Chương 2: Mầm Dó Bên Hàn Tuyền

Nén lại nỗi xót xa ngổn ngang trong lồng ngực, Tố Oanh ngồi bó gối trên chiếc chõng nứa, hai bàn tay đan chặt vào nhau để gom chút hơi ấm tàn. Căn chòi rách bên bờ suối Thanh Hàn rung lên theo từng cơn gió bấc. Cả đêm ấy, nàng hầu như không chợp mắt, tâm trí cứ đau đáu nghĩ về vết thương của tiểu đệ tử tuần tra và hiểm họa thú triều sắp giáng xuống hàng vạn môn đồ nghèo khó. Tấm Bùa Hộ Thân bằng da Lôi Giác Ngưu chắt chiu suốt ba năm đã trao đi, nàng không hề hối tiếc, nhưng sự độc quyền tàn nhẫn của Lữ gia như tảng đá đè nặng tâm can.

Khi tiếng chuông đồng từ đỉnh Thượng Sơn ngân dài qua màn sương giá báo hiệu canh tư, Tố Oanh dứt khoát ngồi dậy. Nàng thắp lại bếp lò bằng mớ bổi khô, uống ngụm nước ấm cho đỡ khô họng, rồi khoác chiếc áo đay thô bạc màu chi chít mảnh vá. Quàng dải khăn che kín cổ, nàng đeo sọt tre lên lưng, cầm chiếc liềm nhỏ bước ra ngoài. Là đệ tử tạp dịch dọn dẹp cho Đan Viện, mỗi sớm mai nàng đều phải ra bãi thải gom củi khô và vớt bã thảo dược ven suối để đổi lấy chút công điểm môn quy rẻ mạt.

Gió bấc rít từng cơn buốt nhói khiến sống mũi nàng cay xè. Thung lũng Thanh Hà chìm trong sương mù mịt mờ, cỏ dại ven lối mòn đông cứng lại như kim băng, giòn tan dưới đế giày cỏ. Tố Oanh cắm cúi men theo triền đá đến bãi phế phẩm phía sau Đan Viện. Nơi đây ngổn ngang cặn bã sau các lò luyện đan của Thượng Sơn: bã rễ cây mục nát, than xỉ cháy dở và mảnh vỡ lò đan. Nhưng chiếm trọn triền dốc kéo dài xuống mép suối Thanh Hàn lúc này lại là những đống vỏ cây Linh Dó khổng lồ, chất cao như gò đất xám xịt.

Linh Dó vốn là loài linh mộc sinh trưởng nơi vách đá Bắc Lĩnh. Đan Viện thu mua về chỉ để bóc lấy phần tủy trắng bên trong luyện chế Hồi Linh Đan, còn lớp vỏ xơ dày cộm bên ngoài bị vứt bỏ như cỏ rác, phơi mưa dãi tuyết rồi trôi tuột xuống mép nước suối băng. Tố Oanh đặt sọt tre lên tảng đá phẳng, bắt đầu nhặt nhạnh củi khô. Bất chợt, ánh mắt nàng dừng lại ở một hõm đá ngầm ngay mép xoáy nước cuộn xiết.

Một dải vỏ Linh Dó dài chừng nửa trượng bị kẹt giữa hai gờ đá sắc nhọn, chìm sâu dưới làn nước lạnh buốt. Nhìn lớp rêu xanh bám mỏng và màu xơ ngả sang vàng nhạt như ngà voi, dải vỏ này hẳn đã ngâm chìm dưới đáy hàn tuyền suốt mấy tuần trăng. Điều kỳ lạ là thớ vỏ không hề mục rữa thành bùn đen. Làn nước băng xối xả dường như chỉ gột sạch lớp vỏ thô ráp bên ngoài, để lộ những sợi xơ dài mảnh, óng ánh như tơ tằm dập dềnh theo sóng nước.

Lòng dâng lên nỗi tò mò, Tố Oanh xắn tay áo, quỳ gối trên tảng đá phủ sương rồi thò tay xuống dòng nước buốt giá. Hàn khí buốt nhói như nghìn mũi kim châm vào da thịt làm khớp ngón tay nàng cứng đờ. Cắn chặt môi điều động một tia linh lực mỏng manh xua bớt cái cóng, nàng nắm chặt lấy dải vỏ dó rồi dùng sức kéo mạnh lên bờ.

Dải xơ ướt sũng, nặng trĩu và dẻo quánh. Lớp vỏ ngoài đã bị dòng nước xiết bào mòn hoàn toàn chất chát nhớt nhát, chỉ còn lại lớp xơ trong cùng trắng ngà, trơn mịn. Tố Oanh nắm lấy hai đầu dải xơ, dồn hết sức bình sinh giật mạnh một cái. Sợi xơ căng lên phát ra tiếng “ken két” trầm đục nhưng không hề đứt gãy. Nàng kinh ngạc vặn xoắn dải vỏ như vặn thừng rồi giằng mạnh sang hai bên. Thớ xơ chỉ hơi giãn ra đôi chút, các sợi tơ li ti bện chặt vào nhau khăng khít lạ lùng, kiên cường chống lại lực xé.

“Dẻo dai đến bực này ư?” Nàng lẩm bẩm, hơi thở phả ra thành làn khói trắng xóa giữa trời đông.Không kìm được sự thôi thúc trong lòng, Tố Oanh áp chặt lòng bàn tay vào dải thớ dó ướt lạnh, khẽ khép mi mắt lại. Nàng lắng lòng, khơi gợi luồng mộc linh lực nhỏ nhoi nơi đan điền lan tỏa qua các đầu ngón tay. Ngay khoảnh khắc linh lực chạm vào thớ vỏ, một luồng sinh khí mát lành, thanh khiết từ dải xơ lập tức dội ngược lại, êm ái quấn quýt lấy ngón tay nàng. Luồng mộc khí ấy không hề hung bạo, mà thuần hậu, bền bỉ như mầm cỏ mùa xuân vươn lên qua kẽ đá.

Tố Oanh mở bừng mắt, lồng ngực đập thình thịch từng hồi rộn rã. Nàng hiểu ra rồi! Nước suối Thanh Hàn bắt nguồn từ mạch băng ngầm giá buốt tột độ, chính cái lạnh ấy đã làm đông cứng và khóa chặt mộc linh tính tự nhiên trong từng sợi xơ, ngăn không cho linh khí tiêu tán. Dòng nước chảy xiết qua hàng tuần trăng lại rửa trôi sạch cặn bã và vị đắng chát, khiến sợi xơ trở nên thuần khiết, dẻo dai khôn xiết.

Một tia chớp lóe lên trong đầu Tố Oanh, xua tan toàn bộ đám mây mù giăng kín suốt đêm qua. Hôm qua ở đầu dốc, nàng đã tận mắt thấy sự khốn cùng của đồng môn trước cái giá cắt cổ mười viên linh thạch cho một tấm Bùa Hộ Thân da Lôi Giác Ngưu. Da thú vừa đắt đỏ, vừa cứng quắt, lại mang tính hỏa; khi gặp phải hàn khí cực độ nơi Đoạn Hồn Hạp rất dễ nứt nẻ, đứt gãy mạch bùa. Nhưng sợi xơ dó này thì khác! Nó sinh ra từ vách đá cằn cỗi, được tôi luyện trong làn nước buốt giá, càng lạnh lại càng dẻo dai. Mạch xơ dọc ngang đan kết tự nhiên kia chẳng phải là đường dẫn linh khí tuyệt hảo hay sao?

Hồi còn ở quê nhà dưới chân núi, thuở cha mẹ chưa mất, Tố Oanh từng thấy những người thợ già trong làng ngâm vỏ cây, giã nhuyễn rồi dùng vỉ tre chao vớt trên bồn nước để xeo thành những tờ giấy mỏng tang mà bền chắc. Nếu như… nếu như nàng dùng vỏ cây Linh Dó này, đem ngâm ủ với nước tro rơm nếp linh cốc để tẩy sạch dầu chát, rồi dùng dòng hàn tuyền Thanh Hàn xeo thành từng tờ giấy bùa… Liệu có thể tạo ra loại giấy phù vừa rẻ mạt, vừa dẻo dai để cứu lấy mạng sống của hàng vạn đệ tử ngoại môn hay không?

Ý nghĩ ấy táo bạo đến mức khiến toàn thân Tố Oanh run lên. Nơi Thương Khê Tiên Tông, người ta chỉ biết dùng da linh thú quý hiếm để vẽ bùa, coi đó là con đường duy nhất của Phù Đạo. Chưa từng ai nghĩ đến việc dùng thứ phế phẩm bỏ đi nơi bãi thải ven suối để làm bùa cứu mạng. “Nhưng cỏ rác thì đã sao?” Ánh mắt Tố Oanh bừng sáng lên một ngọn lửa kiên định. “Trời đất sinh ra vạn vật, cớ sao chỉ có da thú máu thịt mới chở che được con người? Một sợi xơ dó mỏng manh đón gió thì đứt, nhưng nếu vạn sợi ken dày thành giấy, ắt sẽ chắn nổi bão giông!”

Không chút do dự, Tố Oanh dốc ngược sọt tre, trút toàn bộ số củi khô vừa nhặt xuống đất. Nàng lội ào xuống mép suối băng, đôi bàn tay buốt cóng không màng đến đau đớn, ra sức vớt từng dải vỏ Linh Dó ngâm lâu ngày đang dập dềnh dưới làn nước tuyết. Nàng cẩn thận chọn lựa những dải xơ dẻo dai nhất, nhét chật ních chiếc sọt tre sau lưng cho đến khi trĩu nặng. Vẫn thấy chưa đủ, nàng cúi xuống ôm chặt lấy một bó lớn vỏ dó ướt sũng vào trước ngực.

Nước suối băng giá từ bó vỏ ngấm qua lớp áo đay thô ráp, áp thẳng vào lồng ngực làm da thịt nàng tê dại, lạnh buốt như đóng băng. Thế nhưng đôi mắt Tố Oanh lại rực sáng một niềm tin mãnh liệt chưa từng có. Nàng xoay người, bước chân giẫm phầm phập lên lớp tuyết xốp lạnh buốt, gấp gáp chạy ngược về phía cuối thung lũng. Nơi đó, bên cạnh rặng nứa già xào xạc trong gió bấc, có gian lán rèn bỏ hoang của Trầm Mặc Chi – người duy nhất nàng tin rằng sẽ hiểu và cùng nàng mở ra con đường chưa từng ai dám bước.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.