Chương 13: Truyền Lửa Sân Phơi

Lê Thảo Lam ôm chặt chiếc tay nải vải thô trước ngực, bước vội theo bóng lưng gầy nhưng thẳng thớm của cụ Trì Thuần Nhân. Con đường mòn lát đá xám uốn lượn dưới chân vách núi tai mèo sầm sập tối khi mây đen từ phía biển đùn về nghẽn cả khoảng trời thung lũng. Từng luồng gió giật thốc qua ngọn cây, cuốn theo những đám lá khô bay rào rào dưới chân đá. Vậy mà bước chân người nghệ nhân trăm tuổi trên đôi guốc mộc vẫn gõ đều đặn, khoan thai như chẳng hề màng tới giông gió sau lưng.

Căn nhà ba gian lợp ngói mũi hài của cụ nép mình thanh tịnh dưới chân một vách đá rợp bóng cây cổ thụ. Vừa bước qua cánh cửa gỗ lim lên nước bóng sẫm, Lam cảm thấy như toàn bộ bầu không khí ngột ngạt, bức bối ngoài kia lập tức bị bỏ lại phía sau. Một mùi hương ấm áp, thanh tao lạ lùng ùa tới quấn quýt lấy khứu giác cô. Đó là sự hòa quyện mộc mạc giữa mùi giấy dó mới hong khô kiệt, hương the nồng ngai ngái bốc lên từ chậu nước tro củi bưởi ủ ấm nơi góc hiên, cùng mùi thơm sâu lắng, trầm mặc của thỏi mực tàu hảo hạng lưu niên. Dưới mái hiên dài, hàng chục tờ thác bản chữ Hán cổ kính được kẹp ngay ngắn trên gióng tre cật, lay nhẹ theo ngọn gió thoảng.

Cụ Nhân đặt chiếc gậy trúc vào góc cột, châm ngọn đèn dầu hỏa trên chiếc bàn gỗ mộc. Ánh lửa vàng rực bập bùng soi tỏ gương mặt đôn hậu với chòm râu bạc như cước. Cụ kéo chiếc ghế mây con cho Lam ngồi rồi rót một bát nước vối nóng đẩy về phía cô, giọng trầm ấm “Uống ngụm nước cho ấm bụng đã, cô bé. Bỏ hết những xao động, sợ hãi ngoài hang sâu lại sau cánh cửa. Bước vào chốn này, chỉ có ta với chữ nghĩa của tiền nhân.”

Lam nâng bát nước vối, hơi ấm từ lớp gốm mộc lan tỏa vào lòng bàn tay khiến những ngón tay đang cứng đờ vì căng thẳng của cô dần mềm lại. Cô đưa mắt nhìn quanh gian nhà đầy ắp những kệ gỗ xếp từng tệp giấy mỏng tang nhưng dai dẻo, rồi dừng lại ở phiến đá xanh xám hình chữ nhật đặt trang trọng chính giữa gian nhà.

Cụ Nhân khẽ vuốt chòm râu, ánh mắt sáng rực nhìn cô học trò nhỏ “Lão nhìn thấy trong mắt cháu ngọn lửa say nghề từ ngày đầu bước chân vào hang. Nhưng nghề rập thác bản cổ này, lòng nhiệt tình thôi chưa đủ. Bài học vỡ lòng của tiền nhân dạy rằng: tâm người chạm vào đá phải phẳng lặng như mặt nước giếng khơi không gợn sóng. Hơi thở trong lồng ngực phải hòa làm một với từng nhịp gõ của chổi nỉ bọc da mềm. Một nhịp thở gấp gáp, một thoáng nghĩ ngợi vẩn vơ, thớ giấy ngậm nước lập tức rách nát; một đường tay hời hợt, chữ ngàn năm sẽ nhạt nhòa, biến dạng.”

Lam chăm chú lắng nghe, từng lời cụ nói như rót thẳng vào tâm khảm. Cô gật đầu thật khẽ, cảm nhận được sức nặng vô hình đằng sau từng câu chữ giản dị.

Cụ Nhân đứng dậy, chậm rãi bước tới góc gian nhà, mở chiếc rương gỗ dổi đã lên nước nâu sẫm qua năm tháng. Cụ nâng niu nhấc ra một bọc vải điều đã ngả màu sáp ong. Khi lớp vải điều mở ra, bên trong là một thếp giấy dó thượng hạng mỏng mịn như lụa cùng một chiếc chổi dập nỉ cán bằng gỗ mun tiện tròn, đầu bọc lớp da hoẵng mềm mại đã sờn bóng theo thời gian.

“Cháu có biết vì sao chiều nay lão lại quyết định đưa cháu về đây không?” Cụ Nhân khẽ hỏi, ánh mắt đượm vẻ hoài niệm xa xăm.

Lam khẽ lắc đầu, trong lòng dâng lên nỗi hồi hộp mơ hồ.

“Mùa đông năm 1946,” cụ Nhân chậm rãi kể, giọng nói như vọng về từ một miền ký ức xa xôi, “khi lão mới hai mươi ba tuổi, theo cha lặn lội vào Hang Cóc Cổ rập văn bia bí mật trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, đất trời cũng mưa gió lạnh thấu xương như hôm nay. Ngày ấy, để có thứ giấy đặc biệt vừa dai bền, vừa không bị rữa nát khi ngâm nước tro nóng, một nghệ nhân trẻ tuổi làng giấy Phong Khê bên sông Đuống đã gánh bộ hàng trăm dặm đường, vượt qua bao trạm gác để mang giấy vào tận cửa hang chi viện cho thợ đá Ninh Bình. Người thanh niên ấy mang họ Lê, sau này chính là ông ngoại của cháu.”

Lam chết lặng. Lồng ngực cô thắt lại, hai mắt cay xè. Cô nhớ lại những ngày ấu thơ bên sân phơi giấy của ông ngoại, nhớ lời dặn dò run rẩy trước lúc lâm chung của ông về một người nghệ nhân họ Trì ở chốn cố đô nghìn năm văn vật. Thì ra, sợi dây liên kết vô hình giữa gia đình cô và cụ Nhân đã được dệt nên từ gần tám mươi năm trước bằng máu, mồ hôi và tình yêu tha thiết với di sản tiền nhân. Nước mắt Lam lặng lẽ lăn dài trên má, rơi xuống mu bàn tay.

Cụ Nhân đặt chiếc chổi nỉ cán mun vào tay Lam, bàn tay gầy guộc phủ đầy vết chai sần của cụ siết nhẹ những ngón tay thon nhỏ của cô học trò:“Mối duyên giữ chữ của tổ tiên đã đưa cháu trở lại nơi này. Đêm nay, lão chính thức nhận cháu làm đệ tử chân truyền, trao lại y bát nghề rập của dòng họ Trì. Nào, gọi lão một tiếng thầy.”

Lam nghẹn ngào, quỳ gối ngay ngắn trước phiến đá mộc, dập đầu thành kính “Thầy... Cháu xin bái thầy!”

“Được rồi, đứng lên đi cháu,” cụ Nhân mỉm cười đôn hậu, ánh mắt lấp lánh niềm vui rạng rỡ của người tìm thấy bến đỗ trao truyền sau cả thế kỷ cô đơn gìn giữ. “Đêm còn dài, nhưng kẻ gian ngoài kia sẽ không để ta thảnh thơi. Hãy bắt đầu từ phiến đá tập này.”

Dưới ánh đèn dầu ấm áp, cụ Nhân bắt đầu uốn nắn cho Lam từng thao tác nhỏ nhất. Cụ chỉ cho cô cách dùng gáo dừa múc nước tro ngâm vỏ bưởi đào và bồ kết còn âm ấm, nhẹ nhàng tưới đều lên tờ giấy dó mỏng manh. Dưới bàn tay hướng dẫn của cụ, Lam học cách nâng niu thớ giấy ngậm no nước tro kiềm nhẹ, trải phẳng phiu lên phiến đá tập mà không để sót lại một bọt khí li ti nào.

“Thả lỏng bả vai,” giọng cụ Nhân vang bên tai, trầm tĩnh và dứt khoát. “Ngón trỏ đặt dọc sống chổi, ngón cái tì nhẹ làm điểm tựa. Nhấp... nhấp... rồi buông. Hãy để lớp da mềm tự nương theo rãnh đá.”

Lam hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại một khắc để xua tan mọi tạp niệm, rồi mở mắt nhìn thẳng vào rãnh chữ Hán cổ khắc trên mặt đá xanh. Cô điều hòa hơi thở theo nhịp tim, hạ chổi nỉ xuống. Từng tiếng “bập... bập... bập...” vang lên đều đặn, êm ái như tiếng chày giã gạo xa xa trong đêm vắng. Dưới từng thế vỗ uyển chuyển của Lam, thớ giấy ẩm ngoan ngoãn lún sâu, ôm khít từng nét sổ, nét móc sắc sảo của chữ tiền nhân mà không hề rách dù chỉ một sợi tơ.

Tiếp đó, cụ Nhân trao cho cô chiếc đệm bông chấm mực tàu đen nhánh. Lam giữ cổ tay thật vững, chấm nhẹ từng hạt mực mịn màng lên phần giấy nổi. Màu đen sâu thẳm của mực tàu phủ kín nền đá, làm bừng sáng những đường nét chữ màu trắng tinh khôi chìm sâu phía dưới.

Cẩn thận bóc tờ giấy ra khỏi phiến đá, Lam nín thở nâng bức thác bản đầu tay lên trước ngọn đèn dầu. Từng dòng chữ Hán hiện lên sắc sảo, thanh thoát như rồng múa phượng bay, phẳng phiu tuyệt mỹ, thơm ngát mùi thảo mộc quyện mực tàu.

Cụ Nhân nhìn bức rập, gật đầu mỉm cười mãn nguyện “Tốt lắm. Tay cháu đã có hồn, tâm cháu đã vững vàng. Ngày mai, chúng ta có thể tự tin đặt giấy lên tấm thạch bi ngàn năm ngoài Hang Cóc Cổ...”

Lời cụ chưa dứt thì chiếc điện thoại đặt trong túi áo khoác của Lam bỗng rung lên bần bật, kèm theo hồi chuông báo động dồn dập, chói gắt.

Lam giật mình, vội vàng bấm nút nhận cuộc gọi. Vừa áp máy vào tai, giọng nói hớt hải, th* d*c vì chạy gấp của Tiến sĩ Hoàng Minh đã vang lên nghẹt thở trong loa “Lam ơi! Nguy rồi! Trạm máy phát điện dã chiến ngoài cửa Hang Cóc Cổ vừa bị kẻ gian dùng kìm cắt đứt phăng đường dây cáp chính! Toàn bộ khu vực cửa hang đã mất điện hoàn toàn!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.