Chương 3: Bếp Lửa Tro Nếp
Gió bấc rít từng cơn sau lưng khi Tố Oanh lao mình qua rặng nứa già xao xác. Cánh cửa liếp đan bằng nứa của gian lán rèn bỏ hoang rung lên bần bật dưới sức đẩy hấp tấp của nàng. Hơi ấm le lói phả ra từ lò than cũ kỹ chẳng đủ xua đi cái rét căm căm, nhưng vừa bước qua bậu cửa đất nện, đôi chân nàng như muốn khuỵu xuống vì kiệt sức.
“Bịch!”
Chiếc sọt tre trĩu nặng cùng bó vỏ cây Linh Dó sũng nước tuột khỏi tay nàng, rơi xuống nền đất phát ra tiếng trầm đục. Dòng nước suối băng giá rỉ qua kẽ áo đay thô ráp khiến bả vai và v*m ng*c nàng lạnh buốt, da thịt tê dại như bị kim châm. Thế nhưng đôi gò má Tố Oanh lại ửng hồng vì th* d*c, ánh mắt lấp lánh thứ ánh sáng rực rỡ đến nghẹn ngào.
Nơi góc lán, bên chiếc đe sắt sứt mẻ một góc, một bóng người gầy guộc đang ngồi lặng lẽ lau chùi lưỡi kiếm gãy. Trầm Mặc Chi ngẩng đầu lên, đôi mắt sâu thẳm sắc lạnh như kiếm giấu trong bao thoáng nét ngạc nhiên khi thấy nàng ướt đẫm từ đầu đến chân. Ngay cạnh đó, một thiếu niên nhỏ thó đang lom khom cời than bên lò liền nhảy cẫng lên, đánh rơi cả que cời củi.
“Tố Oanh tỷ! Tỷ vớt thứ rác rưởi ven suối này về làm gì cho ướt sũng hết cả người thế kia?” Tiểu Đậu Tử tròn xoe đôi mắt nhìn đống vỏ cây đen đúa lầy lội, nhanh nhảu chạy lại đỡ lấy cánh tay run rẩy của nàng, miệng không ngớt càu nhàu: “Hàn khí suối Thanh Hàn thấu tận tủy đấy, tỷ không muốn giữ mạng nữa sao?”
“Đậu Tử, tỷ không sao.” Tố Oanh lắc đầu, khóe môi khẽ run lên vì buốt lạnh nhưng nụ cười vẫn rạng rỡ. Nàng hít sâu một hơi, quay sang nhìn Trầm Mặc Chi. Người kiếm tu tàn phế lúc này đã buông tấm giẻ lau bạc màu, ánh mắt chăm chú dừng lại trên những dải xơ dài đang rỉ ra từng giọt nước suối trong veo.
“Trầm sư huynh…” Giọng nàng dù run rẩy vì giá rét nhưng từng lời thốt ra lại dõng dạc, rành mạch: “Hôm qua ở đầu dốc, huynh cũng thấy rồi đó. Lữ gia tăng giá bùa lên mười viên linh thạch, rõ ràng muốn dồn hàng vạn đệ tử nghèo vào chỗ chết nơi Đoạn Hồn Hạp. Da thú thì đắt đỏ khôn cùng, nhưng vỏ cây Linh Dó này ngâm dưới dòng hàn tuyền suốt mấy tuần trăng lại không hề mục rữa, trái lại giữ trọn vẹn mộc linh khí, càng lạnh lại càng dẻo dai. Muội muốn dùng nó để xeo giấy bùa!”
Lời nói vừa dứt, gian lán rèn bỗng chìm vào một khoảng lặng trầm mặc. Tiếng gió bấc rít qua khe nứa nghe như tiếng thở dài não nề của núi rừng cõi bắc.
Tiểu Đậu Tử há hốc mồm, chiếc que cời củi lăn lóc dưới chân: “Tỷ… tỷ bảo lấy vỏ cây Đan Viện vứt bỏ để làm bùa sao? Từ thuở lập tông đến nay, người ta chỉ dùng da Lôi Giác Ngưu hay Thiết Bì Trư để vẽ phù chú…”
“Da thú chứa hỏa khí xung khắc với băng tuyết, gặp hàn khí cực độ nơi hẻm núi tất sẽ nứt gãy.” Giọng nói trầm thấp của Trầm Mặc Chi vang lên, cắt ngang lời lầu bầu của cậu nhóc. Chàng đứng dậy, bước từng bước vững chãi đến bên đống vỏ dó ướt sũng. Bàn tay phải bị cụt nửa ngón trỏ khẽ vươn ra, ngón tay thô ráp chai sần lướt qua dải xơ trắng ngà vừa lộ ra dưới lớp vỏ ngoài xù xì.
Trầm Mặc Chi nhắm hờ mi mắt, lắng lòng cảm nhận luồng mộc linh nhu hòa đang lặng lẽ cuộn chảy trong từng thớ sợi. Hồi lâu sau, chàng mở bừng mắt, ánh nhìn sắc bén như ánh thép chiếu thẳng vào Tố Oanh: “Mộc khí thuần hậu, dẻo dai khôn cùng. Ý Tố Oanh rất hay, nhưng vỏ dó chứa nhiều chất chát nhớt, thớ xơ chằng chịt rối rắm, làm sao biến thành mặt phẳng để hạ bút?”
“Dùng nước tro rơm nếp linh cốc!” Ánh mắt Tố Oanh bừng lên niềm quả quyết, hai bàn tay siết chặt lấy nhau: “Thuở nhỏ ở quê nhà dưới chân núi, muội từng thấy những người thợ già hầm vỏ cây với tro rơm để tẩy sạch chất đắng nhớt bẩn thỉu mà không làm tổn hại thớ xơ. Sau đó giã nhuyễn trên cối đá, hòa vào nước suối băng rồi dùng vỉ nứa chao vớt. Muôn vạn sợi tơ tự khắc ken dày thành tờ giấy phẳng phiu, mịn màng!”
Trầm Mặc Chi nhìn sâu vào đôi mắt sáng ngời của nàng. Nơi đáy mắt phẳng lặng như mặt giếng thôn quê ấy không hề có sự bốc đồng của kẻ mơ mộng, mà rực cháy ngọn lửa kiên định của người dám đứng lên che chở cho đồng môn. Chàng không nói thêm một lời thừa thãi, chỉ khẽ gật đầu dứt khoát: “Được. Ta cùng nàng làm.”
Cái gật đầu trầm lặng của người kiếm tu thất thế tựa như tảng đá vững chãi neo giữ lòng Tố Oanh, khiến mọi nỗi âu lo trĩu nặng tức khắc tan biến.“Đậu Tử!” Trầm Mặc Chi quay sang nhìn thiếu niên đang đứng ngơ ngác: “Đến mấy khoảnh ruộng lúa tạp dịch gom rơm nếp linh cốc khô về đây. Gom càng nhiều càng tốt.”
“Dạ! Đệ đi ngay, đệ đi gom hết mấy đống rơm rạ sau mùa gặt về cho tỷ!” Cậu nhóc mười lăm tuổi bừng tỉnh, lanh chanh vỗ đùi đánh đét một cái rồi quay ngoắt người, lao vút ra ngoài trời tuyết giá như một con sóc nhỏ.
Trong gian lán rèn, hai người lập tức bắt tay vào việc. Trầm Mặc Chi sải bước ra rặng nứa già sau lán, ngắm nghía rồi chọn lấy những cây nứa đực thẳng tắp, thân óng vàng và dày cật. Chàng rút thanh kiếm gãy bên hông ra. Dù mũi kiếm đã gãy cụt và lưỡi kiếm lởm chởm vết sứt, nhưng khi kiếm ý sắc lẹm vận chuyển, từng đường kiếm hạ xuống vẫn ngọt xớt, chuẩn xác đến kinh ngạc. Chàng dùng bàn tay cụt nửa ngón giữ chặt gióng nứa, chẻ mỏng thành từng nan cật mảnh như sợi tóc, dẻo quánh không hề đứt đoạn. Từng nhát kiếm gọt giũa êm ru, uốn nắn bốn thanh gỗ đào phế liệu thành chiếc khung hình chữ nhật, rồi khéo léo đan bện các nan nứa thành một chiếc vỉ xeo phẳng phiu, khít khao đến mức một giọt nước cũng khó lọt qua mà không để lại lớp màng xơ.
Bên bậu cửa lán, Tố Oanh ngồi xổm bên chậu gỗ, bắt đầu tước vỏ dó. Nàng dùng một con dao con tỉ mẩn nạo bỏ lớp vỏ ngoài xù xì màu nâu đen, chỉ giữ lại phần xơ trong cùng trắng ngà, trơn nhẵn. Từng dải xơ mềm mại được bóc tách cẩn thận, vuốt phẳng rồi xếp ngay ngắn thành từng búi như những lọn tóc tiên bồng bềnh. Gió lạnh luồn qua khe liếp làm tóc mai bết dính vào vầng trán lấm tấm mồ hôi, bàn tay chai sần nứt nẻ vì sương muối rát buốt từng hồi, nhưng ngón tay nàng vẫn thoăn thoắt, nhịp nhàng. Nàng hiểu rõ, mỗi dải xơ được bóc tách chỉn chu lúc này chính là một sợi dây níu giữ sinh mạng cho đồng môn nghèo khó khi thú dữ tràn về.
Chẳng mấy chốc, ngoài cửa lán vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch. Tiểu Đậu Tử ôm về mấy bó rơm nếp linh cốc to tướng, thở hồng hộc nhưng hai má đen nhẻm tro bếp lại tươi như hoa. Rơm nếp của tiên môn vốn đượm linh khí mùa màng, khô ráo và vàng ruộm. Ba người cùng nhau chất rơm thành một đống lớn giữa khoảng sân đất nện rồi châm lửa đốt.
Ngọn lửa đỏ rực bùng lên reo tanh tách, xua bạt bóng tối mù mịt của buổi chiều tà. Từng cọng rơm lụi dần, hóa thành lớp tro mịn màng, xốp nhẹ và mang sắc trắng xám như phấn hoa. Tố Oanh lấy chiếc rây thưa cẩn thận lọc bỏ những mẩu than chưa cháy hết, chỉ giữ lại phần bột tro tinh khiết nhất.
Một chiếc vạc sắt lớn sứt quai được khiêng lên, đặt vững chãi trên ba hòn đá kiềng giữa lán. Tố Oanh cùng Đậu Tử múc từng gàu nước suối Thanh Hàn lạnh buốt đổ vào lòng vạc, rồi trút toàn bộ số tro nếp vừa thu được vào khuấy đều. Dưới đáy vạc, Trầm Mặc Chi chất củi khô nhen lửa. Ngọn lửa bập bùng l**m láp đáy sắt, chẳng mấy chốc nước trong vạc đã sôi sùng sục, bốc lên những cuộn hơi nước nghi ngút.
Chờ cho nước tro sôi trào, Tố Oanh mới nhẹ nhàng thả từng búi xơ dó trắng ngà vào vạc. Nàng dùng một thanh củi gỗ khuấy đảo nhịp nhàng để nước tro ngấm sâu vào từng thớ sợi. Chất chát nhớt trong vỏ cây gặp nước tro sôi liền từ từ tiết ra, hòa quyện với mùi thơm bùi ngai ngái của rơm rạ nếp nương, tỏa ngạt ngào khắp gian chòi nhỏ. Mùi hương mộc mạc, đậm chất điền dã ấy lạ lùng thay lại xua tan vẻ hoang tàn, lạnh lẽo vốn có của góc lán rèn bỏ hoang.
Màn đêm đông buông xuống tự lúc nào. Bão tuyết ngoài Đoạn Hồn Hạp gầm rít từng cơn, đập thình thình vào vách nứa run rẩy, nhưng bên trong lán rèn, ánh lửa than ấm áp lại bao bọc lấy ba bóng người đang ngồi quây quần.
Tiểu Đậu Tử dùng que cời củi bới từ trong đống tro nóng dưới đáy bếp ra mấy củ khoai lang nướng thơm lừng. Cậu nhóc xuýt xoa vì nóng, bẻ đôi củ khoai vàng óng ả, khói bốc lên ngùn ngụt rồi đưa sang cho Tố Oanh: “Tỷ ăn đi cho ấm bụng. Cả ngày nay tỷ chưa có hột cơm nào vào bụng, tay lạnh ngắt hết cả rồi.”
Tố Oanh đón lấy nửa củ khoai nướng, chia tiếp một mẩu cho Trầm Mặc Chi. Miếng khoai bùi bùi, ngọt lịm tan dần nơi đầu lưỡi, mang theo hơi ấm lan tỏa khắp lồng ngực như xua tan đi cơn đói cồn cào và nỗi nhọc nhằn suốt một ngày dài. Nàng đưa mắt nhìn đôi bàn tay cụt ngón chằng chịt vết sẹo của Trầm Mặc Chi, nhìn nụ cười lấm lem tro bếp của Tiểu Đậu Tử, trong lòng bỗng dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Giữa cõi tiên môn Thượng Sơn xa hoa mà lạnh lùng vô tình, ba mảnh đời tạp dịch nghèo khó lại đang cùng nhau chia sưởi từng tàn tro, nhen nhóm đốm lửa hy vọng mỏng manh.
Trầm Mặc Chi nhai chậm rãi mẩu khoai nướng, ánh mắt trầm lặng dõi nhìn vạc nước tro đang sôi ùng ục trên bếp lò. Bọt nước trắng xóa cuộn trào, nhấn chìm những sợi xơ dó mỏng manh vào đáy sâu tăm tối.
Ngọn lửa bập bùng soi bóng ba mảnh đời nghèo khó lên vách đất nứt nẻ, nhưng đáy vạc tro nếp đang sủi bọt cuồn cuộn kia liệu có tẩy sạch chất chát mà vẫn giữ trọn được mạch linh khí mong manh của vỏ dó hay không, lúc này vẫn là điều chưa ai dám chắc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
