Chương 9: Bóng Hình Trong Hộp Thiếc

Bóng lưng Gia Hòa khom xuống rồi chậm chạp xoay người đi về phía gian nhà kho. Bước chân anh nặng nề, đôi dép nhựa mòn lê trên nền sân đất nện, tiếng sột soạt nghe buồn tênh như tiếng chổi quét lá rụng.

Nguyệt vẫn đứng sau cánh cửa khép hờ. Dưới chân cô, chiếc hộp thiếc nằm im lìm trên bậu cửa gỗ lim. Mùi thuốc hãm phim khô khốc quen thuộc mà cô đã ngửi suốt hai mươi ba năm qua vẫn bốc lên nhàn nhạt, lẫn trong hơi sương sớm vùng bán sơn địa.

Nguyệt cúi xuống chạm vào thành hộp lạnh ngắt. Sức nặng của những cuộn phim bên trong khiến bàn tay quen cầm phấn của cô hơi trĩu lại. Nhấc hộp lui vào buồng, cô gài then gỗ. Tiếng then trượt ken két rồi chốt “cạch” một tiếng dứt khoát, ngăn cách hoàn toàn gian phòng nhỏ với bóng dáng xiêu vẹo ngoài sân.

Căn buồng thuở con gái của Nguyệt vẫn vậy, tối và mát, thoang thoảng mùi vôi cũ cùng hương bồ kết từ chái bếp hắt sang. Trên chiếc bàn con góc buồng, ngọn đèn dầu hỏa được cô vặn bấc lên liu riu, hắt vệt sáng tròn trịa xuống mặt chiếu cói. Cạnh chân đèn là chiếc kính lúp gọng sắt đã tróc mạ của ông Sửu — thứ ông vẫn hay dùng soi những dòng chữ li ti trên tờ báo xã.

Nguyệt kéo chiếc ghế đẩu lại gần, ngập ngừng mở nắp hộp thiếc. Một tiếng “tách” khô khốc vang lên. Gần hai chục cuộn phim ba mươi lăm ly nằm xếp thành hàng ngay ngắn, được buộc cẩn thận bằng những sợi nịt cao su ố vàng hoặc mẩu giấy báo quấn quanh.

Cô rút cuộn phim đầu tiên ở góc trái, gỡ sợi dây nịt mủn. Dải nhựa màu nâu sẫm cuộn tròn bung nhẹ ra trong lòng bàn tay. Nguyệt đưa dải phim lên trước bóng đèn dầu, tay kia cầm kính lúp soi sát vào từng ô hình nhỏ bằng hai ngón tay.

Dưới ánh sáng vàng vọt, những mảng màu đảo ngược hiện ra rõ rệt: nền trời sáng rực hóa thành mảng đen kịt, trong khi khuôn mặt và tà áo lại mang sắc xám trong veo. Nhưng dù ngược sáng và nhỏ xíu, Nguyệt vẫn nhận ra ngay bóng hình trong ô phim thứ tư.

Đó là cô. Cô giáo Nguyệt tuổi đôi mươi mảnh mai, đang tựa vào bậu cửa sổ lớp học tranh nứa thời sơ tán. Gió đồng lùa qua khung cửa làm mái tóc dài bay lòa xòa, tà áo cánh phập phồng, hai tay ôm cuốn sổ chấm điểm trước ngực. Ánh mắt trong ngần hướng ra khoảng sân trường ngập nắng, trong trẻo đến nao lòng.

Nguyệt khựng lại, ngực nghẹn ngào. Bức ảnh chụp khi nào? Mùa thu năm 1967 hay 1968? Ngày đó bom đạn gầm rú trên đầu, trường học phải khoét sâu vào chân đồi, cô mải miết dạy trẻ đánh vần, đâu ngờ có người đàn ông lẳng lặng nép sau rặng tre ngoài bờ mương, hướng ống kính Zenit nặng trịch về phía mình.

Kéo tiếp sang cuộn thứ hai, lại là bóng hình cô: lúc cúi đầu giặt áo bên bờ giếng đá; lúc ngồi bậc thềm gọt củ khoai lang; khi lại nghiêng người dỗ dành bé Thu Hằng trong nôi tre…

Những khoảnh khắc đời thường vụn vặt nhất mà bản thân cô cũng chẳng nhớ mình từng có dáng vẻ như thế, lại được thu trọn vào những dải nhựa âm bản này. Không có một tấm nào được rọi ra giấy ảnh. Chúng nằm im lìm trong bóng tối suốt mấy mươi năm, như một bí mật được niêm phong kỹ lưỡng.

Nguyệt bàng hoàng, chiếc kính lúp trên tay khẽ run run. Anh chụp những thứ này để làm gì? Để săn lùng những góc sáng nghệ thuật như lời đồng nghiệp tòa soạn hay tán tụng nhau, hay vì trong tâm trí anh thực sự có cô? Nếu có cô, cớ sao khi bước ra khỏi buồng tối, ngồi vào mâm cơm gia đình, ánh mắt anh lại trở nên đờ đẫn, vô hồn như thể người đàn bà trước mặt chỉ là một cái bóng vô hình?

“Nguyệt à.”

Tiếng gọi khe khẽ kèm theo tiếng đẩy liếp cửa kéo Nguyệt giật mình quay lại. Bà Thoa bước vào, vạt áo cánh nâu còn dính vài sợi rơm vàng. Thấy những dải phim nhựa trải trên mặt chiếu và chiếc kính lúp lấp lóa dưới đèn, bà thở dài thật khẽ rồi ngồi xuống mép chõng bên cạnh con gái.

Bà Thoa đưa bàn tay ram ráp đầy vết chai sần nhẹ nhàng phủ lên mu bàn tay đang lạnh ngắt của Nguyệt “Thằng Hòa ra kho ngồi đực mặt ra đó rồi,” bà Thoa nhỏ nhẹ nói, giọng trầm ấm đặc sệt chất Nghệ. “Mạ nhìn cái mặt nó tội quá. Nhưng mạ không trách con. Con khổ tâm thế nào, mạ hiểu.”

Nguyệt cúi đầu, ngón tay miết nhẹ lên mép dải phim trơn láng:“Mạ… con không hiểu anh ấy nghĩ gì nữa. Mang những thứ này đến đây để làm gì chứ? Chụp ngần này tấm hình mà hai mươi ba năm chưa từng hỏi con một câu cho ra hồn.”

Bà Thoa nhìn ngọn đèn dầu chập chờn, ánh mắt xa xăm trôi về khoảng trời ký ức xa lắc “Đàn ông, nhiều khi họ vụng về đến tàn nhẫn, con à. Ngày xưa bố con đi chiến trường về, cũng có khác chi đâu.”

Nguyệt ngước mắt nhìn mẹ. Xưa nay ông Sửu vốn là người kiệm lời nhất vùng, cả ngày chỉ cặm cụi ngoài đồng hoặc ngồi rít thuốc lào bên bờ ao, hiếm khi thấy ông bà trò chuyện to tiếng hay tình cảm.

“Hồi năm năm tư bố con phục viên về làng,” bà Thoa chậm rãi kể, giọng nghẹn lại như vừa nuốt khan. “Người lành lặn mà cái đầu như mất hồn. Đêm ngủ ổng hay giật mình thét lên, tay quờ quạng vớ góc chiếu ngỡ báng súng, miệng ú ớ gọi đồng đội hy sinh dưới chiến hào. Ban ngày lầm lũi làm việc như cái máy, mạ đứng cạnh đưa bát nước chè mà ổng giật bắn mình, trừng mắt như thấy người lạ.”

Bà Thoa mỉm cười xót xa, ngón tay vỗ nhè nhẹ lên mu bàn tay con gái “Mất ròng rã ba năm trời đấy con. Mạ cứ lẳng lặng nấu nước, giặt áo, đêm đêm thức chong đèn trông chừng. Ba năm ổng mới quen lại việc có vợ kề bên, mới biết quay sang nhìn xem người đàn bà nằm cạnh mình là ai. Đàn ông xứ mình ruột gan giấu kín như hũ nút, thương để trong lòng chứ có biết dỗ dành, ngọt nhạt bao giờ.”

Nguyệt cắn chặt môi dưới, nghe từng lời của mẹ thấm vào ngực buốt nhói “Nhưng anh Hòa không phải đi chiến đấu như bố. Anh ấy chỉ cắm đầu vào buồng tối với mấy tấm ảnh. Anh ấy bỏ quên con ngay trong chính ngôi nhà của mình…”

“Mạ biết,” bà Thoa siết nhẹ tay con gái, ánh mắt bao dung và cương nghị. “Mạ kể không phải để ép con phải nhẫn nhịn như mạ ngày xưa. Thời của con giờ đã khác. Chịu đựng hay dứt khoát, đi tiếp hay dừng lại, cái đó tùy ở lòng con. Mạ chỉ muốn con nhìn cho rõ, để sau này có bước đi đằng nào cũng không phải ôm mối ân hận.”

Bà Thoa đứng dậy, khẽ khàng vuốt lại mái tóc xõa bên vai Nguyệt rồi bước ra ngoài, khép cửa buồng lại, để lại không gian tĩnh mịch cho con gái.

Nguyệt ngồi trơ trọi bên ngọn đèn dầu. Lời mẹ như dòng nước xoáy khuấy đảo tâm can cô. Cảm giác bàng hoàng ban nãy nhường chỗ cho một nỗi ngổn ngang khó tả: có sự rung động xót xa khi biết mình từng được nâng niu qua từng góc máy, nhưng xen lẫn đó vẫn là nỗi nghi ngại chưa thể nguôi ngoai. Liệu đây là tình yêu đích thực hay chỉ là thói quen nghề nghiệp của một người say mê ánh sáng?

Nguyệt thở dài, cẩn thận cuốn từng dải phim nhựa lại như cũ. Đôi bàn tay cô làm thật chậm, nâng niu từng mép phim để tránh làm xước bề mặt nhựa mỏng manh. Cô xếp hai cuộn phim vào lại vị trí cũ bên trong chiếc hộp thiếc, đậy nắp lại nghe “cạch” một tiếng nhỏ, rồi cất chiếc hộp vào góc chõng tre.

Suốt cả ngày hôm ấy, Nguyệt giam mình trong gian buồng vắng với trăm mối tơ vò, cho đến khi đêm Can Lộc về khuya tĩnh mịch đến nao lòng. Tiếng gió đầu hè xào xạc lùa qua rặng tre sau nhà, thi thoảng chen lẫn tiếng ếch nhái râm ran từ những chân ruộng trũng vọng lại. Ngọn đèn dầu đã tắt, căn buồng chìm vào bóng tối dày đặc.

Nguyệt nằm nghiêng trên chiếc chiếu cói mát rượi, trở mình trằn trọc không sao chợp mắt. Ngoài kia, trong gian nhà kho lợp ngói âm dương xập xệ, người đàn ông ấy có lẽ cũng đang thao thức trên đống rơm khô.

Nhắm mắt lại, nhưng bóng hình người con gái đôi mươi với tà áo bay bên khung cửa sổ lớp học trong dải phim âm bản cứ chập chờn hiện lên trước mắt Nguyệt. Ô phim ngược sáng ấy như một câu hỏi nhức nhối bị bỏ lửng giữa đêm sâu, không biết đến khi nào mới tìm được lời giải đáp.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.