Chương 7: Giải Mã Minh Văn Chữ Hán

Khoảng lặng đặc quánh bỗng chốc bao trùm lòng Hang Cóc Cổ sau tiếng gõ đanh gọn của cụ Trì Thuần Nhân. Lê Thảo Lam khẽ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực phập phồng buông bớt nỗi thắt thỏm đè nặng suốt mấy canh giờ qua. Tiếng nước nhỏ giọt từ vòm nhũ đá tí tách rớt xuống phiến đá tai mèo ẩm ướt, âm vang nghe rõ mồn một giữa bầu không khí vừa được giải thoát khỏi cơn ác mộng.

Bên ngoài cửa hang, tiếng xì xào kinh ngạc của đám đông dân làng Thung Nham bắt đầu rộ lên, rồi nhanh chóng dịu lại khi Đại úy Tuấn bước ra hiệu cho bà con giữ trật tự. Lam nhìn theo bóng dáng người chiến sĩ công an, thầm cảm kích sự kiên quyết của anh đã giữ cho hiện trường không bị giẫm đạp tan hoang.

Ở phía trong, TS. Hoàng Minh vẫn đứng chết lặng, ánh mắt sau tròng kính cận dán chặt vào mẩu dạ mềm màu xám tro đang cắm ngập nơi kẽ nứt dưới bệ rùa. Anh nuốt khan một ngụm nước bọt, lắp bắp “Cụ Nhân… chỉ một miếng dạ mềm mà dập tắt được luồng chấn động âm học này sao ạ? Máy quang phổ và cảm biến đo đạc của chúng cháu hoàn toàn không ghi nhận được tần số dao động lạ này…”

Cụ Nhân khẽ mỉm cười, đôi nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại đượm vẻ hiền từ. Cụ chậm rãi quỳ gối, hai ngón tay gầy guộc nắm lấy mép nêm dạ, nhẹ nhàng rút lùi ra chừng nửa phân. Tức thì, một luồng gió lạnh từ lòng kẽ nứt lại rít lên rin rít, âm thanh the thé như tiếng huýt sáo nghẹn tắc lùa qua kẽ răng. Cụ lại ấn nhẹ đầu ngón tay đẩy miếng nêm khít vào miệng đá, âm thanh kia lập tức ngưng bặt.

“Không có ma quái nào ở đây cả, anh Minh à,” cụ Nhân từ tốn cất giọng trầm ấm. “Lòng núi Thung Nham này vốn chứa một mạng lưới rỗng chằng chịt. Kẻ gian đã khoét một khe hẹp xiên từ sườn núi dẫn thẳng vào hốc rỗng dưới bụng rùa đá. Khi giông bão nổi lên, áp suất chênh lệch đẩy luồng khí thốc qua khe hẹp với tốc độ cao, biến lòng rỗng của bệ rùa thành buồng cộng hưởng âm thanh. Khe hẹp rung lên như lưỡi gà của chiếc kèn dã chiến, phát ra tiếng rên rít phì phò. Lão dùng nêm dạ mềm là để triệt tiêu độ rung của thớ đá, bít đường gió thoát thì âm thanh ắt phải im bặt.”

Lam chăm chú lắng nghe, trong lòng dâng lên niềm thán phục vô hạn trước tri thức thực chứng của người nghệ nhân trăm tuổi. Những nỗi hoang mang kinh sợ từng bóp nghẹt tâm trí cô bỗng chốc tan biến như sương mai gặp nắng.

Cụ Nhân quay sang Lam, đôi mắt ánh lên vẻ khích lệ “Nào, cô bé. Nỗi sợ đã tan rồi thì việc của người làm nghề mới thực sự bắt đầu. Cháu lấy cọ lông mềm ra đây, quét sạch lớp bụi trên mặt bia xem tiền nhân gửi gắm điều gì.”

“Dạ, cháu làm ngay đây ạ!”

Lam sốt sắng mở hộp đồ nghề bảo tồn chuyên dụng mang bên hông, cẩn thận lấy ra chiếc cọ lông sóc mềm mại và đôi găng tay vải trắng. Cô hít sâu một hơi, bước từng bước thận trọng đến sát bệ tượng rùa đá.

Trước mắt Lam, tấm thạch bi thời Đinh sừng sững cao ba thước năm tấc, rộng chừng hai thước, toát lên vẻ thâm nghiêm cổ kính ngàn năm. Chất đá vôi xanh nguyên khối được đẽo gọt vuông vức, viền quanh mặt bia chạm nổi những dải hoa văn mây lửa cuộn tròn đan xen hình sóng nước, nét chạm phóng khoáng mang đậm hào khí của buổi đầu lập quốc thế kỷ X. Dưới lớp rêu phong và màng bụi đá bám phủ qua năm tháng, những hàng chữ Hán khắc chìm hiện lên ngay ngắn, tôn nghiêm.

Lam đưa tay cầm cán cọ, nhẹ nhàng quét từng đường ngắn theo chiều dọc thân bia. Từng lớp bụi mịn màu tro xám bay tản mác, để lộ ra những nét khắc sâu hoắm, đanh thép. Đôi mắt Lam say mê dõi theo từng nét chữ chân phương, cảm giác như đang chạm vào hơi thở của lịch sử cách đây hơn một ngàn năm.

Cụ Nhân chắp tay sau lưng, chậm rãi bước tới đứng cạnh cô học trò nhỏ. Đôi mắt tinh tường của cụ lướt qua các hàng minh văn, khẽ gật đầu phân tích:“Cháu nhìn cho kỹ nhé. Toàn bộ chữ khắc trên tấm thạch bi này đều là chữ Hán cổ, viết theo thể chân phương chuẩn mực của chiếu lệnh triều đình thời vua Đinh Tiên Hoàng. Chữ khắc dứt khoát, tôn nghiêm, tuyệt nhiên không hề có sự xuất hiện của chữ Nôm. Chữ Nôm của người mình mãi đến những thế kỷ sau này mới dần định hình và phổ biến trong văn khắc dân gian. Tấm bia này đích thực là một bảo vật vô giá của triều chính Hoa Lư.”

“Vâng ạ, nét chữ đĩnh đạc và chuẩn mực vô cùng,” Lam khẽ đáp, lòng rộn rã niềm tự hào nghề nghiệp.

Thế nhưng, khi ngọn cọ lông quét đến góc dưới của mặt bia, động tác của Lam chợt khựng lại. Nơi rãnh khắc của hai chữ “Tử” và “An”, một lớp màng dịch quánh đặc màu đỏ sẫm vẫn đang bám chặt, nổi bật một cách ma quái trên nền đá xanh xám. Đêm qua, chính dòng dịch đỏ này đã thẩm thấu ngược qua thớ giấy dó rập thử nghiệm, gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ cho cả đoàn khảo cổ.

Cụ Nhân ghé sát mắt nhìn, chỉ ngón tay khẳng khiu vào rãnh chữ “Đấy, cháu xem. Dân làng nhìn thấy vệt đỏ này liền bảo thạch bi ứa máu báo điềm gở. Nhưng chữ ‘Tử’ này trong ngữ cảnh văn bia thời Đinh thường nằm trong cụm từ ước định lòng trung, còn chữ ‘An’ là cầu cho quốc thái dân an, hà cớ gì lại rỉ máu dọa người?”

Lam rút que gạt thủy tinh tiệt trùng, cẩn thận cạo nhẹ một chút chất nhầy đỏ quánh nơi góc chữ “Tử” đặt lên đầu ngón tay bọc găng. Đưa mẫu chất lên gần tầm mắt, cô chăm chú quan sát dưới ánh đèn bão màu vàng ấm.

Chất dịch này hoàn toàn không giống máu tươi. Nó không hề đông kết thành màng vảy khô giòn như huyết tương động vật khi tiếp xúc với không khí lạnh, mà duy trì trạng thái dẻo quánh tựa như lớp keo hồ cô đặc. Khi Lam khẽ miết hai đầu ngón tay, chất nhầy tách ra thành những sợi tơ mảnh li ti, tỏa ra một thứ mùi hăng nồng, tanh lợm đặc trưng của nấm mốc mục rữa trong hốc tối, quyện lẫn với mùi chua nhẹ của tinh bột gạo nếp lên men từ lớp hồ dán giấy dó dở dang đêm trước.

“Cháu nhận ra rồi, thưa cụ!” Lam reo khẽ, ngước mắt nhìn cụ Nhân. “Thứ này không phải máu! Nó là chất keo hữu cơ biến tính. Mùi hôi này chính là mùi bào tử nấm mục gặp phải tinh bột hồ nếp ẩm!”

“Khá lắm, cô bé,” cụ Nhân hài lòng mỉm cười, giọng trầm xuống đầy vẻ suy tư. “Đó là thứ nấm chu sa thạch nhĩ mọc sâu trong những vách đá yếm khí ẩm thấp ngàn năm. Bình thường, bào tử khô của nó chỉ là lớp bụi mịn màu xám tro, lẩn khuất không ai nhận ra. Nhưng hễ gặp được hồ nếp ướt và độ ẩm cao, bào tử lập tức hút ẩm trương nở, tiết ra d*ch nh*n màu đỏ tươi như máu sống. Kẻ gian đã tính toán vô cùng hiểm độc khi lợi dụng đặc tính này để bôi trét vào rãnh chữ, biến kỹ thuật rập bia cổ truyền thành cái bẫy dọa người.”

Càng nghe cụ giải thích, ngọn lửa tò mò và trách nhiệm trong lòng Lam càng thôi thúc mãnh liệt. Cô quyết định phải tìm bằng được chứng cứ xác thực nhất để chứng minh sự can thiệp của bàn tay con người.

Lam rút chiếc kính lúp phóng đại chuyên dụng có tích hợp đèn rọi cực nhỏ từ ngăn túi dã chiến. Cô hạ thấp người, áp sát mặt kính vào sát đáy rãnh khắc của chữ “Tử”. Ánh sáng trắng gom lại thành một luồng hội tụ, rọi sáng từng chi tiết li ti của thớ đá vôi xanh cổ kính.

Và rồi, ngay khi tiêu cự kính lúp vừa vặn rõ nét, cả người Lam bỗng cứng đờ.

Dưới tròng kính phóng đại cao, đáy rãnh chữ Hán ngàn năm không hề mang bề mặt phong hóa tự nhiên hay vết mòn lồi lõm của thời gian. Đập vào mắt cô là những đường cào xước nham nhở, sắc lẹm, phơi ra màu đá non trắng bệch hoàn toàn đối lập với lớp rêu đá xám cổ kính chung quanh. Đó là những vết cạo gãi bằng mũi dao thép hoặc lưỡi kim loại sắc bén mới toanh, ngang nhiên khoét sâu vào đáy rãnh chữ để mở rộng chỗ nhồi nhét lớp bột nấm độc hại.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.