Chương 6: Đêm Ở Làng Trại Hạ
Gia Hòa cẩn thận gấp vuông vức chiếc khăn mùi xoa, miết phẳng nếp gấp viền thêu chỉ màu cánh sen rồi nhét sâu vào túi áo ngực. Lớp vải phin nõn áp sát lồng ngực, mang theo hơi ấm mỏng manh cùng mùi hoa bưởi khô vương vấn giữa mùi mồ hôi và khói bụi đường trường. Anh cài chặt chiếc cúc áo nhôm sờn chỉ, siết lại quai ba lô, rồi gạt chân chống chiếc Phượng Hoàng bước lên bàn đạp.
Bánh xe lăn vào bóng tối đặc dần của con đường liên huyện hướng về Can Lộc. Rời khỏi thị xã Hà Tĩnh, mặt đường nhựa lở loét nhường chỗ cho những vệt đất đỏ gồ ghề sống trâu. Gió từ rặng Hồng Lĩnh phía xa thổi thốc qua những cánh đồng vắng ngắt, mang theo hơi ẩm ngai ngái của cỏ dại và bùn non. Xích líp xe đạp khô dầu rít lên từng hồi kẽo kẹt dưới sức nặng của hơn hai mươi cây số dồn vào bắp chân đã căng cứng. Đèn pin gá ghi đông chập chờn, vệt sáng vàng vọt chỉ đủ soi vài mét đất mấp mô phía trước. Có những đoạn đường trâu đi lầy lội, anh phải nhảy xuống dắt bộ, bùn đất bám chặt lấy vành xe, nặng trịch như muốn níu chân người.
Đầu gối Gia Hòa nhức buốt. Mấy chục năm làm phóng viên ảnh, anh từng lội ruộng, trèo đèo, đội pháo sáng chụp nhà máy, bến phà, nhưng chưa bao giờ thấy một chặng đường dài và đơn độc đến thế này. Càng đạp xe trong đêm tối, hình ảnh Nguyệt lặng lẽ dọn dẹp căn nhà tập thể càng hiện lên rõ mồn một. Anh nhớ cái dáng cô ngồi chấm bài bên ngọn đèn dầu thời chiến, nhớ tiếng thở dài rất khẽ bị tiếng máy ảnh lên cò lấn át. Hóa ra, khoảng cách giữa hai con người ngồi chung một mâm cơm còn xa xôi hơn cả hai mươi cây số đường đất đêm nay.
Gần mười giờ đêm, tiếng chó sủa rộ lên từ đầu làng Trại Hạ báo hiệu anh đã tới nơi. Ngôi làng nép mình dưới chân đồi, chìm trong sự tĩnh mịch của vùng quê bán sơn địa. Gia Hòa quẹo xe vào con ngõ quen, hàng rào râm bụt xanh rì cắt tỉa gọn gàng hiện ra mờ ảo dưới ánh trăng thượng tuần. Ngôi nhà ngói ba gian của bố mẹ vợ đã tắt ngọn đèn ngoài hiên, chỉ còn đốm sáng tù mù hắt qua khe liếp cửa sổ buồng trong.
Gia Hòa dựng chiếc xe đạp bết đầy bùn đất vào gốc cây ổi cạnh bờ rào, đưa tay gõ nhẹ lên cánh cổng tre. Tiếng then cài cọt kẹt khô khốc vang lên giữa đêm khuya.
Một bóng người cao gầy, lưng hơi còng nhưng bước chân vững chãi từ trong bóng tối hiên nhà bước ra. Ngọn đèn bão trên tay ông cụ hắt lên gương mặt sạm nắng, quắc thước với đôi mắt sâu hoắm từng trải qua bao năm du kích thời kháng chiến.
“Bác…” Gia Hòa ngập ngừng gọi, cổ họng khô khốc. “Cháu… cháu mới về tới.”
Ông Sửu đứng lặng bên mép cổng. Ngọn đèn bão trong tay ông khẽ chao, quét qua vạt áo bám đầy bụi đỏ, chiếc quần xắn ống cao ống thấp lem luốc bùn đất và đôi vai sụp xuống vì kiệt sức của người con rể. Ánh mắt ông dừng lại hồi lâu trên chiếc máy ảnh Zenit bọc da sờn đeo chéo trước ngực Gia Hòa.
Không có một tiếng quát tháo, cũng chẳng có lời trách móc hay câu hỏi han niềm nở nào. Sự im lặng của người lính già nặng trịch như một tảng đá đè xuống khoảng sân gạch. Ông Sửu cứ đứng nhìn Gia Hòa như thể đang quan sát một kẻ lạ mặt đi lạc vào vườn nhà mình.
Mãi một lúc sau, ông cụ mới hạ ngọn đèn bão xuống ngang hông, khẽ hất cằm về phía góc sân “Dắt xe vô. Đêm hôm không có cơm nước chi mô. Ra kho mà nằm.”
Nói đoạn, ông quay lưng đi thẳng vào nhà chính, cánh cửa gỗ khép lại sau lưng buông ra một tiếng “cạch” lạnh lùng.
Gia Hòa thở hắt ra một hơi dài, vừa nhẹ nhõm lại vừa trĩu nặng. Anh tháo chiếc ba lô nặng trịch sau yên xe, dắt chiếc Phượng Hoàng vòng ra gian nhà kho lợp ngói âm dương nằm nép dưới bóng râm của rặng chuối sau vườn.
Căn nhà kho ngập mùi bồ hóng bám trên xà tre, mùi rơm rạ khô ủ từ vụ gặt trước quyện với mùi gỉ sét của lưỡi cày bừa, bắp ngô treo gác bếp. Góc nhà kê một tấm phản gỗ lim đã nhẵn bóng qua bao mùa vụ, bên trên trải manh chiếu cói rách mép. Gia Hòa cẩn thận tháo chiếc máy ảnh Zenit đặt lên đầu phản, nơi khô ráo nhất, rồi mới dám buông mình nằm vật xuống.
Lưng chạm vào mặt gỗ cứng ngắc, toàn thân anh rã rời như vừa bị tháo tung từng khớp xương. Hai bắp chân co rút từng cơn. Gia Hòa vắt một tay lên trán, mắt nhìn trân trân lên những thanh rui mè ám khói mờ ảo trong bóng tối.
Đêm ở làng quê thanh vắng đến mức nghe rõ từng tiếng dế rỉ rả dưới chân móng đất và tiếng lá chuối xào xạc cọ vào mái ngói ngoài vườn. Căn nhà kho ngăn cách với gian buồng trong của ngôi nhà chính chỉ bằng một bức vách đất trát rơm đã nứt nẻ vài đường chân chim.Từ bên kia vách, tiếng xì xào rất khẽ bắt đầu lọt qua khe hở.
Gia Hòa nín thở, bất giác nghiêng tai về phía vách đất.
Đó là tiếng của bà Thoa và Nguyệt. Hai mẹ con dường như đang ngồi cạnh nhau bên mép giường, tiếng thì thầm chìm nổi trong đêm muộn.
“…Con tính rốt cuộc là mần răng?” Giọng bà Thoa trầm ấm, pha chút thở dài xót xa của người mẹ. “Thằng Hòa nó đạp xe lần mò về tới tận đây, mặt mũi bơ phờ rứa…”
Tiếng Nguyệt đáp lại, nhỏ giọt, như thể từng lời phải rút ra từ tận đáy lòng trĩu nặng “Mạ đừng nhắc đến chuyện nớ nữa. Con mệt lắm rồi.”
Ngừng một nhịp, tiếng sột soạt của manh chiếu cói cọ vào nhau, rồi giọng Nguyệt lại cất lên “Hai mươi mấy năm, con đâu có thiếu miếng cơm hay tấm áo. Nhưng ở trong cái nhà nớ, con thấy mình giống như cái bóng không hồn. Lúc con đau ốm, lúc con buồn tủi, anh ấy chỉ thấy ánh sáng ngoài cửa sổ, thấy góc chụp này đẹp, góc chụp tê sáng… Người ta lấy chồng để có người sẻ chia, còn con lấy anh ấy… giống như con chỉ là người trông nhà cho buồng tối tráng phim của anh ấy thôi.”
Từng câu, từng chữ của Nguyệt không hề gay gắt, không có nửa phần oán hận hay gào thét. Giọng cô đều đều, chùng xuống ở cuối câu, mang theo một nỗi mỏi mòn tích tụ qua hơn hai mươi năm đằng đẵng.
Nằm co ro trên tấm phản lạnh, ngực Gia Hòa thắt lại. Một cơn nhói buốt lan từ lồng ngực chạy dọc sống lưng, buốt nhức hơn cả cơn đau cơ bắp sau chặng đường dài. Suốt hai mươi ba năm qua, anh quen nghe tiếng màn trập nảy cộc một tiếng khô khốc, nghe tiếng đồng hồ hẹn giờ reo leng keng trong buồng tối, nghe tiếng Thu Hằng líu lo lúc nhỏ. Nhưng anh chưa từng một lần thực sự lắng tai nghe xem giọng nói của vợ mình có âm sắc ra sao. Anh cứ ngỡ sự lặng lẽ của Nguyệt là nết na, sự cam chịu của cô là bình yên. Anh đâu biết đằng sau sự im lìm đó là một vực sâu cô độc mà chính sự vô tâm của anh đã khoét rỗng từng ngày.
Hai mắt Gia Hòa cay xè. Anh đưa bàn tay thô ráp lên ngực, chạm vào gờ nổi của chiếc khăn mùi xoa trong túi áo. Mùi hoa bưởi thanh khiết vẫn phảng phất, nhưng giờ đây nó khiến cổ họng anh nghẹn ứ. Bên kia vách đất, tiếng thì thào thưa dần rồi tắt hẳn, chỉ còn lại tiếng thở dài khe khẽ của bà Thoa và tiếng gió lùa qua kẽ liếp.
Gia Hòa trằn trọc suốt đêm, chập chờn thiếp đi trong nỗi ân hận ngổn ngang.
Khi trời vừa tờ mờ sáng, sương sớm phả hơi lạnh buốt qua các khe cửa kho. Gia Hòa cựa mình ngồi dậy, toàn thân ê ẩm. Ngoài sân, tiếng gà gáy le te rộ lên báo hiệu ngày mới.
Bỗng có tiếng bước chân nhẹ tênh giẫm trên lớp lá khô ngoài bậu cửa.
Cánh cửa kho khẽ cọt kẹt hé mở một khoảng hẹp, rọi vào vệt sáng ban mai nhàn nhạt. Bà Thoa bước tới, trên tay bưng một chiếc bát sành bốc khói nghi ngút. Bà cúi người, lặng lẽ đặt bát cháo hoa nóng hổi xuống bậc cửa rồi quay lưng đi vào nhà, không nói nửa lời.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
