Chương 22: Kỷ Vật Nơi Lòng Sông

Ba hồi giật dứt khoát nơi sợi dây bảo hiểm vừa truyền lên boong, người trinh sát hoa tiêu lập tức reo lớn “Đã tiếp cận cửa khoang hầm! Đáy bùn ổn định!”

Thượng úy Đặng Văn Vũ siết nhẹ bờ vai gầy của Toàn, quay sang người chỉ huy kỹ thuật phát lệnh đanh gọn qua bộ đàm “Cho sà lan cứu hộ áp sát, thả cáp tời chuyên dụng!”

Cần cẩu vươn cánh tay thép sừng sững ra mặt vực Đụn. Tiếng máy tời gầm lên từng chặp trầm đục, dây cáp bọc cao su từ từ chìm sâu xuống lòng nước đục ngầu theo sợi dây tiêu màu dạ quang Toàn vừa cắm mốc. Trên bờ đê xóm Bãi, từ sáng sớm bà con đã kéo nhau đứng kín mép bãi bồi, nín thở dõi theo từng chuyển động ngoài lòng sông.

Khoảng hai mươi phút sau, mặt nước cuộn lên từng đợt sóng tròn xao động. Một đầu lóng gỗ sưa đồ sộ trồi lên khỏi ngấn phù sa. Bùn non cùng rong rêu bám quanh thân gỗ từ từ rẽ sang hai bên, để lộ lớp vỏ màu nâu sẫm ánh tím, tỏa ra một làn hương thơm nồng nàn quyện vào gió sớm sau bão.

“Lên rồi! Lóng thứ nhất!” Tiếng vỗ tay, trầm trồ vang dội từ bờ bãi lẫn mạn thuyền công vụ.

Từng lóng sưa đỏ dài hơn hai sải tay lần lượt được tời cẩu kéo lên sàn nhôm của sà lan cứu hộ. Mười một lóng gỗ quý nằm sừng sững, đanh chắc như những khối ngọc ngâm bùn suốt hơn bảy mươi năm. Toàn bước lại gần, bàn tay nhỏ bé lần theo từng thớ vát. Nơi đầu mộng lóng thứ ba, cậu thấy rõ vết đục chìm hình chiếc thước kẹp bắt chéo lưỡi chàng—dấu mộc riêng của cha Thịnh khắc vội trước đêm định mệnh năm năm trước.

Đội thợ lặn tiếp tục thay phiên nhau lặn xuống, đưa lên từng thùng gỗ đựng bát đĩa gốm lam, ấm đồng cùng nhiều vật dụng sinh hoạt thời xưa còn vương bùn non để trinh sát lập biên bản kiểm kê.

Bất chợt, mặt nước mép mũi tàu sủi bọt trắng xóa. Người đội trưởng thợ lặn trồi lên, cởi phăng mặt nạ dưỡng khí, hai tay nâng cao một chiếc hộp sắt cứu hộ nhỏ bọc kín bằng vải bạt dầu đã ố vàng.

“Báo cáo Thượng úy! Tìm thấy chiếc hộp này cài chặt trong hốc vách ngăn buồng lái, ngay cạnh dấu mộc thước kẹp!”

Thượng úy Vũ đón lấy chiếc hộp ướt sũng phù sa, cẩn thận đặt lên bàn gấp dã chiến trước mặt hai ông cháu Toàn. Ông Khiêm run rẩy sờ vào lớp vỏ hộp han gỉ, giọng nghẹn lại “Hộp cứu hộ chống nước của thằng Thịnh… Hồi đi lặn cứu đò năm ấy, nó luôn đeo bên hông.”

Bằng chiếc kìm chuyên dụng, chú Vũ nhẹ nhàng cậy nắp chốt bằng đồng đã hoen ố vì ngâm nước lâu ngày. Lớp gioăng cao su bở tơi rơi ra, để lộ tấm vải nỉ đỏ bọc kín một vật dài chừng hai gang tay. Khi tấm nỉ được mở hé, sắc ánh kim vàng sẫm của đồng thau kết hợp với vân gỗ trắc đen nhánh bừng sáng dưới ánh mặt trời rạng rỡ.

Đó là chiếc thước kẹp thợ mộc tám tấc gia truyền.Thân thước nặng trịch, phẳng phiu, hai hàm kẹp khít rịt không một khe hở. Nhờ lớp mỡ tráng bảo quản kỹ lưỡng trước khi đóng hộp, mặt kim loại vẫn sáng bóng, từng vạch khắc tấc, phân hiện lên rõ mồn một. Ngay chính giữa rãnh trượt khảm gỗ trắc nhẵn thín, một dòng chữ nhỏ được đục tỉ mỉ bằng mũi chàng mảnh“Gửi con trai Tạ Vĩnh Toàn.”

Toàn run rẩy đưa hai bàn tay nhỏ bé đón lấy cây thước kẹp. Kim loại mát lạnh áp vào lòng bàn tay chai ráp vì dằm gỗ của cậu, nhưng từ sâu trong thớ gỗ trắc lại tỏa ra một hơi ấm kỳ lạ, thân thuộc đến xé lòng. Mùi dầu rái mộc—mùi mồ hôi áo thợ của cha năm năm trước như ùa về, quấn quýt quanh đầu mũi.

“Cha ơi…”

Tiếng gọi nghẹn ngào bật ra khỏi cổ họng. Toàn quỳ sụp xuống sàn boong, ôm chặt chiếc thước kẹp vào lòng ngực non nớt, nước mắt tuôn trào lã chã thấm ướt mặt đồng. Cậu không còn nghe thấy tiếng máy tời gầm rú, không còn thấy cái buốt giá của gió sông sau cơn lũ. Mọi oan khuất, mọi lời gièm pha độc ác về bóng ma đòi mạng bến Mộc đè nặng lên tuổi thơ cậu suốt năm năm qua dường như tan biến theo từng giọt nước mắt ấm nóng.

Ông Khiêm quỳ xuống cạnh cháu, vòng đôi cánh tay gầy guộc chằng chịt vết sẹo kéo neo ôm trọn Toàn vào lòng. Đôi vai còng của người thợ già rung lên bần bật “Thịnh ơi… con ơi! Con giữ trọn lời thề người thợ bến sông rồi… c* Toàn của con lớn thật rồi!”

Thượng úy Vũ đứng nghiêm trang, đưa tay lên vành mũ chào người thợ mộc đã khuất, đôi mắt cương trực rưng rưng niềm cảm phục.

Khi hai ông cháu vừa gượng dậy, dưới lòng vực Đụn lại nổi lên một hồi bọt khí dữ dội. Người thợ lặn số hai ngoi lên mạn thuyền, gương mặt tái nhợt vì xúc động, giọng lạc đi qua ống liên lạc “Báo cáo chỉ huy… sâu bên trong vách ngăn ngập bùn ở đáy buồm năm 1945… chúng tôi phát hiện nhiều bộ hài cốt người bị kẹt lại dưới xà gỗ gãy!”

Không khí trên boong tàu chùng xuống ngột ngạt. Lực lượng cứu hộ lập tức chuyển sang chế độ trang nghiêm. Từng bọc di cốt của những nạn nhân vô danh trong thảm kịch đắm thuyền hơn bảy mươi năm trước lần lượt được đội thợ lặn cẩn trọng đưa lên mặt nước.

Tấm vải bạt trắng tinh khôi phủ nhẹ lên từng phần hài cốt vừa trở về từ đáy sông sâu thẳm. Ông Khiêm chắp hai bàn tay thô ráp trước ngực, cúi đầu lầm rầm khấn nguyện, tiếng thở dài xót xa hòa vào tiếng sóng vỗ ì oạp nơi mạn thuyền.

Thượng úy Vũ khẽ đặt tay lên vai Toàn, ánh mắt hướng về phía chiếc sà lan tang vật của Lợi “Sứt” đang bị phong tỏa ngoài xa, giọng trầm xuống đầy kiên quyết “Người đã khuất được về với đất mẹ, lòng tham và tội ác của kẻ bất lương sẽ phải trả giá trước pháp luật. Sự thật về bến sông này sẽ được sáng tỏ hoàn toàn, cháu Toàn ạ.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.