền bối chỉ rèn binh khí về đêm.

Ông lão

nói: Mắt ta kém, sợ nhìn thấy ánh sáng đó mà.

Tôi

nói: Tiền bối xem, người ta bảo chỉ nghe thấy tiếng rèn binh khí, nhưng chưa

từng trông thấy tiền bối.

Ông lão

nói: Điều đó là đương nhiên, ngươi xem vừa nãy ta bước ra từ cánh cửa ngầm kia,

lúc thường ta đều rèn binh khí trong đó, làm sao có ai trông thấy ta được, ha

ha.

Hỷ Lạc

nói: Ông ơi, chắc ông nói đùa ạ, những món binh khí ông treo ở ngoài này, chưa

từng có ai đến mua, trong khi chúng lại tốt như thế, vậy chắc hẳn phải có lai

lịch.

Ông lão

trả lời: Không phải đâu, do binh khí của ta bán quá đắt đó thôi.

Tôi

nói: Chắc chắn tiền bối nói đùa rồi. Trông tiền bối cao thâm như vậy mà...

Ông lão

cười lớn, đoạn nói: Ta thì cao thâm cái nỗi gì, tính ta rất thích chơi bời, nếu

mắt ta không kém thì ta ra ngoài từ lâu rồi. Mấy năm trước ta còn đến chơi

Thiếu Lâm nữa là. Có thằng nhóc con sao chép đồ của ta, nhưng kết cuộc ta lại

bị thua kiện. Chúng muốn bêu rếu ta ngoài đường nữa chứ, ta thấy trò ấy chẳng

vui nên chuồn luôn.

Tôi và

Hỷ Lạc sững sờ thốt lên: Thì ra người đó là tiền bối!

Ông lão

cũng sững sờ thốt lên: Thì ra người đó là ngươi!

Tôi và

Hỷ Lạc vội xua tay, nói: Người đó không phải vãn bối, không phải vãn bối, mà là

sư huynh của vãn bối, hồi ấy sư huynh rất thích tự làm ra các món đồ cho mình,

còn chưa hiểu biết gì, xin tiền bối chớ để bụng.

Ông lão

nói: Ta để bụng làm gì, việc gì cũng để bụng, liệu ta có sống lâu đến thế này

không?

Tôi

đáp: Chí phải, chí phải, nói ra, cũng phải rất lâu rồi vãn bối chưa gặp sư

huynh mình, song sự việc lần ấy khiến sư phụ rất tức giận, bảo là đã mạo phạm

đến tiền bối đây. Cũng may võ nghệ của tiền bối cao cường, hôm đi diễu phố đã

hô hoán bão cát, sau đó mất tăm.

Ông lão

nói: Ta nào có võ nghệ cao cường gì đâu, chẳng qua rèn binh khí đã lâu năm, mấy

cái thứ còng chân còng tay của các ngươi, đều do ta cải tiến ra cả, trước khi

tới ta đã chuẩn bị một chiếc chìa khóa vạn năng, đang đắn đo tìm cách mở khóa,

bất tình lình bão cát ập tới, thế là ta chuồn thôi.

Tôi

nói: Tiền bối nói đùa rồi.

Ông lão

trỏ tay vào Hỷ Lạc nói: Đây là cô nàng của ngươi đấy hử?

Tôi

đáp: Dạ vâng, vãn bối và cô nương này cùng nhau tới đây.

Ông lão

nói: Các ngươi không phải từ chùa tới đây sao?

Tôi

nói: Việc này nói ra rất phức tạp. Thế này đi, chúng ta hãy tìm chỗ cùng ngồi

xuống nói chuyện.

Ông lão

nói: Đợi trời tối đã, đợi trời tối đã. Nào, để ta thử binh khí cho ngươi!

Tôi

đáp: Vãn bối không mang theo nhiều tiền đâu.

Ông lão

cả cười nói: Thằng nhóc ngốc nghếch, ta bán đắt là vì ta không muốn bán, xem

ngươi có sử dụng được không thôi.

Nói

đoạn, ông lão liền cầm một món binh khí trông rất quái lạ đặt vào tay tôi.

Tôi

nói: Thứ này, thưa tiền bối, sư phụ vãn bối vẫn chưa dạy cách sử dụng binh khí.

Ông lão

nói: Hả? Thế ngươi cầm thanh kiếm Linh để chẻ củi à?

Tôi

nhìn Hỷ Lạc, sợ cô nàng buột miệng nói ra chúng tôi định đem chẻ củi thật.

Ông lão

nói tiếp: Tuy nhiên, Linh cũng chẳng có gì đặc biệt, ngươi xem!

Nói

đoạn liền mở một chiếc tủ ra.

Trong

tủ có hơn hai chục thanh kiếm.

Ông lão

nói: Ngươi xem, thực ra đều như nhau. Ngươi thích, ta tặng ngươi mười thanh.

Hỷ Lạc

nói: Vậy tốt quá, không cần phải chi ngân lượng để chuộc kiếm lại rồi.

Ông lão

cả kinh thất sắc: Sao, các ngươi đem kiếm đi cầm cố sao?

Tôi vội

nói: Không phải, không phải. Không phải thực sự đem cầm cố, mà là do dọc đường

cõng Linh, người truy sát vãn bối quá nhiều, nên đành phải gửi vào một cửa hiệu

cầm đồ, dù sao cũng không có ai ngờ rằng thanh kiếm mà thiên hạ tranh đoạt lại

lưu trong cửa hiệu cầm đồ.

Tôi

suýt nữa định nói tiếp: Nhưng xem tình hình hôm nay, chắc không cần phải chuộc

về nữa.

Ông lão

nói, còn nhiều, nhiều thứ nữa, ta làm ra nhiều thứ lắm, toàn những thứ ta không

muốn người khác sử dụng. Thanh kiếm Linh ngươi thấy dùng thế nào?

Tôi

đáp: Rất tốt, rất nhạy. Món đồ rất tốt, mọi người đều tranh giành nhau.

Ông lão

lại nói: Lại đây, ngươi thử múa vài đường, ta cho ngươi cái này.

Tôi

nói: Thưa tiền bối, vãn bối thực rất hổ thẹn. Vãn bối không biết dùng, song

kiếm của tiền bối không thể sát thương được vãn bối.

Ông lão

nói tiếp: Thật vậy sao? Ồ, ngươi luyện Đồng nhân đại pháp sao, ha ha, không

sao, nếu ngươi luyện Đồng nhân đại pháp, loại kiếm thông thường có thể không

sát thương được, nhưng kiếm của ta thì được, kiếm của ta chém người thường như

cắt đậu phụ thôi, ngươi từng luyện phép mình đồng, thì có khác biệt một chút.

Giống như chém đậu phụ già vậy.

Tôi trả

lời: Không phải vậy.

Ông lão

nói: Không phải cái gì, nào, ta trói ngươi lại, ngươi có dám thử không?

Tôi

đáp: Vãn bối không có ý đó. Vãn bối có tài lẻ khác.

Ông lão

nói: Tài gì nói mau.

Tôi

đáp: Vãn bối có thể bắt được ám khí.

Ông lão

nói: Sao ngươi lại miêu tả mình như mấy con vật trong đám mãi nghệ trên phố thế

nhỉ, ồ, ngươi có thể bắt được ám khí, vậy ngươi có thể chui qua vòng lửa không?

Tôi

đáp: Vãn bối không có ý đó. Chúng ta có thể thử xem sao.

Ông lão

nói: Tuổi trẻ đúng là tuổi trẻ, chưa nói được mấy câu đã đòi thử rồi.

Tôi

đáp: Nếu không vãn bối thực sự rất khó nói rõ.

Ông lão

nói: Như thế này đi, ta sợ sát thương ngươi, nên dùng thứ làm bằng gỗ nhé,

ngươi làm khó ta quá, ta già cả thế này rồi.

Ông lão

chậm rãi cầm một thanh kiếm làm bằng gỗ từ trong phòng ra, tôi trộm nhìn, phát

hiện ra thanh kiếm này còn sắc bén hơn loại kiếm rèn bằng sắt ngoài chợ. Kiếm

sắc nhọn hay không có khi không nằm ở chất liệu, mà nằm ở chỗ nhẵn lì của nó.

Thanh kiếm gỗ này quá nhẵn.

Hỷ Lạc

dường như chưa từng quan tâm đến việc tôi đánh nhau với người khác, có lẽ do từ

trước tới giờ tôi chưa từng thất bại, à quên, từng thất bại một lần, đó là lần

giao đấu với Vạn Vĩnh. Song mặc dù vậy, Hỷ Lạc vẫn tự kiếm được một bình thuốc

giải độc giá trị liên thành. Phải chăng Hỷ Lạc nghĩ, tôi có thể có được toàn bộ

số binh khí trong căn phòng sau cuộc tỉ thí lần này, sau đó muội ấy sẽ đem tất

cả ra ngoài bán tống bán tháo, để đổi lấy một căn nhà?

Ông lão

chậm rãi giơ kiếm, đồng thời nói: Bắt đầu. Tuy nhiên dường như ông không dùng

hết sức, tốc độ kiếm cũng giống tốc độ của mấy tên giả làm đệ tử Thiếu Lâm quê

mùa giắt đao chạy loang quăng trên phố. Tôi chẳng cần hình dung, chỉ nhẹ nhàng

né qua một bên.

Ông lão

kêu lên: Oái, chém trượt ngươi à.

Tôi

nói: Tiền bối dùng hết sức đi, vãn bối chưa dùng hết sức đâu, vãn bối cảm nhận

được điều đó.

Ông lão

nói: Được, thì dùng hết sức!

Nói

dứt, ông lão cũng không dùng bất kỳ chiêu thức nào, cứ thể bổ thẳng kiếm xuống.

Tôi chỉ thấy một tia sáng lóe lên, đây là lần đầu tiên trong đời tôi không nhìn

thấy thực thể của binh khí, tuy đã dốc sức né tránh, song áo tôi vẫn bị chém

rách toạc.

Hỷ Lạc

nói: May quá, may mà vẫn chưa mua quần áo mới cho huynh.

Tôi

nhìn ông lão, ông lão dường như chưa mở mắt, ngay lập tức tung ra một loạt

chiêu thức không rõ tên, tốc độ cực nhanh, kiếm thức cũng rất kín, nếu ở cự li

gần, chắc chắn không có cách nào né được. Hai người đấu võ, phần đáng xem nhất

thực ra chính là đoạn né kiếm trong cự li gần, đó là bản lĩnh chân thực, nhất

là khi đánh bừa, chém bừa. Giờ nghĩ lại, kiếm pháp có chiêu thức quả thực rất

ngu xuẩn, kể cả khi hai người quyết đấu, anh có chiêu của anh, tôi liền có

chiêu khắc chế chiêu của anh, một người đứng đó khua kiếm dựa theo chiêu thức,

một người đứng đó né kiếm dựa vào những điều viết trong sách, tất cả chỉ chứng

tỏ rằng, hai người này rồ dại. Bạn nghĩ xem, nếu chém mãi không trúng người ta,

sẽ khó chịu biết nhường nào. Sao không ai nghĩ ra, khi chém mãi không trúng người

ta, vốn định chém đầu họ, ta đổi sang chém một nhát ở chỗ khác, thế chẳng phải

sẽ trúng luôn sao. Vậy nên tôi hoàn toàn không thể lý giải nổi tác dụng của

chiêu thức. Trong khi chiêu thức mà ông lão sử dụng, hoặc có thể nói đó chẳng

phải chiêu thức gì, chỉ là cách xuất kiếm của riêng ông ta, khiến tôi không có

cách đối phó nào khác ngoài việc bước lùi về phía sau.

Ông lão

cười ha ha hai tiếng, rồi dừng tay. Hỷ Lạc nói: Sao huynh cứ lùi lại phía sau

thế nhỉ?

Tôi khẽ

trả lời: Muội xem, người ta già cả thế này cũng đâu có dễ dàng gì, huynh nhường

ông ấy ấy mà.

Hỷ Lạc

nói: Đúng rồi, huynh hiền lành đấy.

Tôi thở

phù một hơi, rồi nói với ông lão: Tiền bối xuất chiêu đi!

Ông lão

nói: Lần này ta đổi sang dùng quạt.

Nói

đoạn liền vào phòng lấy một cây quạt ra, đồng thời nói: Đỡ một chiêu này! Ông

lão dứt lời lập tức phóng quạt tới. Tôi có thể nhìn thấy rõ, nhưng tốc độ quá

nhanh, không cách nào khiến cơ thể phản ứng kịp. Tôi nghĩ bụng, lần này toi

rồi, tuy không hẳn là anh minh một đời, cũng chẳng hơi đâu để tâm đến điều đó,

song suy cho cùng cũng chẳng thể chết bởi một nhát quạt được. Việc này sẽ khiến

Hỷ Lạc nghĩ về tôi thế nào đây?

Tôi

nghiêng người, song thời gian chắc không đủ. Bất thình lình, chiếc quạt xòe ra,

tốc độ lập tức giảm xuống nhanh chóng. Bây giờ tôi mới có thể tóm được cán

quạt.

Ông lão

nói: Ha ha, thế nào, cũng khiến ngươi thót tim đấy chứ?

Tôi

đáp: Không sao ạ, tiếp tục đi tiền bối!

Ông lão

nói: Thôi, thôi khỏi, ta đã biết ngươi là ai rồi.

Tôi

hỏi: Tiền bối còn biết việc gì ạ?

Ông lão

trả lời: Biết, biết hết, ta sống ngót trăm tuổi rồi, có việc gì mà không biết.

Ông lão

dẫn tôi vào trong phòng, cho tôi xem tác phẩm được làm trong cả một thế kỷ của

ông ta. Ông lão nói: Ta chưa từng luyện công phu gì cả, ngày ngày đều làm những

món này, chân tay cũng nhanh nhẹn lên.

Tôi

nói: Chúng ta có thể tìm lấy một chỗ ngồi xuống từ từ nói chuyện.

Ông lão

trả lời: Được.

Chúng

tôi liền tìm tới một tửu lâu gần đó, Hỷ Lạc gọi một ít đồ ăn, ông lão cất lời Ngươi chắc chắn là tên ấy.

Tôi

nói:Vãn bối là tên nào ạ?

Ông lão

đáp: Có một lời đồn thế này, cứ mấy trăm năm ấy, ta quên rồi, thì xuất hiện một

người, người này có thể nhìn thấy những thứ mà người thường không nhìn thấy, có

thể nhìn rõ vật thể chuyển động với tốc độ nhanh, thậm chí có thể nhìn thấu nội

tâm của người khác.

Tôi trả

lời: Đúng là có chuyện đó.

Ông lão

nói tiếp: Đó là nửa đầu câu chuyện, nửa sau đồn rằng, người này, rất lợi hại,

song, có thể dẫn đến đại loạn. Ai mà giết được người này, người đó có thể có

được thiên hạ.

Tôi và

Hỷ Lạc đều há hốc miệng cùng lúc.

Ông lão

hỏi: Ngươi có tin lời đồn không?

Tôi

đáp: Vãn bối...

Ông lão

nói: Ngươi xem, đồn rằng thanh kiếm Linh có thể ra hiệu lệnh cho cả thiên hạ,

vậy mà ta có hơn hai mươi thanh, nhưng nào kêu gọi được ai. Một thằng ngốc, cầm

một thanh kiếm thì ra lệnh được cho ai nào.

Tôi và

Hỷ Lạc đồng thanh trả lời: Vâng, đúng rồi!

Ông lão

lại nói tiếp: Ngươi xem, người ta cứ đồn tay Dương Chính Cương như gì ấy, sự

thực thì sao, ngươi biết không? Ngươi biết không? Hai ngươi đều không biết đâu,

ta thì biết, ha ha, đó chẳng phải là lời đồn đại sao?

Tôi và

Hỷ Lạc gật đầu một cách chắc chắn hơn.

Ông lão

nói: Tuy nhiên, lời đồn là lời đồn, có mấy kẻ bị đồn thổi biết được chân tướng

của sự việc đâu. Mọi người làm sao có thể biết được, vả lại người ta làm việc

gì cũng đều thích đồn thổi.

Tôi gật

đầu.

Ông lão

nói tiếp. Lần tỉ thí trước, đến giờ vẫn im hơi lặng tiếng. Nhưng chưa chắc đâu,

có thù ắt sẽ báo thù, đến Bồ tát cũng làm như vậy, chẳng qua cách làm khác nhau

mà thôi, tóm lại mọi người đều muốn xử lý sự việc sao cho trong lòng cảm thấy

sảng khoái.

Tôi

nói: Nhưng mà, hình như hội Võ Đang vẫn không có động tĩnh gì. Thực lực của bọn

họ vốn không thể đối chọi được với Thiếu Lâm.

Ông lão

nói: Ngươi nghĩ thế nào?

Hỷ Lạc

nói: Hội Võ Đang không dám đâu. Lần trước Thiếu Lâm đã cho tay Lưu Vân, kẻ võ

công cao cường nhất trong đám bọn họ, phải chết đói rồi.

Ông lão

nói: Mấy hôm trước, có người của Võ Đang tới đây, muốn mua năm trăm món binh

khí từ cửa hàng của ta. Ta không có nhiều như thế, nên bán cho họ một trăm món.

Bán với giá cao. Ta đoán là dùng để báo thù.

Tôi

nói: Tiền bối làm vậy có thích hợp không?

Ông lão

đáp: Ngươi xem, suy cho cùng, ta chỉ là người làm ăn buôn bán mà thôi.

Tôi

nói: Nhưng tiền bối cũng không thể bán hàng cho kẻ xấu được, ai lại vẽ đường

cho hươu chạy như thế.

Ông lão

cười nói: Người tốt kẻ xấu đâu có dễ phân biệt như vậy. Không có ai muốn làm

người xấu cả, đúng không nào?

Tôi

đáp: Đại để như vậy.

Ông lão

nói tiếp: Nếu quả thực là như vậy, thì Võ Đang chẳng phải là không còn ai. Mà

Thiếu Lâm các ngươi cũng chẳng tốt đẹp chỗ nào cả, chỉ là hai bang hội mà thôi,

người có đông hơn một chút, ta không hơi đâu để tâm nhiều như thế, huống hồ mấy

thanh kiếm đó cũng chẳng giúp được gì.

Tôi

nói: Vậy chắc Thiếu Lâm không xảy ra chuyện gì chứ ạ?

Ông lão

đáp: Đương nhiên là xảy ra chuyện rồi. Sư phụ ngươi mới là nhà tiên tri, ông ta

đã điều ngươi tới Trường An. Ngươi nên về xem sao.

Tôi

nói: Được rồi, vãn bối sẽ lên đường ngay đây.

Ông lão

nói: Chớ vội chớ vội, muộn một khắc cũng không sao, ăn cơm xong đã, rồi theo

ta.

Tôi

đáp: Vãn bối quả thực nuốt không trôi, sư phụ, phương trượng và cả sư huynh của

vãn bối đều ở đó.

Ông lão

nói: Vậy được rồi, không ăn nữa, ngươi theo ta, ta cho ngươi một món đồ, đảm

bảo hữu hiệu.

Chúng

tôi quay lại nhà ông lão. Ông lão đưa cho tôi một thanh kiếm, nói: Ban nãy ta

bảo tặng ngươi món kia, nhưng ta thấy không thích hợp với ngươi lắm, cũng bởi

chẳng biết đặt đâu, đây, thanh kiếm này, không có tên, nhưng có linh tính. Nó

rất cùn, nhưng mỗi lần thấy máu nó sẽ nhạy hơn một chút, ta biết có người cũng

nói như vậy về thanh kiếm của Dương Chính Cương, nhưng thanh đó là giả đấy.

Thanh này mới là thật, chất liệu rất đặc biệt. Vả lại, thứ đặc biệt nhất không

phải là kiếm mà là vỏ kiếm. Ngươi xem, trên bề mặt có một hình hoa sen rất nhỏ,

ngươi ấn vào đây, sẽ có ám khí phóng ra từ mũi vỏ kiếm, cây trâm ấy mới là thứ

quý giá nhất, trong vòng năm mươi bước có thể xuyên thủng cây cột trong đại

điện hoàng cung. Ngươi đừng có thử làm gì, ta thề rằng ngươi không tài nào

trông thấy được nó đâu. Thanh kiếm ta đưa cho Dương Chính Cương cũng có công

năng này, tốc độ và lực đẩy đều bằng ba lần cái này. Dương Chính Cương trước

đây cũng dùng thứ này suốt, cho nên người ta mới nói hắn ra tay rất nhanh, còn

chưa động thủ mà đối phương đã ngã xuống rồi. Vốn dĩ võ công của hắn cũng không

tồi, nhưng sau này, hắn lười nhác, chỉ ưa dùng ám khí, ta cũng đến mệt, suốt

ngày phải bảo trì cho hắn, đúng thật là. Ta bảo hắn, Chính Cương này, ngươi thi

thoảng dùng kiếm đi mà, kiếm cũng rất tốt đấy chứ, nhất là kiếm khí, lúc ấy sắc

bén nhất. Thôi được rồi, sau này ta sẽ kể tiếp câu chuyện về tên này, các ngươi

về cho sớm đi, ta thấy tâm trí của các ngươi đã không còn ở đây nữa rồi. Nhớ

đấy, kiếm cần dính máu, ám khí chỉ có thể dùng một lần. Còn nữa, khi suy nghĩ

thì phải học cách không được nghĩ tới tiền đề, không cần biết tới điều kiện,

chỉ cần nghĩ tới kết quả thôi.

Tôi và

Hỷ Lạc đều ngây người tại chỗ. Bởi chúng tôi đã suy đoán quá nhiều về câu

chuyện của Vô Linh – Dương Chính Cương, kết quả ai ngờ lại là như vậy. Tôi cảm

tạ ông lão.

Tôi và

Hỷ Lạc sốt sắng muốn quay về. Con Lép dường như đã hiểu biết hơn rất nhiều, nó

đã học được cách chạy chậm. Chưa chạy được mấy bước, ông lão từ phía sau gọi Đợi đã!

Tôi và

Hỷ Lạc thúc ngựa quay lại. Ông lão móc ra một cái túi, nói: Cầm lấy, trên đường

còn dùng. Mà nếu thấy đứa nào không đánh lại được, thì phải chạy, nhớ đấy, với

cái thằng nó cao siêu hơn mình, thì dùng tinh thần thôi không có tác dụng gì

đâu.

Thành

Trường An dọc đường hoa lệ, cũng bất quá chỉ lưu lại trong khoảnh khắc. Rất

nhanh sau đó chúng tôi đã ra khỏi cổng thành, xong dường như có việc lớn xảy

ra, cho nên quan quân xuất hiện rất đông.

Tôi

hỏi: Chắc không xảy ra chuyện gì thật chứ?

Hỷ Lạc

đáp: Chắc không có gì đâu, trong chùa chúng ta có hàng bao người như thế, lại

tập võ hàng ngày, biết bao sư huynh có võ nghệ cao cường, Võ Đang nhãi nhép có

thể làm gì được.

Tôi

nói: Hy vọng là vậy.

Dọc

đường thúc ngựa. Sau hai ngày thì cũng tới Trục thành. Chẳng thiết nghỉ ngơi,

chúng tôi chạy thẳng tới Thiếu Lâm.

Tôi

càng đi càng cảm thấy rất lạ, dường như đã xảy ra một việc tày trời nào đó. Hỷ

Lạc luôn miệng nói rằng không có chuyện gì xảy ra cả. Tôi nghĩ, thực ra người

khó chịu nhất lại chính là Hỷ Lạc, bởi tôi biết muội ấy cố ý làm ra điệu bộ trái

ngược với nội tâm mình, vậy nên hẳn càng cảm thấy khó chịu hơn. Tôi nghĩ nơi

tôi sinh sống hơn chục năm trời chắc chắn không còn nữa. Càng nghĩ càng chẳng

dám nghĩ tiếp, lại càng không dám nói cho Hỷ Lạc biết, Hỷ Lạc cũng không nói,

muội ấy chắc chắn biết rằng tình hình này không thể lạc quan cho được, dọc

đường chỉ có con Lép vẫn hí hửng thở phì phò.

Thực ra

từ sau trận tỉ thí võ công lần trước, mọi người đều cảm thấy thiên hạ sắp sa

vào một cuộc hỗn loạn, thực ra hỗn loạn hay không, bá tánh không nhìn ra được,

chỉ cần triều đình không hỗn loạn mà thôi. Hỗn loạn được tạo nên bởi những kẻ

sớm tối chỉ nghĩ đến việc thiên hạ đại loạn để rồi ta sẽ là anh hùng. Họ giả bộ

hành tẩu giang hồ, đồng thời ra cái vẻ hôm nay ta bước ra khỏi cửa thì sẽ không

định sống trở về, song kỳ thực thì họ vẫn sống trở về hàng ngày, điều đó thực

là nỗi bất hạnh của xã hội.

Từ mười

năm về trước, thành Trường An cấm bá tánh không được mang giắt đao kiếm, kẻ nào

vi phạm sẽ lập tức bị nộp cho quan, thường thì đều bị giam năm năm. Bởi vậy đao

kiếm hạng lớn về cơ bản chẳng có ai mang theo mình, những người hành tẩu giang

hồ chỉ có thể giắt thứ đao kiếm nhỏ, nhưng loại nhỏ dùng rất không khoái, vả

lại hoàn toàn không có khí phách hào hiệp chút nào, mỗi lần ra khỏi cửa đều

không có cảm giác coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, mà chỉ cảm thấy bản thân mình

như thể ra đi gọt táo vậy, nên mọi người có rất nhiều ý kiến về việc này. Năm

năm trước có một võ phái tên là Kim Ngưu cảm thấy thực sự không thể nín nhịn

được nữa, không thể tiếp tục giắt dao gọt táo đi lại trên đường, nếu tiếp tục

hành tẩu như vậy thì sẽ thành phái Quả Táo mất, thế rồi họ muốn phá vỡ điều

luật này.

Ban đầu

họ nghiên cứu cách xông vào hoàng cung khử tay hoàng đế, sau đó đổi quốc hiệu,

nhưng về sau thấy trong tay cũng chỉ có hơn trăm người, chắc chắn chưa kịp đến

hoàng cung, chỉ vác đại đao xông ra đường, cả lũ đã phải chịu tù năm năm rồi.

Nghiên cứu mãi lại thấy tốt nhất vẫn nên nhẫn nhịn để khỏi tổn hại đến đại cục,

quốc hiệu tạm thời chưa cần đổi, nhưng đại đao thì nhất định phải được vác ra

đường, một là bản thân mình sảng khoái, hai là cũng có thể coi như được nở mày

nở mặt với các bang phái khác. Một toán thằng ngốc nghĩ rõ lâu, cuối cùng nghĩ

ra diệu kế, đó là tạo ra sự hỗn loạn, khiến bá tánh phải nhao nhao đòi được cầm

vũ khí ra đường, bằng không sẽ không an toàn. Hô hào được nhiều tiếng nói của

dân, có khi triều đình suy nghĩ lại.

Thế rồi

bọn Kim Ngưu phái bắt đầu hành động, chúng làm đủ mọi trò, ngang nhiên cướp bóc

hoặc ngấm ngầm cầm dao đâm đít người ta, rồi thì bắt cóc trẻ con, h**p dâm con

gái nhà lành, đập phá chợ búa... nhưng kết cục ngoài tội danh tự ý mang theo

đao kiếm ra, gần như cả lũ đều bị bắt với tội danh khác, mười tên bị xử tử,

những tên còn lại ít nhất bị phạt tù mười lăm năm.

Sau lần

quyết đấu giữa Võ Đang và Thiếu Lâm bận ấy, mọi người đều cảm thấy thiên hạ sắp

đại loạn, ban đầu, thực ra Võ Đang đã thắng Thiếu Lâm, có thể coi là minh chủ

giang hồ, nhưng cuối cùng Lưu Văn lại bị bao vây cho đến chết, việc này không

biết phải tính thế nào, vả lại hai phái vốn đã có nhiều ân oán, bá tánh muốn đi

thắp hương lễ phật, đến chùa Thiếu Lâm là thuận tiện hơn cả, vậy nên mọi người

đều cảm thấy Thiếu Lâm là người tốt, hơn nữa trông Thiếu Lâm thực sự không thô

lỗ như hội Võ Đang và Kim Ngưu, ít ra trông cũng giống những người đã được học

hành vài năm. Về phía Võ Đang, thực ra kẻ đứng đầu luôn cảm thấy hình tượng hắn

trong xã hội rất tốt đẹp, hắn còn làm không ít việc thiện, giúp xây sửa nơi này

nơi nọ, song mọi người luôn cảm thấy đám đạo sĩ này bất hảo, dù nghĩ mãi vẫn

không thể chỉ ra được rốt cuộc họ bất hảo ở điểm nào, điều này khiến Võ Đang

thực sự rất tức tối.

Đứng ở

góc độ triều đình, tuy luôn ủng hộ Thiếu Lâm, song triều đình cũng không hy

vọng chỉ có một mình Thiếu Lâm lớn mạnh, tuy một toán sư sãi cả ngày tụng kinh

thực sự không có vẻ gì là có thể dấy quân khởi nghĩa, song bất luận thế nào, sự

lớn mạnh mang tính lấn át của bất kỳ đoàn thể nào cũng đều không tốt, vậy nên

triều đình cũng ngầm giúp đỡ Võ Đang rất nhiều, ví như nạn đói hồi tôi còn nhỏ,

phái Kim Ngưu vốn có hơn hai trăm tên, rốt cuộc sau nạn đói đã chết gần một

nửa. Còn toàn thể phái Võ Đang chẳng có tên nào chết đói, chắc chắn triều đình

đã ngấm ngầm chuyển lương thực đến cho họ.

Tuy nói

như vậy, song mọi người vẫn không thể tự hài lòng với những gì mình có. Đặc

biệt là Võ Đang. Võ Đang ngang nhiên hay ngấm ngầm khiêu khích cũng chẳng sao,

chỉ cần họ không có những hành động cụ thể. Song sau cái chết của Lưu Vân ở lần

tỉ thí võ trước, Võ Đang một mực im lặng, ngay cả việc khiêu khích cũng không,

điều này khiến Thiếu Lâm vô cùng lo lắng. Thiếu Lâm đã phái đi không ít gián

điệp, song họ không hề phát hiện được mảy may động tĩnh, phương trượng chê họ

ngốc nghếch, không thấy được việc lớn từ trong những việc nhỏ nhặt, một chút

dấu tích cũng không phát hiện ra. Phương trượng hận không thể tự mình làm gián

điệp, chỉ tiếc rằng ông đã quá già, vả lại khuôn mặt đặc tướng mạo của một

phương trượng, thực không thể tưởng tượng nổi ông có thể làm được gì.

Lần này

nghe những điều ông lão nói, việc tôi lo lắng cuối cùng cũng xảy ra.

Chúng

tôi ruổi ngựa chạy cả ngày lẫn đêm, cuối cùng đến dưới chân núi. Tuy nhiên

đường lên núi đã bị quan quân phong tỏa. Tôi biết chắc chắn đã xảy ra đại sự,

liền tiến lên phía trước xuất trình thẻ bài pháp danh, quan binh nói rằng họ

không có quyền cho người khác được vào, bất kể là ai cũng không được phép, cần

phải thông báo với cấp trên đã. Tôi nói, được rồi, vậy ngươi mau thông báo với

cấp trên đi.

Tên

lính quèn lập tức gọi một chân chạy vặt lại nói: Báo với thượng cấp, báo ở đây

có một đệ tử cấp cao của Thiếu Lâm muốn vào đó xem thế nào. Có cho phép vào hay

không.

Tên sai

vặt lập tức chạy đi. Tôi hỏi anh lính quèn: Xảy ra việc gì vậy?

Tên

lính nói: Bọn tôi cũng không lên đó xem được, tôi đoán là xảy ra đại sự rồi.

Tôi

nói: Không xảy ra vấn đề nhân mạng chứ? Có thấy khiêng ai xuống không?

Tên

lính nói: Không thấy, võ công Thiếu Lâm của các ông lợi hại như thế, lại biết

khinh công, đạp xuống đất một cái là bay vọt lên, hai bước là nhảy tới Trường

An, sợ gì chứ?

Tôi

nói: Ừm. Vậy lúc nào thì mới được vào xem?

Tên

lính nói: Đợi cấp trên phê chuẩn đã.

Tôi

nói: Ừm. Cấp trên của các cậu ở đâu?

Tên

lính nói: Ở Trường An.

Tôi và

Hỷ Lạc vội lắc đầu, nói: Vậy không ổn, không ổn, xa quá.

Tên

lính nói: Không xa đâu, đi đi về về mất một ngày thôi, bọn tôi cưỡi loại ngựa

mới, đánh từ Tây Vực về.

Tôi

nói: Thế vẫn quá xa. Sư phụ và sư huynh tôi đều ở trên đó, tôi lại trông coi

những việc hệ trọng trong chùa, không cho tôi lên làm sao được?

Tên

lính nói: Không sao đâu, cấp trên dặn dò như thế, tôi cũng chẳng có cách nào,

tôi phải nuôi mấy cái miệng rỗng, cả nhà đều trông chờ ở bổng lộc của tôi để

được ăn cơm, thả cho ông vào là tôi mất mạng ngay. Chi bằng hai người vào chỗ

nào trong trấn mà nghỉ ngơi, tôi đảm bảo, không có ai mệnh hệ gì đâu, ông xem,

tôi còn chưa thấy có vị nào bị khiêng xuống nữa là.

Tôi và

Hỷ Lạc bớt lo đi nhiều , chúng tôi quyết định vào trị trấn xem xét.

Đến thị

trấn, dường như đã hoang vắng đi nhiều, phần lớn cửa hàng cửa hiệu đều đóng

cửa. Hỷ Lạc nói: Chi bằng chúng ta tới hiệu cầm đồ xem sao, vẫn còn thư thả mấy

ngày, nhưng muốn lấy lại đồ luôn cũng được, chúng ta có một chút tiền, cộng

thêm số tiền ông cụ cho... Đúng rồi, ông cụ cho bao nhiêu tiền thế nhỉ, muội

còn chưa kiểm tra. Ôi, nhiều phết, nặng gớm, mình chẳng để ý kiểm tra, dọc

đường phải lo nơm nớp, mệt thật đấy.

Vừa nói

Hỷ Lạc vừa nhấc thử, đoạn bảo, dù gì thì cũng phải được hai mươi lạng. Mở túi

ra xem, cô nàng há hốc mồm kinh ngạc, kêu lên: Trời ơi, là vàng! Một lạng vàng

đổi được bao nhiêu bạc!

Trong

đầu vẫn nghĩ về việc xảy ra trên núi, tôi buột miệng nói: Không biết.

Hỷ Lạc

moi trong túi ra, lại có phát hiện mới, nhìn qua rồi lại kêu lên: Trời ơi! Ngân

phiếu. Còn có cả chữ ký của giám ngân nữa chứ. Hai nghìn lạng, chúng ta mua

được nhà rồi!

Tôi nói Sao thế được.

Hỷ Lạc

chìa tờ ngân phiếu ra trước mặt tôi, nói: Huynh xem. Sau đó kéo tôi đi về phía

hiệu cầm đồ.

Chúng

tôi đi ngang qua một quán trọ, dọc đường mệt mỏi, không thể không nghỉ ngơi cho

được, tôi và Hỷ Lạc quyết định vào ngủ một giấc ngắn để lấy lại tinh thần.

Chúng tôi lập tức chìm vào giấc ngủ, đến khi trời mờ tối, cả hai mới xuất phát

từ quán trọ đi tới hiệu cầm đồ.

Đến

nơi, chúng tôi phát hiện, cửa hiệu đã bị cướp sạch, bên trong không còn một thứ

gì, chỉ có chủ tiệm và tay thợ vẽ đứng ngây ra trong đó.

Hỷ Lạc

vội hỏi: Đồ của chúng tôi đâu?

Chủ

tiệm gãi đầu nói: Mất cả rồi, mất sạch cả rồi, không còn gì cả.

Hỷ Lạc

hỏi: Bức tranh ấy cũng mất rồi sao?

Chủ

tiệm lắc đầu, im lặng.

Hỷ Lạc

nói: Ông phải đền cho chúng tôi!

Chủ

tiệm khóc lóc nói: Tôi lấy hết mọi thứ ra đền rồi, khách hàng đòi đồ gì tôi

cũng không có, ngân lượng cũng bị cướp cả rồi, tôi lấy gì mà đền đây?

Hỷ Lạc

nói: Được rồi, ít nhất thì cũng phải đền cho chúng tôi một bức tranh.

Chủ

tiệm nói: Được rồi, cô cũng là người thấu tình đạt lý. Cái bọn ấy chứ!

Tôi

hỏi: Cửa hàng của ông làm sao vậy?

Chủ

tiệm nói: Võ Đang đến trả thù Thiếu Lâm, tiện thể cướp cửa hàng của tôi.

Tôi

nói: Sao cơ, Võ Đang? Thế lực của Võ Đang có thể đối chọi với Thiếu Lâm sao?

Chủ

tiệm nói: Đúng thế, có lẽ Võ Đang đến trả thù tôi, tiện thể cướp Thiếu Lâm.

Tôi

nói: Tình hình sao rồi, có phải ngay cả cửa chùa, Võ Đang cũng ngăn không cho

vào?

Chủ

tiệm nói: Tôi không biết, cậu không thấy quan binh đang canh đường lên chùa à.

Có điều lòng người khủng hoảng, nghe nói tình hình không được khả quan, hình

như Thiếu Lâm không được diệt môn rồi.

Tôi và

Hỷ Lạc đều kinh ngạc nói: Không thể thế được!

Chủ

tiệm nói: Mọi người đều bảo vậy mà. Võ Đang hôm ấy bao nhiêu người lên thì bấy

nhiêu người xuống, trên kiếm toàn máu.

Tôi và

Hỷ Lạc nghe xong câu chuyện lập tức xông lên núi. Đến chân núi, chúng tôi vẫn

bị quan binh chặn lai.

Tôi

nói: Để chúng tôi lên núi xem sao!

Quan

binh nói: À, bọn ta đã đi xin ý kiến chỉ thị rồi, ngươi xem, vừa về đến nơi đây

này, cấp trên bảo phải cầm thẻ bài pháp danh của ngươi về Trường An xin ý kiến

lần nữa.

Tôi

đang định nổi cáu, Hỷ Lạc liền kéo tôi chạy thẳng lên núi. Quan binh đuổi theo

sau, tôi dừng lại hét lớn: Ta là đệ tử có võ công cao cường nhất Thiếu Lâm, các

ngươi mà dám lại gần, ta sẽ giết, tưới máu lên bảo kiếm của ta!

Nói

đoạn, tôi định rút kiếm ra, song thanh kiếm này quá thô ráp, rút mãi mà không

sao rút ra được, cảm giác như thể đã han gỉ ở bên trong. Tuy nhiên bộ dạng tôi

cầm kiếm trực rút ra khiến mọi người kinh hãi. Quan binh đều bất ngờ dừng bước.

Tôi và

Hỷ Lạc sải bước đi lên, càng đi càng sốt ruột, dường như còn ngửi thấy cả mùi

máu lẩn trong không khí.

Tiến

lên phía trước, tôi và Hỷ Lạc bất giác sững người, cổng chùa đã không còn nữa,

bị nổ tung thành một cái hố lớn.

Chúng

tôi bước vào trong hố, bất chợt cảm thấy không thể thở được, bên trong toàn là

xác đệ tử Thiếu Lâm, ngót nghét ngàn người, trông chừng không còn ai sống sót.

Trong

lòng tôi trống rỗng, không còn ý nghĩ, tôi đánh rới kiếm xuống đất, lần tìm sư phụ

và phương trượng trong đống xác ngập ngộn, phương trượng thì có thể khẳng định

không ở trong đống xác này, có thể người đã bị bắt, bởi phương trượng ăn vận

sặc sỡ, có thể nhận ra ngay. Sư phụ và sư huynh của tôi thì rất khó tìm. Tôi

lần tìm từng xác một, tất cả tử thi đều nát bươm mặt mũi, có lẽ họ bị đánh độc

trước tiên, sau đó bị hủy xác, một số xác đã bắt đầu bị phân hủy, hơi lay động

cơ thể khóe mép liền chảy ra dịch máu màu đen.

Tôi hồi

tưởng lại, sư phụ là người nói huyền hoặc rất có trình độ, bằng không đã không

phải bậc thầy trong Thiếu Lâm. Bất kể đối xử với người khác thế nào, từ đầu chí

cuối người đều đối với tôi rất tốt, tất cả đều vì muốn tôi có thể trở nên vững

vàng hơn, nhanh nhẹn hơn, người thường chăm sóc tôi một cách đặc biệt, dường

như chưa từng coi tôi là người của Thiếu Lâm, tôi thậm chí có thể không cần

tụng kinh hàng ngày. Sư phụ nói trong lòng con đã không tin thì có làm cũng như

không làm. Điều đó khiến về sau có một số việc tôi không thích, tôi đã giả bộ

không tin. Song có một số việc chẳng liên quan gì đến chuyện tin hay không tin

cả, ví như việc quét sân. Sư phụ nói tôi là trường hợp đặc biệt, và còn nói,

lúc nào nguy nan, sức mạnh của tôi có thể bảo toàn được Thiếu Lâm, khi ấy thì

phải nhớ tới tình xưa nghĩa cũ. Một điều có thể khẳng định là, tôi không thể

tin Phật, có lẽ đó là truyền thuyết đã được thêm mắm thêm muối thôi. Thiếu Lâm

và Phật giáo, tuy không thể tách rời, song từ đầu chí cuối không phải cùng một

cái tên, mà là hai cách gọi, cho nên bất luận thế nào, tôi cũng là người trưởng

thành từ Thiếu Lâm. Từ nhỏ sư phụ đã dạy tôi nhiều đạo lý, khiến tôi cảm thấy,

đạo lý thực ra đều vô lý, bất kỳ câu nói nào cũng là đạo lý cả, nếu như bạn

muốn tìm đạo lý đến tận cùng. Tôi chỉ có thể hồi tưởng lại những điều trước đây

sư phụ từng nói, rất nhiều điều ngay bản thân ông cũng không nhớ rõ. Diện mạo

của ông luôn hiền hòa, dường như đối với những người muốn được coi là đức cao

vọng trọng trong Thiếu Lâm, yếu tô tiên quyết là phải có khuôn mặt hiền hòa,

nếu một người từ nhỏ mặt mũi trông đã dữ tợn, bất kể có sở hữu một trái tim

lương thiện đến thế nào đi nữa, cũng không để được làm trưởng lão khi họ gia

nhập Thiếu Lâm. Có lẽ vì nguyên nhân này cho nên những kẻ mặt mũi không hiền

lành đều gia nhập vào bang phái khác. Sở dĩ Thiếu Lâm trải dài qua nhiều triều

đại, có thể cũng do khuôn mặt đều quá hiền từ, thử hỏi có bao nhiêu người nhẫn

tâm đến mức có thể xuống tay với cả ông nội mình? Sư phụ tôi quả thực rất kỳ

lạ. Trong lòng tôi, ông nửa như một người ông nửa như một người cha. Thực sự

chẳng biết rốt cuộc là thế nào.

Còn sư

huynh Thích Không, dường như ngay từ nhỏ đã được đãi ngộ giống như tôi. Có lời

đồn rằng sư huynh tôi là thái tử, chỉ vì mẹ huynh ấy bị hoàng hậu bức hại cho

nên mới trộm đem huynh ấy ra ngoài nuôi dưỡng. Đợi sau khi trưởng thành thì đưa

trở lại, khi nào thời cơ chín muồi, huynh ấy có thể sẽ lên làm hoàng đế. Tôi

nghĩ, điều này khó có thể xảy ra, có lẽ chỉ vì muốn giải thích cho nguyên nhân

vì sao chúng tôi hơi đăc biệt nên sư phụ đã đơm đặt ra câu chuyện đó, để khiến

chúng đệ tử khâm phục mà thôi.

Tính

khí của sư huynh cũng rất kỳ quặc, tôi luôn cảm thấy huynh ấy chắc phải có năng

lực đặc biệt nào, nhưng sự thực là cho đến lúc tôi ra đi năng lực ấy vẫn chưa

được phát hiện ra. Trong khi đó sư huynh suốt ngày chuyên tâm vào công tác sáng

chế, song dường như ngoài chiếc móc câu ra thì không có thành quả nào khác. Tuy

nhiên từ đầu chí cuối huynh ấy vẫn say mê không biết mệt mỏi. Huynh ấy cũng là

một người để lại cho tôi ấn tượng rất lạ, bởi địa vị đặc biệt nên chúng tôi

luôn được chơi cùng nhau, nhưng tôi luôn cảm thấy sư huynh chỉ là một người bạn

chơi bời rất thân thiết mà không thể dốc bầu tâm sự được, điều này rất kỳ lạ,

đặc biệt là sau khi có sự xuất hiện của Hỷ Lạc.

Vậy mà

hôm nay, họ đã không còn trên đời này nữa. Tôi nghĩ, nếu là sư phụ, ông có thể

chẳng để bụng việc này, sẽ không có khác biệt gì quá lớn cả, chỉ là mãi mãi

không gặp lại nhau nữa mà thôi. Nhưng tôi đoán rằng ít nhất tôi sẽ phải đau

buồn một thời gian dài, đồng thời nghĩ rằng, may mà còn có Hỷ Lạc ở bên tôi.

Tôi lật

xem hơn nghìn cái xác, vẫn không tìm thấy sư phụ và sư huynh, tôi hy vọng họ bị

bắt đi. Nhưng hằng ngày họ đều mặc y phục như những người khác, hoàn toàn không

có cách nào phân biệt được khi đã bị trúng độc bất tỉnh. Vả lại lúc ở trong

chùa, mọi người đều không đeo thẻ bài pháp danh.

Bên

kia, Hỷ Lạc nức nở khóc, khóc xong đứng dậy lật xác rồi lại tiếp tục khóc.

Còn tôi

đã gần như tuyệt vọng, tôi chỉ sợ thực sự phát hiện ra xác của một trong hai

người, đó là cảm giác gần như suy sụp. Tôi nhận thấy bản thân mình không thể

nào tiếp tục tìm kiếm nữa, một là vì sắc trời đã tối hẳn, khuôn mặt họ hầu như

đã bị hủy hoại, hoàn toàn không thể nhận ra được ai là ai nữa, hai là vì tôi và

Hỷ Lạc đều không muốn ở lại đây, bởi khi bóng tối sậm dần, tôi cảm thấy xung

quanh bị bao bọc bởi nỗi oán hận chồng chất khiến không khí trở nên đậm đặc, cứ

cảm giác có rất nhiều thứ của dĩ vãng không muốn rời xa, vẫn chập chờn phảng

phất, hàng trăm đôi mắt đang đoái nhìn, trong các căn phòng khác nhau tựa hồ

vẫn có người làm các công việc như trước kia, có điều có thể họ thực hiện lần

cuối cùng mà thôi. Mặc dù họ đều tin Phật, song biến mất khỏi nhân gian một

cách không rõ ràng thế này, vẫn khiến người ta cảm thấy khó mà chấp nhận.

Tôi và

Hỷ Lạc dìu nhau xuống núi, Hỷ Lạc phá vỡ sự im lặng, nói: Muội sợ lắm.

Tôi

nói: Không có gì đâu, chẳng qua ở thế giới khác thôi.

Hỷ Lạc

nói: Muội cứ cảm giác có người luôn bám theo ta.

Bất

chợt, tôi cảm thấy rùng mình vì câu nói của Hỷ Lạc.

Tôi

nói: Không sao đâu, toàn là những người quen biết trước đây, đến tiễn chúng ta

thôi mà, có lẽ bảo chúng ta đi báo thù.

Hỷ Lạc

nói: Huynh chẳng phải vừa nói họ sang thế giới khác rồi sao?

Tôi

nói: Cần phải có một thời gian quá độ. Quãng hai hôm nữa làm lễ siêu độ là

xong.

Hỷ Lạc

nói: Ai tới siêu độ cho họ?

Tôi

nói: Cũng phải, có thể phải đợi một thời gian nữa, các chùa lớn khác sẽ cử

người tới tạm thời tiếp quản nơi này.

Hỷ Lạc

nói: Muội thấy trước mắt không thể có chuyện đó đâu, có lẽ họ đều sợ.

Tôi

hỏi: Sợ cái gì chứ?

Hỷ Lạc

nói: Sợ các bang phái khác.

Tôi

nói: Chắc không đâu, thù này nhất định phải trả, song không thể xông thẳng đến

chém giết người ta được. Phen này ít nhất nội trong một trăm năm nữa cũng không

thể thân thiện với nhau được.

Hỷ Lạc

nói: Còn các vị sư phụ...

Tôi

nói: Muội yên tâm, huynh nghĩ chắc họ vô sự, muội xem, phương trượng cũng vô sự

mà. Sư phụ xưa nay đều sớm biết mọi việc, bằng không người đã không tách chúng

ta ra, nếu sư phụ bình yên vô sự, thì sư huynh chắc cũng bình yên vô sự, muội

đã đếm kỹ chưa, hình như thiếu vài cái xác.

Hỷ Lạc

nói: Muội sợ huynh buồn, nên không dám nhắc tới. Vậy thì đừng nhắc tới nữa.

Tôi

nói: Được rồi. Giờ phải lập tức tới Trường An thôi. Huynh nghĩ ông lão đó chắc

nắm được không ít sự tình đâu.

Chúng

tôi và ngựa nhanh chóng tới Trục thành rồi tiếp tục tiến về phía trước. Trên

đường cái tới Trường An còn có một tiểu trấn, gọi là Quá Sa. Quá Sa là cột mốc

bão cát đi qua, phía Nam tiểu trấn rất ít bão cát, nhưng phía Bắc thì đích thị

đang chớm thành sa mạc. Quy mô của Quá Sa rất nhỏ, song ở đây lại có một tòa

tửu lâu nổi tiếng, làm ăn phát đạt, bởi lẽ các ngả đường từ hướng Tây và hướng

Nam tới Trường An đều phải qua nơi này. Tửu lâu nằm bên rìa đường cái, tôi và

Hỷ Lạc vốn dĩ không có ý dừng lại, song lại phát hiện ra bên trong tửu lâu đèn

đuốc sáng trưng, tiếng hò hét không ngớt, tạo nên sự tương phản rõ rệt với bầu

không khí căng thẳng suốt dọc đường, quan binh xuất hiện khắp nơi. Tôi tiến lại

gần xem, phát hiện thấy những nhân vật trong đó trông đều rất giang hồ, bất

giác cảm thấy hiếu kỳ, muốn đi lên xem rõ ngọn ngành. Tôi bố trí cho Hỷ Lạc và

con Lép đứng đợi ở yên một chỗ, rồi đi thẳng một mạch lên tửu lâu. Kết quả bị

tay chủ tửu lâu chặn lại, tôi hỏi: Có việc gì vậy?

Tên chủ

nói: Hôm nay thực sự xin lỗi quý khách, thật không may, các vị đại hiệp ở đầu

trên đã bao toàn bộ tửu lâu rồi ạ.

Tôi

nói: Vớ vẩn, ta tới đi vệ sinh, lẽ nào không lên đó được.

Tên chủ

vội xin lỗi, rồi để cho tôi vào.

Khi tôi

lên đến lầu trên, bọn chúng đều dừng lại, săm soi tôi. Tôi phát hiện thấy ở đây,

có cả thảy mười bốn tên, đều mang theo đao kiếm. Tên to nhất nói: Tiểu tử! Mấy

thằng ở lầu dưới không nói với ngươi bọn ta đã bao toàn bộ nơi này rồi sao?

Tôi

nói: Tôi biết rồi, biết rồi, tôi là bạn của chủ tửu lâu này, thường ngày thích

luyện võ, hôm nay vừa khéo tới thăm, ông bạn tôi nói, lầu trên có rất nhiều đại

hiệp, tôi liền lên để mở rộng tầm mắt.

Lời nói

của tôi khiến bọn họ cười rộ, đoạn nói: Hay! Hay! Ta thấy vóc dáng ngươi cũng

được, tuy luyện tập không được bằng bọn ta, song cũng có thể phòng thân, tráng

kiện.

Tôi

nói: Dạ vâng.

Một tên

khác nói: Ngươi đã luyện qua những môn cơ bản nào?

Tôi

nói: Tôi chưa luyện qua môn nào cả, mấy bữa trước tôi tới Thiếu Lâm, bọn họ

không nhận tôi, tư chất của tôi hơi kém. Tôi mới luyện tấn mã bộ, định luyện

xong thì lại tới Thiếu Lâm.

Lời nói

của tôi lại khiến chúng cười rộ, đoạn nói: Thiếu Lâm đều chết cả rồi, còn đi

Thiếu Lâm cái nỗi gì, sau này tập võ thì tới ba nơi Võ Đang, Kim Ngưu, Thiên

Ưng, nhập môn nhanh chóng, chứ không như Thiếu Lâm, lòe bịp người ta, có cái

tấn mã bộ mà bắt ngươi đứng cả ba năm.

Tôi

nói: Đúng, tôi muốn nhập môn cho nhanh. Nhưng sao Thiếu Lâm lại chết cả rồi?

Tên đó

đáp: Ha ha ha ha, bốn mươi anh em chúng ta đã san bằng Thiếu Lâm rồi.

Tôi

nói: Không thể nào như vậy được, Thiếu Lâm có rất nhiều đệ tử mới tập võ, nhưng

vẫn có không ít cao thủ, các vị đại hiệp tuy thoạt nhìn là biết thân thủ thuộc

hàng đệ nhất, song hơn bốn mươi người thì cũng vẫn là thế cô lực mỏng.

Tên đó

cười lớn nói: Bọn ta đều là những ai kia chứ, đều là các cao thủ trong số các

cao thủ được các phái tuyển chọn ra, vả lại những món đao kiếm bọn ta dùng đều

do vị sư phụ được gọi là “Đại mặc đệ nhất quái, thiên hạ binh khí vô song” làm

ra, chúng đều sắc bén, tiện tay, ngươi chưa bao giờ nhìn thấy đâu.

Tôi

nói: Vậy sao lại nói Thiếu Lâm chết cả rồi, họ chịu thua sao?

Tên đó

nói: Chịu thua đâu có xong, luật lệ giang hồ, chỉ khi nào chết mới thôi, mấy

ngàn người bọn họ đều bị bốn mươi người chúng ta giết rồi, về sau sẽ không còn

cái tên Thiếu Lâm thiên hạ đệ nhất tự nữa đâu. Còn võ công của bọn họ rốt cuộc

thế nào, qua đó là đủ biết. Ngươi muốn học võ thì tới Võ Đang đi!

Tôi

nói: Hả? Chết cả rồi sao? Họ nào có khiêu khích ai đâu?

Tên đó

có vẻ hơi khó chịu, liền nói: Ân oán giang hồ, đâu có thể chỉ dùng một từ khiêu

khích mà nói rõ cho được. Thiếu Lâm hiển nhiên thua trận, vậy mà còn bao vây là

chết đại chưởng môn của chúng ta, rõ ràng không coi luật lệ giang hồ ra gì, cần

phải được răn dạy. Vả lại, câu chuyện cũng không đơn giản là có nên hay không

nên. Ngươi còn trẻ, không hiểu được đâu.

Tôi

nói: À, vâng, đúng rồi.

Tên đó

tươi cười trở lại nói: Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt. Lại đây, ngươi xem xem,

đao kiếm bọn ta dùng, có so được với côn của Thiếu Lâm không? Lúc đánh nhau,

chúng toàn dùng mấy cái côn nát, lại còn nói là làm bằng cái cây gỉ gỉ gì gì,

bọn ta dùng loại kiếm này, cảm giác như chém mía.

Những

kẻ xung quanh thi nhau cười rộ, nói: Đúng thế, cái bọn ấy, những tên có chút

thể lực thì đều dùng mấy cái côn trông như cây mía, lại còn bày ra thế trận nọ

kia, kết cục ra sao, ngươi cứ xem kiếm của bọn ta.

Nói

đoạn liền rút kiếm cho tôi xem.

Tôi

nói: Tôi đây cũng có một thanh kiếm, nghe nói chất liệu cũng khá.

Tên đó

nói: Thứ của ngươi, cùng lắm là đồ cao cấp, còn của bọn ta là hàng tuyệt phẩm

trong thiên hạ. Không tin ngươi cứ đem cái của ngươi ra xem.

Tôi rút

kiếm ra, bất chợt phát hiện, thanh kiếm đã sắc bén lên nhiều, xem ra khi ở

trong chùa, thanh kiếm đã dính phải không ít mùi máu.

Tên đó

đứng từ xa nhìn lại, nói: Xem kìa, nom bề ngoài thì kiếm của ngươi cũng không

tồi, song chất liệu chắc chắn hoàn toàn khác biệt.

Tôi

nói: Ngộ ngỡ kiếm của chúng ta đều na ná như nhau thì sao, thanh của tôi cũng

do một vị lão sư phụ rèn kiếm lâu năm làm ra.

Tên đó

nói: Vị sư phụ của ngươi khác với vị sư phụ của chúng ta. Không tin, nếu ngươi

không xót thì cứ thử xem, ngươi đặt ngang thanh kiếm của ngươi ra, cầm chắc

lấy, đúng rồi, đặt như thế. Anh bạn! Đừng đòi tiền bồi thường đấy nhé!

Nói

đoạn, hắn vung kiếm chém xuống. Chỉ nghe thấy keng một tiếng, nửa thanh kiếm

văng xuống đất.

Tên đó

còn chưa thèm nhìn đã cười rộ, nói: Ha ha, ta bảo rồi mà, thanh kiếm của ngươi

không ổn đâu, làm thanh khác đi!

Tôi

nói: Vị đại hiệp này, không biết cầm dao găm làm gì vậy hả?

Tên đó

nhìn lại thanh kiếm trong tay mình, sắc mặt bợt bạt, nói: Hả, vị sư phụ của

ngươi, là sư phụ nào vậy, bao tiền một thanh? Nói mau!

Tôi lùi

lại hai bước, cầm kiếm lên lia một nhát, đoạn nói: Không cần tiền, chỉ cần

mạng!

Tên đó

hấp tấp vung con dao găm lên, nói: Ngươi có ý gì?

Nói

đoạn, đầu hắn rơi xuống đất. Tôi cũng giật cả mình, bản ý của tôi vốn chỉ định

lia rách cổ họng của hắn, ai ngờ hắn rơi cả đầu xuống.

Bất

chợt tửu lâu đại loạn.

Ba tên

đằng trước dẫn đầu lao vào tôi, ba tên đó rõ ràng quá nóng vội, ngay cả kiếm

còn chưa kịp rút đã ra tay không lao lên rồi, tôi lùi lại một bước, không muốn

máu dính vào quần áo mình, kiếm vừa vung lên, tức khắc ba tên đổ rầm xuống đất.

Mấy

chục tên còn lại ổn định trận thế, vây chặt lấy tôi, có một tên run rẩy hỏi Ngươi dám giết đại ca Hùng Phong của Võ Đang, ngươi không muốn luyện võ cùng

chúng ta nữa sao?

Lời nói

chưa dứt, tên đó đã hộc máu ngã xuống đất, một tên đại hán eo gấu lưng hùm đã

dùng kiếm đâm chết hắn, miệng nói: Thằng ngu, giữ mày lại thật là mất mặt. Để

ta báo thù cho Hùng Phong đại ca!

Hắn lăm

lăm tay kiếm xông thẳng tới, tôi tránh được mũi kiếm, dùng cùi chỏ nện mạnh vào

bụng hắn, nhưng cuối cùng tôi lại bị ngã bật xuống đất. Tôi cảm giác tên đó

cũng đau nghiến răng nghiến lợi, song hắn quát lên một tiếng: Đồng nhân công!

Tôi còn chưa kịp đứng dậy, hắn đã bổ kiếm xuống. Tôi nghĩ, thôi lại giơ kiếm đỡ

vậy, thế là vung kiếm lên đỡ, dĩ nhiên, tên đó cũng thành ra cầm dao găm, hắn

bổ xuống tôi đợt thứ ba, không rõ miệng hắn lẩm bẩm cái gì, tự nhiên thanh kiếm

của tôi lại quệt ngang cổ họng khiến hắn bất cẩn rơi đầu xuống đất, máu phun

ướt sàn, tay vẫn huơ huơ mấy nhát. Tôi nghĩ bụng, đây có lẽ là lần giết người

đền mạng nhanh nhất trong triều đại này.

Những

tên còn lại hơi sững người một chút, đoạn một tên trong đó hét lớn: Xông cả

lên! Dứt lời hàng chục tên cùng xông lên một lúc. Tôi nhận ra, có một thanh

kiếm tốt thật dễ dàng, tôi chỉ cần né tránh những đường kiếm pháp chậm chạp của

bọn chúng, sau đó lia một đường kiếm là chết cả một lũ, vả lại thanh kiếm càng

dùng càng tiện lợi, nó nhanh nhạy hơn lúc mới bắt đầu dùng rất nhiều, cách

người một mét đã có thể sát thương, trên đời này quả thực tồn tại một thứ gọi

là kiếm khí. Tôi cơ hồ biến tất cả các thanh kiếm trong tay bọn chúng thành dao

găm, đó đều là tác phẩm của vị lão tiền bối, nếu đổi thành những thanh kiếm

thông thường, e rằng ngay cả cảm giác hơi rung nhẹ ở nơi tay tôi cũng không có.

Bản thân tôi cũng không ngờ lại dễ dàng đến vậy, trong có mấy phút, hơn bốn chục

người đều chết sạch. Tôi không hề tốn sức, mà bọn chúng cũng hoàn toàn không

thể tiếp cận được tôi.

Sau

cùng tôi huơ kiếm tra vào vỏ, kết cuộc lại thấy một chuỗi những âm thanh rạn

nứt và vài làn khói mỏng, mấy cây cột gỗ ở lầu trên đều bị gẫy. Tôi bất giác

cảm thán, đây quả thực là thanh kiếm sắc. Nếu nó dính máu nhiều hơn, giết thêm

vài người, không biết sẽ còn thế nào nữa. Song tôi lập tức vứt bỏ ý nghĩa đó,

ngẫm mà xem, ông lão đó đúng thật là tà mị, không bán cho bọn người xấu, nhưng

lại bán cho một số bang phái ngày thường có tác phong bất chính, những thanh

kiếm làm ra được dùng để cổ vũ người ta không ngừng chém giết nhau, sau đó

không ngừng muốn biết xem rốt cuộc độ sắc bén của kiếm đến mức nào. Đó là loại

người gì vậy.

Bước ra

khỏi cửa tửu lâu, tên chủ nấp dưới lầu quầy thò ra hỏi: Đại hiệp! Ngài vừa làm

gì đấy ạ?

Tôi

nói: À, ngươi lên trên đó thu dọn dùm ta một chút, ta giết hơn bốn chục tên ấy

mà.

Tôi nói

vừa dứt lời, tên chủ ngất lăn ra trên mặt đất.

Tôi

chạy mấy bước ra đường cái, tìm khắp nơi không thấy Hỷ Lạc, bắt đầu nóng ruột,

đột nhiên từ sau lưng vẳng đến một giọng cười âm hiểm. Tôi quay người lại nhìn,

thấy một tên chột mắt đang cầm kiếm tì vào cổ họng của Hỷ Lạc. Hắn nói: Mau

buông kiếm xuống.

Tôi đột

nhiên nhớ tới một công năng của vỏ kiếm mà ông lão từng nói, liền chĩa kiếm

lên.

Hỷ Lạc

nói: Đừng buông kiếm xuống, hắn có súng đấy.

Tôi

hỏi: Súng gì?

Hỷ Lạc

nói: Đang tì trên người muội đây này, hắn giấu sau lưng.

Tôi

nói: Muội cảm giác đúng không thế, đừng có nhầm nhé!

Tên đó

cười lớn, nói: Đúng rồi đấy, là súng của Tây dương. Nói đoạn liền rút súng ra,

tì súng vào đầu Hỷ Lạc, nói: Mau bỏ kiếm xuống, bằng không súng cướp cò thì

đừng có trách ta.

Trong

đầu tôi hoàn toàn không có khái niệm gì về cướp cò. Tôi cứ dựng kiếm lên, chĩa

thẳng vào tên đó, đoạn nói: Ta buông kiếm đây, ngươi trông cho rõ. Tên đó từ

phía sau Hỷ Lạc hơi thò đầu ra nhìn, tôi cảm thấy thời cơ chín muồi, liền ấn

bông hoa sen khắc trên vỏ kiếm, chợt một ám khí tinh xảo phóng vọt ra, khiến

tôi hết sức kinh ngạc, bởi ông lão từng nói với tôi không thể trông thấy nó,

tôi cũng tin lời ông lão nói, song tôi quả thực đã nhìn thấy, nó ở ngay trước

mắt tôi, lẽ nào tôi cũng giống như thanh kiếm này, càng trông thấy máu lại càng

lợi hại hơn trước?

Tôi có

đôi chút hoảng hốt, nhìn lại lần nữa rồi giật bắn mình, do đã lâu không sử dụng

ám khí nên tôi đã bắn chệch chiếc kim khiến nó dương như đang phóng về phía Hỷ

Lạc. Thế rồi như một phản xạ, tôi đưa tay gẩy nhẹ chiếc kim, sau khi cảm thấy

phương hướng đã đúng, tôi chớp mắt, chỉ thấy thời gian như ngừng trôi, tên kia

một lúc lâu không có phản ứng gì, sau đó đổ đánh rầm xuống mặt đất. Hỷ Lạc quay

người lại đá cho hắn một cước, nói: Ai bảo ngươi động vào ta!

Tôi

tiến lại gần xác hắn, lật lên xem kỹ, không sao phát hiện ra được vị trí vết

thương do cây kim gây ra trên đầu hắn.

Hỷ Lạc

hỏi tôi: Huynh vừa làm gì vậy?

Tôi

nói: Lát nữa lên đường huynh sẽ nói.

Nói

đoạn, tôi cẩn thận, chầm chậm, từ từ rút kiếm, sợ gây thương tích cho Hỷ Lạc.

Sau đó tôi đâm một nhát kiếm xuống. Hỷ Lạc ngờ vực hỏi tôi: Huynh làm gì vậy?

Tôi

nói: Hắn động vào muội, nên huynh báo thù!

Thực ra

mục đích chính của tôi là, khiến kiếm nhạy bén hơn chút nữa. Tôi cảm thấy, tôi

có chút giống Vô Linh trước đây, tức Dương Chính Cương. Có một số việc, luôn

khiến bạn không thể thoát ra được. Bất kể bản tính của bạn thế nào, huống hồ,

bạn làm sao biết được bản tính của bạn có như bạn nghĩ hay không.

Đang

trông dòng suy nghĩ, bất chợt tất cả trụ gỗ trong tòa tửu lâu hai tầng đồ sộ

đều nhất loạt đứt gẫy, giữa màn khói bụi, tòa lầu hai tầng đã biến thành một

tầng.

Chúng

tôi tới Trường An trong bộ dạng phong trần. Hỷ Lạc rất thích thú với việc tôi

đã nhẫn tâm thế nào khi giết hơn bốn chục tên, muội ấy cảm thấy tôi không phải

là người có thể giết nhiều người như thế trong một lúc, cùng lắm chỉ lỡ tay

g**t ch*t một tên mà thôi. Bản thân tôi cũng không có quá nhiều cảm giác về

việc này, chỉ cảm thấy những người đó thực sự có tội thì phải gánh chịu.

Hỷ Lạc

hỏi tôi: Huynh giết một lúc nhiều người như thế, huynh có sợ không?

Tôi

nói: Không, rất kỳ lạ, song muội cũng biết, chúng đã giết nhiều người Thiếu Lâm

như thế, giờ coi như huynh đã báo thù xong. Sư phụ nói rồi, khi có tai nạn gì,

hy vọng huynh có thể tương trợ, huynh không biết việc này, nhưng ít nhất sau

khi xảy ra sự việc huynh đã giết hết bọn chúng.

Hỷ Lạc nói Nhưng huynh đã nghĩ kỹ chưa, bốn mươi tên vặt vãnh này, huynh giết sạch mà

không đổ lấy một giọt mồ hôi, vậy Thiếu Lâm liệu rốt cuộc có phải do chúng giết

không?

Tôi

nói: Bọn chúng nói là do bọn chúng giết, có thể võ nghệ của chúng quả thực cao

cường, nhưng thanh kiếm này thực sự rất lợi hại. Muội xem...

Phía

trước tôi mấy bước có một cây đại thụ, tôi bảo Hỷ Lạc đứng ra sau lưng tôi, rồi

đối diện với thân cây, rút mạnh kiếm ra, sau đó dừng động tác lại một giây, để

kiếm khí lia trọn thân cây, sau đó thu trọn kiếm về.

Hỷ Lạc

nói: Thế là xong á?

Tôi

nói: Đúng. Cây này đã bị đứt.

Tôi và

Hỷ Lạc ngây người nhìn cái cây một hồi lâu. Đáng lý ra, với vế chém ngọt xớt,

cái cây đó phải đổ rầm xuống đất rồi mới phải, nhưng từ đầu chí cuối nó vẫn

không suy suyển gì. Tôi nói: Kiếm khí quá dữ, chắc chắn phải một lúc lâu nữa nó

mới phản ứng lại.

Tuy nói

như vậy, song tôi vẫn tiến lên đẩy cái cây, một cách rất tự nhiên, sau đó nhìn

kỹ lại thì phát hiện ra trên thân cây không có một vế xước nào.

Hỷ Lạc

cười ngặt nghẽo, rồi nói: Huynh giết người hoa cả mắt rồi nhỉ.

Tôi

nói: Không thể như vậy được.

Hỷ Lạc

nói: Kiếm khí thì muội nghe nói rồi, nhưng chưa từng nhìn thấy, cũng giống như

môn khinh công, huynh cũng nghe nói rồi, nhưng từ trước tới giờ đã bao giờ thể

hiện đâu. Đúng không nào?

Tôi

nói: Muội chớ có trêu chọc huynh, huynh đến Trường An sẽ hỏi han ông lão. Muội

chưa từng nhìn thấy nên không biết, sự thực nó lợi hại như vậy đấy.

Hỷ Lạc

nói: Huynh hơi thay đổi rồi đấy, giống như những kẻ trên giang hồ. Muội thì vẫn

là người tốt.

Tôi

nói: Cũng đều là người nọ giết người kia. Phân biệt gì tốt xấu.

Hỷ Lạc

nói: Huynh trở nên giống sư phụ.

Tôi

nói: Không nói mấy việc này nữa, con người ta xảy ra từng chuyện lại thay đổi

từng chút thôi.

Đến

Trường An, trông thấy tòa thành đồ sộ, tôi nghĩ, thôi rồi, lại là nơi này. Thực

ra nơi đây cũng không khác trong chùa là mấy, chẳng qua là phải đi lòng vòng ở

một nơi khá lớn mà thôi.

Tuy

nhiên bầu không khí ở Trường An dường như đã thay đổi rất nhiều, có lẽ gần đây

đã có không ít việc chém giết xảy ra, hoặc cũng có thể nói những việc như vậy

đã nhiều lần xảy ra với mình, cho nên cảm thấy ai nấy đều trong tư thế sẵn sàng

chiến đấu.

Quan

binh rõ ràng đã đông hơn, việc vào thành được tra xét nghiêm ngặt. Từ ngoại ô

tôi đã quen mang theo đao kiếm, khi vào thành quên cất đi, cứ thế mà đi vào.

Tôi nghĩ, có lẽ đây chính là khí chất vương giả mà sư phụ đã từng nói, thành

Trường An được canh giữ thâm nghiêm, tôi giắt theo một thanh kiếm đủ dài, cứ

thế đi lại mà vẫn có thể đi vào. Đang cảm thấy may mắn, tôi phát hiện ra sau

khi vào thành có một con đường được quây lại bởi các bao cát, ở đó lại có một

trạm kiểm soát. Lần này thì không còn may mắn như vậy nữa, chúng tôi lập tức bị

bắt lại.

Tôi cầm

thẻ bài pháp danh ra nói: Các ngươi tự xem xem, chắc hẳn các ngươi cũng biết,

mấy ngày trước Thiếu Lâm đã xảy ra việc lớn, nay ta đến triều đình đề bàn bạc,

ngươi xem, ta không những không tháo kiếm, mà còn để tóc, còn mang theo một cô

nương, đẳng cấp của ta chắc các ngươi cũng biết. Mau để ta vào thành, ai cản

trở việc của ta, kẻ đó sẽ bị hỏi tội.

Quan

binh bàn bạc một lúc rồi thả cho tôi vào thành. Phía sau có mấy kẻ bám đuôi, rõ

ràng là bọn nhân sĩ giang hồ, thấy tôi cầm kiếm đi thẳng vào trong, chúng cũng

lập tức moi các loại bảo kiếm vừa cất giấu của mình đeo lên người. Tôi nghĩ,

những kẻ được gọi là nhân sĩ giang hồ vì sao luôn muốn thể hiện cho một số bá

tánh biết rằng ta đây là nhân sĩ giang hồ, vả lại vì sao nhất định phải dựa vào

một đoạn sắt để thể hiện? Sau đó bọn họ đều bị phạt tù năm năm.

Vào

trong thành Trường An, lượng người trên đường rõ ràng đã ít đi nhiều so với

trước đây. Tôi và Hỷ Lạc lập tức lạc đường. Chúng tôi dọc đường hỏi han, cuối

cùng cũng tìm đến được chỗ ấy. Tôi sợ ông lão không còn ở đó nữa, vội xông vào

trong nhà. Ông lão đang lau những cây kiếm do mình chế tác, nói, sao vậy, thanh

kiếm dùng tốt chứ?

Tôi

đáp: Dùng tốt ạ. Mấy hôm không gặp, tiên sinh vẫn mạnh giỏi chứ?

Ông lão

nói: Ngươi không trách ta bán kiếm cho bọn người đó chứ?

Tôi

nói: Tại hạ nghĩ kỹ rồi, đây không phải là vấn đề đao kiếm, mấy chục tên bọn chúng

nếu không phải hạ độc trước thì chắc chắn không thể nào giết hết được Thiếu

Lâm.

Ông lão

nói: Đúng vậy, xem ra ngươi cũng chưa ngốc.

Hỷ Lạc

nói: Dọc đường huynh ấy cứ nói, kiếm của lão tiên sinh dùng rất tốt.

Ông lão

nói: Tiểu tử, tất cả huynh đệ ở nơi ngươi sinh ra và lớn lên đều bị giết hết cả

rồi, ngươi không đau buồn, không căm phẫn sao? Nói thật đi!

Tôi suy

nghĩ kỹ, dọc đường sự lợi hại của thanh kiếm dường như át đi việc Thiếu Lâm bị

hủy diệt, tôi đúng là một tên lòng lang dạ sói, không có lương tâm. Song tôi

không thể nói như vậy được, đành nghiến răng đáp: Bi phẫn lắm chứ!

Ông lão

nói: Ngươi đưa thanh kiếm cho ta, xem ra ngươi cũng đã sử dụng công năng bí mật

của thanh kiếm này rồi.

Tôi

đáp: Vâng, đúng vậy.

Ông lão

nói: Có chỗ nào chưa hiểu rõ không?

Tôi

nói: Có.

Ông lão

nói: Cứ hỏi!

Tôi

nói: Thanh kiếm này hễ rút ra là có thể sát thương người khác, song tại hạ

không hiểu, vi sao khi đứng ở chỗ đất trống, đại loại muốn thử dùng kiếm chém

cây, thanh kiếm lại không sắc bén?

Ông lão

nói: Vì lúc đó ngươi không có sát khí. Ngươi không nhất định phải giết cái cây

đó chứ. Ngươi có sát khí thì kiếm mới có sát khí, tính cách của ngươi và Dương

Chính Cương giống nhau, tuy đều là những người được đồn thổi, song đều không

tinh tế. Ngươi nghĩ xem, nếu ngươi tùy tiện rút kiếm ra, rồi phát hiện ra cô

nương này đã bị ngươi g**t ch*t, chẳng phải ngươi sẽ rất hận ta sao?

Hỷ Lạc

nhìn tôi, làm bộ nhăn mặt thè lưỡi.

Tôi

nói: Những lời lão tiên sinh nói rất phải.

Ông lão

nói: Thanh kiếm cứ để ở chỗ ta tối nay, ta giúp ngươi lắp lại ám khí.

Tôi

nói: Lần này thực sự rất đáng tiếc, cửa tiệm cầm đồ đó cũng bị cướp sạch, Linh

không còn nữa. Tại hạ nghĩ, nếu có cơ hội, tại hạ nhất định sẽ tìm lại.

Ông lão

nói: thôi, không cần đâu, đoạn sắt vụn ấy à, hà tất bận lòng. Kỹ thuật tiến bộ

rồi, ngươi xem, thanh kiếm đó năm xưa đã có thể coi là lợi hại, thế nhưng loại

kiếm mà đám người kia tới mua, thanh nào cũng tốt hơn thanh kiếm đó. Còn thanh

kiếm cầm trong tay ngươi là thanh kiếm lợi hại nhất, trong mười năm tới không

hề lạc hậu. Khi ta chết đi, nội trong một trăm năm thanh kiếm này vẫn là thanh

lợi hại nhất, có điều không còn cái công năng nho nhỏ kia nữa mà thôi. Chớ có

coi thường đấy, trong thời khắc quan trọng, ngươi sẽ biết ngay.

Tôi

nói: Tại hạ đã thử dùng rồi mà.

Ông lão

nói: Sắp giống như những gì người ta nghĩ rồi đấy.

Tôi

hỏi: Nghĩ thế nào ạ?

Ông lão

nói: Lát nữa ngươi ra đường, tận mắt nhìn là biết ngay. Trên đường Trường An

không được mang theo binh khí, ngươi cứ cầm bừa một thứ vũ khí nho nhỏ của ta ở

đây đi!

Hỷ Lạc

đột nhiên nhớ ra việc gì đó, liền nói: À, tiền bối, lộ phí lần trước tiền bối

cho, sau khi về tiểu nữ mới phát hiện ra số tiền đó rất nhiều, sau này chúng

tại hạ nhất định sẽ hoàn lại cho người!

Ông lão

cười nói: Hoàn cái gì chứ, đống kiếm kia, ta bán được hơn trăm ngàn lạng vàng,

song giờ tính ra chắc không bán được với giá cao đó nữa.

Tôi

hỏi: Vì sao ạ?

Ông lão

nói: Bởi thanh kiếm ngươi dùng đã chặt đứt hết các thanh kiếm của bọn họ, mà họ

thì không biết rằng thanh kiếm của ngươi cũng do ta làm ra.

Tôi

nói: Tại hạ không mang theo binh khí gì nữa đâu. Ở đây không phải nơi hoang vu

gì.

Tôi và

Hỷ Lạc đẩy cửa, bước ra ngoài đường, xung quanh vắng ngắt. Đúng lúc quá trưa,

cơn buồn ngủ nặng trĩu. Chúng tôi đi lăng quăng mấy nơi, phát hiện thấy rất

nhiều người sắc mặt hối hả. Hỷ Lạc nói: Chắc không xảy ra chuyện gì tày trời

chứ?

Tôi

nói: Chắc không đâu.

Chúng

tôi đi qua một con phố, bước tới một trà lâu, nhận thấy trong đó có rất nhiều

người tụ tập, vậy là liền bước vào. Ở một bàn nọ, có người đàn ông trung niên

đang mô tả hết sức sinh động về tình hình bên ngoài “Ngoài

kia loạn thật, đại ca tôi phụ trách việc quảng bá hình ảnh chùa Thiếu Lâm, đem

người tới đó nghiên cứu xem nên làm thế nào, tôi cũng cùng đi luôn, thế nhưng

đến đó gõ cửa mãi mà không thấy động tĩnh gì, ngẫm thấy có điều bất thường, đại

ca tôi từng học võ công, biết khinh công, huynh ấy liền đạp hai chân xuống đất,

bay thẳng lên không trung, có điều các vị không biết tường ở chùa Thiếu Lâm cao

thế nào đâu, đại ca tôi lặng người vì không tài nào bay lên được, sau đó phải

dùng một chiêu gọi là Thiên hạ đệ nhất chưởng, đánh một phát bật cửa ra, thoạt

nhìn thì thôi, chết rồi, chết cả rồi, không còn một ai cả.”

Hỷ Lạc

nói: Không phải cửa bị phá nổ à?

Tôi nói Thế mà muội cũng tin, hồi nhỏ chúng ta từng nhảy từ trên tường xuống đấy nhé.

Mọi

người nghe đến đoạn Thiếu Lâm chết hết không còn một ai, bất giác thì thầm to

nhỏ: Tôi thấy, cuộc tỉ thí võ mấy tháng trước chính là cái họa diệt môn.

Người

khác lại nói: Tôi thấy chắc chắn là có nội gián, nhân lúc nửa đêm mọi người ngủ

say, đã ra tay giết từng người một.

Người

ngồi bên cạnh lập tức phản đối: Khôn thể nào, giết từng người một thì phải giết

đến bao giờ đây, ngươi đến Thiếu Lâm bao giờ chưa, có giết đến khi trời sáng

cũng không hết.

Mọi

người đều thấy có lý, bèn phụ họa vào nói: Không thể giết từng người một được

thật, vậy theo ngươi thì làm thế nào nhỉ?

Người

phản đối nói: Chắc chắn mỗi tay một kiếm, giết hai người một.

Xung

quanh lại xì xào: Giết hai người một cũng chưa chắc đã có thể giết hết trước

khi trời sáng.

người nói: Nói vô lý, giết hai người một làm sao có thể không đánh thức người

ta dậy được, họ có trúng độc đâu.

Mọi

người lập tức bàn tán: Ngộ nhỡ trúng độc trước, bị mê man cả thì sao.

Cả đám

xì xào. Một ông lão chậm rãi nói: Cũng chưa chắc, Thiếu Lâm có một nơi chuyên

nghiên cứu độc dược và phương thuốc giải độc, cho dù trong cơm có độc cũng chưa

chắc tất cả mọi người đã đều ăn phải.

người nói: Vậy chắc hẳn do ăn chay trường nên không có dinh dưỡng rồi.

Người

ngồi bên cạnh lập tức phản pháo: Vớ vẩn, ông lão Vương Hãn Tam ở đầu phía Tây

làng tôi, nhà nghèo khó, ngày nào cũng nhổ rau dại cỏ dại ăn, thế mà càng ăn

càng vạm vỡ, ấy mà càng ngày càng khỏe, chạy còn nhanh hơn thỏ ấy.

Mọi

người nói ầm lên: Bốc phét, chạy nhanh hơn cả thỏ à, vậy ông lão đó sao không

bắt thỏ mà ăn.

Người

đó nói: Đã kể thì phải kể lại nạn đói cách đây tám năm, ông lão đã trải qua

được mà không bị chết đói, nhưng sau đó lại mắc căn bệnh kỳ lạ, co rút gân cốt,

đầu cứ gật gù, mạng thì giữ được, song lưng khó vận động, không tài nào khom

xuống, vậy nên ông lão chạy thì rất nhanh, nhưng không thể khom lưng bắt thỏ

được, đành chịu kiếp ăn chay.

Mọi

người nói: Cũng khổ cho ông già, ngày ngày chạy đua với thỏ, nhưng không ăn

được chứ lại.

Người

đó nói: Đúng vậy đấy, năm nay thỏ hoang nhiều rõ rệt, như dịch châu chấu, nhảy

khắp nơi, bắt được đem vào thành bán, thế mà chẳng ai thèm mua.

Mọi

người nói: Sao lại không ai mua, đằng phía Nam có quán thịt rừng, chuyên thu

mua các loài thú hoang dã, dù gì thì một con thỏ cũng đáng giá hơn một quả dưa

chứ.

người không đồng ý, nói: Chưa chắc, cái năm đại nạn ấy, có cho phép ra phố bán

dưa đâu, dưa đều thối cả, đám trồng dưa xót ruột xót gan, ông đoán xem đám

trồng dưa sau đó làm thế nào?

Mọi

người đều hỏi: Làm thế nào nhỉ?

Người

đó nói: Năm đó dưa đều nát cả, đám trồng dưa đau lòng, năm sau phần lớn người

trồng dưa không trồng dưa nữa, kết cuộc người trong thành cả năm không được ăn

dưa, một năm sau, họ đều rất thèm ăn dưa, dưa lại ít, nên bán đặc biệt chạy,

lúc đắt giá thì một con gà bằng giá một quả dưa.

Mọi

người đều gật đầu nói: Đúng rồi, đúng là có một năm như thế, sau đó mọi người

đều tự trồng dưa cả, chẳng có ai nuôi gà, năm sau một con gà lại đổi được cả

trăm quả dưa.

Ai nấy

nghe xong đều xiết than: Chuyện đời đúng là thay đổi xoành xoạch, nhưng thỏ

hoang và dưa, rốt cuộc thứ nào đáng giá hơn nhỉ?

Một tên

nhảy ra nói: Tôi từng ăn thịt thỏ hoang rồi, thịt có mùi chua mà hơi dại, không

ngon đâu.

Lại một

tên khác nhảy ra nói: Nói láo nào, chắc ngươi ăn phải thịt thỏ già, ngươi ăn

thịt thỏ non chưa?

Người

kể câu chuyện bắt đầu khó chịu, quát lớn: Các ngươi có muốn nghe tiếp chuyện

không hả, sau đó một vị đại hiệp xuất hiện, trong nháy mắt giết sạch những kẻ

đã sát hại Thiếu Lâm. Có muốn nghe không?

Hỷ Lạc

nói lớn: Có chứ, có chứ!

Người

đó tiếp tục kể: Sau đó, tới Quá Sa, nghe nói có sự việc này, rất là lợi hại

nhé, vốn dĩ, những kẻ sát hại Thiếu Lâm đều là cao thủ được các bang phái thù

địch Thiếu Lâm phái đi, trong đó có Đại mặc đệ nhất thoái Trương Phú Hùng, Võ

Đang ám khí đệ nhất Ngưu Tam Oa, Kim Ngưu đệ nhất lực sĩ Đàm Tráng Tráng và rất

nhiều cao thủ khác, đếm không xuể, họ uống rượu nói phét trong tửu lâu, thế rồi

một thiếu niên mang theo một thanh kiếm bước tới, người đó là ai chứ, chính là

thánh thần vậy. Đám người kia tiêu diệt Thiếu Lâm đã đánh động tới Phật tổ,

Phật tổ liền phái kẻ đốt đèn bên mình xuống, đúng là thần binh giáng phàm. Đám

người kia uống rượu ở tầng hai, người đó không phải từ tầng một lên, mà trực

tiếp từ trên trời giáng lâm xuống nóc tầng hai, sau đó khoét một lỗ lớn nhảy

xuống.

Đám

người rào rào bàn tán.

Người

đó nói: Dĩ nhiên bốn mươi người đó không hề biết, nói là đánh, nhưng người kia

còn chưa động thủ, bốn mươi người đã chết cả.

Mọi

người không tin, nói: Nói vớ vẩn, không động thủ thì làm sao giết được ai.

Người

đó nói: Đồ ngốc, không động thủ thì động kiếm, ta chẳng kể là người đó mang

theo một thanh kiếm còn gì? Thanh kiếm đó ở trên trời được dùng để đẽo gọt núi,

ngươi xem ngọn Thái Hàng, chính là được gọt từ thanh kiếm đó đấy.

Mọi

người nói: Thế thì bốn mươi người kia làm sao đỡ được.

Người

đó nói: Đúng thế, thanh kiếm đó gọt kim cương như gọt dưa vậy.

Mọi

người đều kinh ngạc thốt lên: Gọt dưa! Gọt dưa thì quá dễ ấy chứ.

Người

đó nói tiếp: Đúng thế, y như gọt dưa vậy, tôi không gạt các vị đâu, tôi tận mắt

nhìn thấy vết đứt trên thân cột.

người nói chen: Kim c**ng c*ng khủng khiếp, có làm thế nào cũng không tách ra

được, dưa thì quá dễ gọt rồi.

Lại có

người phản đối nói: Nói vớ vẩn, dưa phân làm nhiều loại, loại dưa ở làng tôi

trồng không dễ gọt vậy đâu, loại dưa này vỏ cứng ruột ngọt, là loại đặc biệt,

được cống lên đức thánh thượng đấy.

Người bên

cạnh nói: Đúng là thanh kiếm trên trời.

Người

làng dưa lại nói: Loại dưa đó mọi người đều bảo là dưa trời, mười tám năm

trước, trên trời có vị thần tiên khi ăn dưa đã vô ý nhổ hạt xuống trần gian,

hạt dưa đó rơi đúng xuống ruộng của ông lão Hồ Bá Tôn ở làng tôi, thế là nảy

lên loại dưa này, nó khác với loại dưa các vị đã thấy, toàn là đồ trên trời cả,

chắc không cắt gọt được.

người phản đối, nói: Nói vớ vẩn, con người đều là đồ trên mặt đất, vẫn chém

giết nhau được đấy thôi.

Người

làng dưa nói: Thôi đừng nói nữa, loại dưa đó ưa tĩnh, phải lớn dần dần, năm nay

chẳng biết tại sao, thỏ hoang nhiều vô kể, cứ rúc vào mấy bụi dưa, khiến dưa

không lớn được.

người nói: Loại dưa đó không lớn được chắc không bán được giá đâu.

Một cụ

già vuốt râu nói: Vậy thì ngươi không biết đó thôi, hàng hiếm luôn đắt giá, dưa

ít đi thì giá lại cao ấy mà.

người nói xen rằng: Ít nhất cũng bằng giá thỏ hoang.

người nói: Cứt, con sống chắc chắn đắt hơn con chết.

người nói: Phét lác, thỏ hoang chẳng đáng mấy đồng. Nhan nhản khắp nơi.

người nói: Nhưng thỏ hoang khó bắt.

người nói: Khó bắt nhưng khó ăn.

Mỗi

người một câu, cuối cùng bên bảo dưa đắt và bên bảo thỏ đắt bắt đầu cãi lộn,

chẳng bên nào chịu thua, nhao nhao đưa ra các lý do vì sao thỏ đắt hoặc vì sao

dưa đắt, cãi nhau đến đỏ mặt tía tai, bên bảo thỏ đắt nói được mấy câu, trong

đám bảo dưa đắt đột nhiên có người đứng dậy, không biết rút được con dao từ

đâu, tự dưng quát lớn: Ông mày bảo dưa đắt, thằng nào bảo thỏ đắt hơn, ông mày

chém thằng đấy.

Tiếp

sau đó toán người nhặng xị lên cả, kẻ rút dao, người móc dao găm, người vác ghế

lên đánh, nháo nhào lao vào chém giết. Tôi và Hỷ Lạc thấy sự việc không liên

quan đến mình, lập tức rời ra ngoài quán đứng nhìn. Bên trong đúng là nhốn nháo

chưa từng thấy, mấy chục con người và hàng chục loại binh khí tạo thành một đám

hỗn loạn, vì trước đó chẳng ai quen biết nhau, sau khi trận thế đại loạn thì

chẳng biết ai vào với ai nữa, thành ra khó tránh khỏi việc kẻ cho rằng thỏ đắt

đánh một kẻ khác te tua, kẻ bị đánh te tua trước lúc tắt thở vẫn cố nói: Có

đánh chết tao vẫn bảo giá dưa đắt. Gặp tình huống ấy, đành phải nghiến răng

đánh chết kẻ đó. Sau cùng, mọi người đều bị đánh sưng cả mắt, song vẫn còn lý

trí chán, trước khi đánh vẫn hỏi: Thỏ hay dưa? Thấy bất đồng ý kiến mới ra tay.

Có một tên bảo thỏ đắt quay ra hỏi một người lạ: Thỏ hay dưa? Người kia định

nói: Dưa làm sao đắt hơn thỏ được. Song vừa thốt ra một từ, lập tức bị ghế đẩu

nện cho ngất lịm, tình cảnh thảm thê không nỡ nhìn, điều đó chứng tỏ trong giờ

phút hệ trọng nói năng không cần quá chú ý đến văn vẻ. Họ cứ thế đánh nhau,

cuối cùng người bị thương, người bị chết, người bị hôn mê, tất cả đều nằm bò ra

đất, chỉ còn lại một người cho rằng dưa đắt hơn vẫn có thể đứng vững, người đó

bò lên bàn, định nói gì đó thì phát hiện ra mình đã choáng váng rồi, không nhớ

rõ lập trường của mình rốt cuộc cho rằng thỏ đắt hay dưa đắt nữa, liền không

ngớt dằn vặt, đột nhiên phát hiện ở ngay dưới chân có kẻ bị mình đánh đến gần

hấp hối, thế là nghĩ nếu hỏi kẻ đó xem lập trường của hắn là gì, ắt sẽ biết lập

trường của mình, đoạn liền bước tới, tóm lấy người đó, hỏi: Thỏ hay dưa? Người

đó vốn cho rằng thỏ đắt, thấy kẻ thù lại lao đến, vì muốn giữ tính mạng, đành

giả bộ cùng phe với tên tráng sĩ, vội tráo lời, nói: Dưa, dưa đắt hơn. Tên kia

cười lớn, nện một đấm đánh ngất người kia, sau đó lại nhảy lên bục, quát những

tên nằm la liệt dưới đất: Ha ha, rốt cuộc thỏ vẫn đắt hơn!

Lúc

này, phía dưới có một vị nhân sĩ cho rằng dưa đắt hơn chân tay đều đã bị chặt

đứt, nhận ra người đứng trên bàn, biết rằng anh ta đã nhầm phe, bèn nhắc: Huynh

đệ! Huynh đệ! Huynh đệ nhầm rồi, là dưa đắt hơn!

Hậu quả

dĩ nhiên người vừa phát ngôn bị chém chết bởi một lưỡi dao.

Tôi và

Hỷ Lạc đều mắt tròn mắt dẹt.

Quan

binh mãi đến lúc này mới tới, tức tốc chế ngự tên kia, chia ra kẻ sống người

chết, tất tật khiêng tới Thành vụ phủ, sau đó những kẻ sống sót sau khi được

cứu sống đều bị giam ít nhất năm năm, nhiều nhất là hai mươi năm, có chín người

chết, tên tráng sĩ lầm lẫn kia vì là kẻ giết người cuối cùng, bị quan binh nhìn

thấy nên bị hạ lệnh tử hình, khi xử tử hắn vẫn còn hét lớn: Cả đời ta là một

hảo hán, muốn thế nào là thế nấy, nói thế nào là thế nấy, hôm nay các ngươi

giết ta, ta có ra ma vẫn nói thỏ đắt hơn! Hơn ba chục tên còn sống được phân

làm hai tốp nhốt vào trong ngục. Bất luận thế nào, phạt như vậy cũng không

nặng, mang theo kiếm đã bị phạt năm năm rồi, huống hồ lại đánh nhau tập thể

trong thành Trường An, gây ra chuyện lớn, làm chết đến chín người. Âu đó cũng

là việc sau này.

Sau khi

tận mắt chứng kiến màn ly kỳ đó, tôi và Hỷ Lạc cảm thấy rất hoang mang. Hỷ Lạc

nói, bởi chúng tôi từ nhỏ đã không sống trong xã hội, cho nên không thể lý giải

được cách nghĩ của những người ấy. Tôi nghĩ, tôi có thể hiểu được những gì họ

nghĩ, bởi đến lúc tức đỏ máu mắt lên, mọi người chẳng ai nghĩ gì nữa cả. Xét

toàn bộ sự việc này, tôi dường như nhìn ra ý nghĩa chân thực ở bình diện rộng

hơn. Hoặc giả có thể nói, thế giới này chẳng phải cũng như vậy đó sao.

điều, tôi cảm thấy việc bản thân mình bị đồn đại thành thần tiên rất thú vị.

Điều này lẽ nào cũng là thú vui của Vô Linh – Dương Chính Cương, trông thấy một

cái tôi hoàn toàn chẳng can hệ gì.

Lang

thang quanh các cửa hiệu một hồi, vầng dương đã dần chuyển đỏ, sắp núp sau

những tòa lầu hoa lệ. Rất nhiều cửa hiệu đóng cửa từ rất sớm, Hỷ Lạc không mua

gì cho mình cả, bảo rằng phải tiết kiệm. Sau đó chúng tôi đi khắp nơi tìm quán

trọ có giá thuê thích hợp, Hỷ Lạc thấy nếu có được một chỗ nghỉ chân, thì đỡ

phải đi tìm quán trọ, sẽ có thể tiết kiệm được một chút. Tôi nói, chắc chắn

phải tìm quán trọ, trừ phi ở mỗi một tòa thành đều có một chỗ ngồi nghỉ, nhưng

nếu được như vậy rồi thì có cần tiết kiệm nữa không?

Quán

trọ trong thành chia ra làm mấy hạng, hạng thượng đẳng thì không gọi là quán

trọ mà gọi là chủ lâu, bởi tiền phải trả cho mỗi tối nhiều nên từ khách biến

thành chủ. Toàn thành Trường An có ba chủ lâu, toàn quốc cũng chỉ có năm tòa,

mỗi toàn đều được các ông lớn trong Bộ Nội vụ đích tay đề cho một chữ “Tốt”, ý

nghĩa đương nhiên là rất tốt, chuyên dành cho các vị đại quan, quý tộc đến ở,

trước cổng canh gác thâm nghiêm, bên trong chỗ nào cũng có người phục dịch, lại

còn có sân vườn, có cầu nhỏ, suối mát, mỗi phòng rộng hơn hai trăm thước, được

trang trí hết sức tinh xảo, hoa lệ, mỗi tối phải chi trả năm mươi lạng bạc

trắng. Song ông chủ tòa lầu ấy không kiếm được nhiều tiền bằng ông chủ của các

quán trọ thông thường, chẳng qua có cái lợi là quen biết được nhiều vị yếu nhân

mà thôi. Bởi lẽ đại đa số các quý tộc đều có phủ đệ của riêng mình, nếu ra

ngoài công cán, dĩ nhiên họ sẽ làm việc với một quý tộc khác, vậy nên sẽ ở phủ

đệ của quý tộc đó. Chỉ có các quan đại thần mới ở chủ lâu, tuy nhiên thường thì

các quan đại thần toàn sử dụng hình thức giao dịch bồi hoàn tín dụng hoặc ghi

sổ nợ, chưa bao giờ thấy họ sử dụng tiền mặt, vậy nên ông chủ chủ lâu đành phải

dựng rạp vui chơi hát hò thật lớn, gọi những cô nương đẹp nhất trong toàn thành

lại, lúc ấy mới thấy tiền mặt, mới có thể bòn rút được một chút để gượng sống

qua ngày.

Hạng

thứ hai thì nhiều, đẳng cấp cũng khác nhau, hạng này trên biển hiệu được đề một

chữ “Thường”, tức là mọi thứ đều bình thường, thịt thà ăn vào về cơ bản không

phải thịt người, điểm này rất quan trọng, giá cả có thể không tới một phần

mười, người bình thường cũng ở được.

Hạng

thứ ba càng nhiều hơn nữa, hạng này không được đề bất cứ chữ gì, cũng rất có

thể là hắc đ**m, mấy chục người một phòng, tôi thấy chẳng thà ngủ dưới gốc cây

còn yên tâm hơn.

Chúng

tôi tìm lấy một quán trọ hạng hai, sau đó nhanh chòng nằm ngủ, nghĩ bụng đến

ngày mai còn phải đi lấy kiếm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.